Nhiều ngân hàng tăng mạnh lãi suất huy động
Với mong muốn bổ sung thêm nguồn vốn trung, dài hạn để phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh cuối năm, đồng thời giảm...
Bùng nổ nhượng quyền thương hiệu vào Việt Nam
Hoạt động nhượng quyền đang được giới kinh doanh vận dụng để đưa các thương hiệu nước ngoài vào thị trường Việt Nam. Ngoài lĩnh...
6 ngành kinh tế phát triển mũi nhọn khu vực miền Trung
Có 6 lĩnh vực kinh tế biển, ven biển đang được các tỉnh miền Trung tập trung phát triển và đã đạt được những kết...
91.9% doanh nghiệp lạc quan về hoạt động sản xuất 6 tháng cuối năm
Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có tỷ lệ doanh nghiệp dự báo về khối lượng sản xuất khả...
Việt Nam chuyển dần từ nhập siêu sang xuất siêu với CPTPP
Với hầu hết các hiệp định thương mại (FTA) đã ký, Việt Nam thường nhập siêu, thì nay, khi thực hiện CPTTP, trong 7 tháng...
Giải đáp pháp luật
Quy định mới về nghiệp vụ quản lý nợ công
Trả lời

Ngày 30/06/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 94/2018/NĐ-CP quy định về nghiệp vụ quản lý nợ công. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2018.
Theo đó, Nghị định số 94/2018/NĐ-CP quy định một số nội dung cụ thể như sau:
1. Chỉ tiêu an toàn nợ công được xây dựng trên cơ sở định hướng về kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 05 năm; tình hình thực hiện các chỉ tiêu an toàn nợ công giai đoạn 05 năm trước; tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ tiết kiệm nội bộ của nền kinh tế; cân đối thu, chi, bội chi ngân sách Nhà nước. Khi chỉ tiêu an toàn nợ công đạt ngưỡng cảnh báo về an toàn nợ công, Bộ Tài chính trình Chính phủ hoặc báo Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội các biện pháp để bảo đảm chỉ tiêu an toàn nợ công không vượt trần nợ công.
2. Rủi ro đối với nợ công bao gồm rủi ro về lãi suất, tỷ giá ngoại tệ do biến động trên thị trường tài chính; rủi ro thanh khoản do thiếu các tài sản tài chính có tính thanh khoản để thực hiện đầy đủ, kịp thời các nghĩa vụ nợ đến hạn theo cam kết, bao gồm khả năng trả nợ của ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương; rủi ro do biến động thị trường tài chính ảnh hưởng đến việc huy động vốn dẫn đến phải đảo nợ với chi phí cao hoặc mất khả năng đảo nợ; rủi ro tín dụng do đối tượng được vay lại, đối tượng được bảo lãnh không trả được nợ đầy đủ, đúng hạn; các loại rủi ro khác có thể ảnh hưởng đến an toàn nợ công.
Việc đánh giá rủi ro được thực hiện định kỳ gắn với kế hoạch vay, trả nợ công 5 năm, chương trình quản lý nợ công 3 năm và kế hoạch vay, trả nợ công hằng năm. Trên cơ sở đánh giá rủi ro, Bộ Tài chính đề xuất các giải pháp để phòng ngừa rủi ro đối với nợ công; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đề xuất các giải pháp để phòng ngừa rủi ro đối với nợ của chính quyền địa phương.
Căn cứ vào đánh giá rủi ro và mức độ ảnh hưởng của rủi ro đối với từng khoản nợ hoặc với danh mục nợ, Bộ Tài chính xây dựng đề án cơ cấu lại nợ, trình Thủ tướng Chính phủ quyết định và tổ chức thực hiện; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh báo cáo Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định phương án cơ cấu lại nợ của chính quyền địa phương và tổ chức thực hiện.
Thông qua những quy định chi tiết và cụ thể về nghiệp vụ quản lý nợ công, Nghị định số 94/2018/NĐ-CP được kỳ vọng sẽ nâng cao tinh thần trách nhiệm, kỹ năng chuyên môn, cũng như tăng cường hiệu quả công tác quản lý nhà nước của các cơ quan và cá nhân có thẩm quyền.

Bản tin pháp luật số 27/2018
Trả lời

Quy định mới về tài sản cố định tại cơ quan, tổ chức, đơn vị
Trả lời

Ngày 07/05/2018 Bộ Tài Chính đã ban hành Thông tư số 45/2018/TT-BTC hướng dẫn chế độ quản lý, tính hao mòn, khấu hao tài sản cố định tại cơ quan, tổ chức, đơn vị và tài sản cố định do Nhà nước giao cho doanh nghiệp quản lý không tính thành phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Thông tư này có hiệu lực vào ngày 02/07/2018.
Theo đó Thông tư số 45/2018/TT-BTC quy định chi tiết về phạm vi tài sản cố định tính hao mòn, khấu hao. Cụ thể, các tài sản cố định tại đơn vị sự nghiệp công lập phải trích khấu gồm:
1. Tài sản cố định tại đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư;
2. Tài sản cố định tại đơn vị sự nghiệp công lập thuộc đối tượng phải tính đủ khấu hao tài sản cố định vào giá dịch vụ theo quy định của pháp luật;
3. Tài sản cố định của đơn vị sự nghiệp công lập không thuộc phạm vi quy định tại điểm a, điểm b khoản này được sử dụng vào hoạt động kinh doanh, cho thuê, liên doanh, liên kết mà không hình thành pháp nhân mới theo quy định của pháp luật.
Như vậy, có thể thấy Thông tư số 45/2018/TT-BTC đã quy định chi tiết về danh mục tài sản cũng như thời gian sử dụng và tỷ lệ hao mòn tài sản cố định hữu hình sử dụng trong các doanh nghiệp, điều này góp phần vào việc quản lý, sử dụng hiệu quả các loại tài sản này, tránh thất thoát không đáng có trong các doanh nghiệp.

Quy định về đầu tư của nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục
Trả lời

Ngày 06/06/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 86/2018/NĐ-CP quy định về hợp tác, đầu tư của nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 01/08/2018.
Theo đó, Nghị định số 86/2018/NĐ-CP quy định về đầu tư của nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục như sau:
1. Loại hình cơ sở giáo dục có vốn đầu tư nước ngoài
– Cơ sở đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn.
– Cơ sở giáo dục mầm non.
– Cơ sở giáo dục phổ thông (trường tiểu học, trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông, trường phổ thông có nhiều cấp học).
– Cơ sở giáo dục đại học.
– Phân hiệu của cơ sở giáo dục đại học có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
2. Thời hạn hoạt động: Thời gian thực hiện dự án không quá 50 năm, tính từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư nhưng không dài hơn thời hạn thuê đất.
3. Điều kiện về vốn để thành lập cơ sở giáo dục có vốn đầu tư nước ngoài
– Dự án đầu tư thành lập cơ sở giáo dục mầm non phải có suất đầu tư ít nhất là 30 triệu đồng/trẻ (không bao gồm các chi phí sử dụng đất). Tổng số vốn đầu tư ít nhất được tính toán căn cứ thời điểm có quy mô dự kiến cao nhất. Kế hoạch vốn đầu tư phải phù hợp với quy mô dự kiến của từng giai đoạn.
– Dự án đầu tư thành lập cơ sở giáo dục phổ thông phải có suất đầu tư ít nhất là 50 triệu đồng/học sinh (không bao gồm các chi phí sử dụng đất). Tổng số vốn đầu tư ít nhất được tính toán căn cứ thời điểm có quy mô dự kiến cao nhất, nhưng không thấp hơn 50 tỷ đồng.
– Dự án đầu tư thành lập cơ sở đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn phải có suất đầu tư ít nhất là 20 triệu đồng/học viên (không bao gồm các chi phí sử dụng đất). Tổng số vốn đầu tư ít nhất được tính toán căn cứ thời điểm có quy mô dự kiến cao nhất.
– Dự án đầu tư thành lập cơ sở giáo dục đại học phải có tổng số vốn đầu tư tối thiểu là 1.000 tỷ đồng (không bao gồm các chi phí sử dụng đất). Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là chủ đầu tư dự án thực hiện việc chứng minh khả năng tài chính theo quy định của Luật đầu tư. Đến thời điểm thẩm định cho phép thành lập trường đại học, giá trị đầu tư phải thực hiện được trên 500 tỷ đồng.
– Dự án đầu tư xin thành lập phân hiệu của cơ sở giáo dục đại học có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam phải có vốn đầu tư tối thiểu là 250 tỷ đồng (không bao gồm các chi phí sử dụng đất). Đến thời điểm thẩm định cho phép thành lập phân hiệu trường đại học, giá trị đầu tư phải thực hiện được trên 150 tỷ đồng.
– Đối với các cơ sở giáo dục có vốn đầu tư nước ngoài không xây dựng cơ sở vật chất mới mà chỉ thuê lại hoặc do bên Việt Nam góp vốn bằng cơ sở vật chất sẵn có để triển khai hoạt động thì mức đầu tư ít nhất phải đạt 70% các mức quy định nêu trên.
Như vậy, so với các văn bản trước đó, Nghị định số 86/2018/NĐ-CP đã đặt ra các yêu cầu cao hơn đối với điều kiện về vốn đầu tư, nhằm mục đích nâng cao tính ổn định, bề vững của các dự án đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục.

Tháo gỡ vướng mắc trong thủ tục giải ngân vốn đầu tư công
Trả lời

Ngày 24/05/2018, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 52/2018/TT-BTC sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2016/TT-BTC ngày 18/01/2016 quy định về quản lý, thanh toán vốn đầu tư sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước, Thông tư số 108/2016/TT-BTC ngày 30/06/2016 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2016/TT-BTC ngày 18/01/2016. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 10/07/2018.
Theo đó, Thông tư số 52/2018/TT-BTC đã có những sữa đổi, bổ sung đáng chú ý như sau:
1. Mở rộng phạm vi và đối tượng điều chỉnh:
Trước đây, một số dự án có tính chất đặc biệt (cụ thể gồm: các dự án đầu tư xây dựng công trình hạ tầng kinh tế xã hội của các huyện nghèo; các dự án đầu tư thuộc ngân sách cấp xã và các dự án do cấp xã làm chủ đầu tư; các dự án đầu tư thuộc kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng, các dự án đầu tư sử dụng vốn trái phiếu chính phủ) được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ áp dụng cơ chế quản lý đặc thù theo quy định tại các Thông tư riêng. Tuy nhiên, hiện nay tất cả các dự án đầu tư sử dụng vốn từ nguồn Ngân sách Nhà nước đều được quy định thống nhất quản lý chung.
2. Bổ sung quy định đối với các công trình đặc thù, cụ thể là:
Thông tư số 52/2018/TT-BTC quy định các dự án đầu tư công trình bí mật nhà nước do các bộ, ngành và địa phương quản lý, Kho bạc Nhà nước chỉ kiểm soát về tính phù hợp, đầy đủ của chứng từ rút vốn và chuyển tiền theo đề nghị của chủ đầu tư. Các cơ quan và chủ đầu tư phải chịu trách nhiệm về việc kiểm soát nội dung thanh toán và hồ sơ của dự án.
3. Sửa đổi quy định về quản lý, thanh toán vốn đầu tư công:
Thông tư số 52/2018/TT-BTC quy định bổ sung một số nguyên tắc tạm ứng vốn nhằm tăng cường kiểm soát công tác thu hồi tạm ứng, do nhiều trường hợp nhà thầu không quay lại thực hiện thủ tục thu hồi hết số vốn đã tạm ứng và tất toán tài khoản tại Kho bạc Nhà nước do giá trị thanh toán khối lượng hoàn thành chưa đạt tới 80% giá trị hợp đồng, mặc dù nhà thầu đã được thanh toán gần hết giá trị hợp đồng.
Như vậy có thể thấy, Thông tư số 52/2018/TT-BTC đã có những sửa đổi, bổ sung quan trọng, qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện chủ trương đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công của Chính phủ, đồng thời góp phần đảm bảo tính minh bạch trong hoạt động của các cơ quan tài chính từ Trung ương tới địa phương.

Đối tượng được hỗ trợ tiền sử dụng sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi
Trả lời

Ngày 30/06/2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 96/2018/NĐ-CP quy định chi tiết về giá sản phẩm, dịch vụ thủy lợi và hỗ trợ tiền sử dụng sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2018.
Theo Nghị định số 96/2018/NĐ-CP, các đối tượng được hỗ trợ tiền sử dụng sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi bao gồm:
1. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp để sản xuất cây lương thực bao gồm:
– Toàn bộ diện tích giao để sản xuất cây lương thực, bao gồm cả đất được thừa kế, cho tặng, nhận chuyển quyền sử dụng đất;
– Toàn bộ diện tích đất nông nghiệp phục vụ nghiên cứu, sản xuất thử nghiệm; diện tích đất trồng cây hàng năm có ít nhất một vụ lúa trong năm. Diện tích đất trồng cây hàng năm có ít nhất một vụ lúa trong năm bao gồm đất có quy hoạch, kế hoạch trồng ít nhất một vụ lúa trong năm hoặc diện tích đất có quy hoạch, kế hoạch trồng cây hàng năm nhưng thực tế có trồng ít nhất một vụ lúa trong năm.
2. Hộ gia đình, cá nhân nghèo theo quy định được Nhà nước giao sử dụng đất nông nghiệp.
3. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất để làm muối.
4. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp trong hạn mức để trồng rau, màu, mạ; cây công nghiệp dài ngày, cây công nghiệp ngắn ngày kể cả cây vụ đông; cây ăn quả; hoa; cây dược liệu; nuôi trồng thủy sản (trừ nuôi trồng tại hồ, đập, sông, suối, đầm…); chăn nuôi.
5. Hộ gia đình, cá nhân là nông trường viên đã nhận đất trong hạn mức được giao khoán ổn định của công ty nông nghiệp, công ty lâm nghiệp (nông, lâm trường quốc doanh) để sản xuất nông nghiệp theo quy định của pháp luật.
6. Tổ chức, cá nhân làm nhiệm vụ tiêu, thoát nước khu vực nông thôn và đô thị trừ vùng nội thị.
7. Tổ chức, cá nhân làm nhiệm vụ thoát lũ, ngăn lũ, ngăn triều cường, ngăn mặn, đẩy mặn, rửa mặn, rửa phèn, giữ ngọt tại địa bàn.
Như vậy, có thể thấy, so với các văn bản trước đây, Nghị định số 96/2018/NĐ-CP đã bổ sung thêm các đối tượng được hỗ trợ giá dịch vụ công ích thủy lợi, qua đó, Nghị định này được kỳ vọng sẽ thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa việc ứng dụng thủy lợi vào phát triển sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và diêm nghiệp.

Quy định mới về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và tập trung kinh tế
Trả lời

Ngày 12/06/2018, Quốc hội ban hành Luật cạnh tranh số 23/2018/QH14 với nhiều điểm mới so với Luật cạnh tranh năm 2004. Luật cạnh tranh năm 2018 có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2019.
Theo đó, Luật cạnh tranh năm 2018 có một số nội dung mới đáng chú ý như sau:
1. Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia sẽ đánh giá tác động hoặc khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh dựa vào các yếu tố như: Mức thị phần của các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận; rào cản gia nhập, mở rộng thị trường; hạn chế nghiên cứu, phát triển, đổi mới công nghệ hoặc hạn chế năng lực công nghệ; giảm khả năng tiếp cận, nắm giữ cơ sở hạ tầng thiết yếu; gây cản trở cạnh tranh trên thị trường thông qua kiểm soát các yếu tố đặc thù trong ngành, lĩnh vực liên quan đến các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận…
2. Thời hạn được miễn trừ đối với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh: 05 năm kể từ ngày có quyết định hưởng miễn trừ.
3. Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia đánh giá tích cực của việc tập trung kinh tế căn cứ vào một trong các yếu tố hoặc kết hợp giữa các yếu tố như: Tác động tích cực đến việc phát triển của ngành, lĩnh vực và khoa học, công nghệ theo chiến lược, quy hoạch của Nhà nước; tác động tích cực đến việc phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa; tăng cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Như vậy, có thể thấy, Luật cạnh tranh năm 2018 đã quy định rõ các yếu tố là cơ sở để Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia đánh giá tác động cạnh tranh, đánh giá tích cực của việc tập trung kinh tế, đồng thời đây cũng là văn bản quy định rõ ràng về thời hạn được miễn trừ đối với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh.

Quy định về trái phiếu chính phủ xanh
Trả lời

Ngày 30/06/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 95/2018/NĐ-CP quy định về phát hành, đăng ký, lưu ký, niêm yết và giao dịch công cụ nợ của Chính phủ trên thị trường chứng khoán. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2018.
Theo đó, Nghị định số 95/2018/NĐ-CP quy định về một loại trái phiếu mới có tên gọi là trái phiếu xanh như sau:
1. Về định nghĩa: Trái phiếu xanh là một loại trái phiếu Chính phủ được phát hành để đầu tư cho các dự án liên quan đến hoạt động bảo vệ môi trường theo quy định tại Luật bảo vệ môi trường (dự án xanh) và nằm trong danh mục dự án được phân bổ vốn đầu tư công theo quy định của Luật đầu tư công, Luật ngân sách nhà nước.
2. Về trách nhiệm xây dựng: Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài nguyên và Môi trường xây dựng đề án phát hành trái phiếu Chính phủ xanh báo cáo Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trước khi triển khai thực hiện. Nội dung của đề án bao gồm:
– Mục đích phát hành;
– Khối lượng phát hành;
– Điều kiện, điều khoản của trái phiếu;
– Đối tượng mua trái phiếu;
– Phương thức phát hành;
– Việc đăng ký, lưu ký, niêm yết và giao dịch;
– Danh mục các dự án sử dụng nguồn vốn từ phát hành trái phiếu.
3. Về quy trình phát hành và giao dịch: Tương tự như trái phiếu Chính phủ, trái phiếu xanh cũng được phát hành và giao dịch thông qua ba hình thức chủ yếu sau:
– Đấu thầu phát hành trái phiếu
– Bảo lãnh phát hành trái phiếu
– Phát hành riêng lẻ trái phiếu
– Giao dịch trái phiếu trên thị trường chứng khoán thông qua hình thức mua bán thông thường, mua bán lại và bán kết hợp mua lại, và các loại hình giao dịch khác theo quy định của pháp luật chứng khoán.
Bằng các quy định chi tiết và cụ thể, Nghị định số 95/2018/NĐ-CP được kỳ vọng sẽ thúc đẩy các hoạt động phát hành, niêm yết, giao dịch trái phiếu xanh – một loại hình trái phiếu mới đang được xem như một kênh thu hút vốn hiệu quả cho các dự án bảo vệ môi trường, qua đó nhằm giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu tại Việt Nam.

Quản lý nợ của chính quyền địa phương
Trả lời

Ngày 30/6/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 93/2018/NĐ-CP quy định về quản lý nợ của chính quyền địa phương. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2018.
Theo đó, Nghị định số 93/2018/NĐ-CP quy định về thực hiện vay, trả nợ của chính quyền địa phương như sau:
1. Căn cứ thực hiện vay, trả nợ của chính quyền địa phương
– Căn cứ dự toán ngân sách địa phương, tổng mức vay hàng năm và chủ trương phát hành trái phiếu chính quyền địa phương được Hội đổng nhân dân tỉnh quyết định, Sở Tài chính chủ trì.
– Căn cứ dự toán ngân sách địa phương về trả nợ gốc và nguồn trả nợ gốc; trả lãi, phí và chi phí các khoản vay được Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định, Sở Tài chính chủ trì.
2. Tổ chức vay theo hình thức phát hành trái phiếu chính quyền địa phương
– Căn cứ dự toán ngân sách, kế hoạch vay, trả nợ hàng năm, chủ trương phát hành trái phiếu chính quyền địa phương được Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phê duyệt và kế hoạch vay của chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phát hành trái phiếu.
– Trình tự, thủ tục: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có văn bản đề nghị Bộ Tài chính cho ý kiến về điều kiện, điều khoản của trái phiếu chính quyền địa phương trong vòng 15 ngày kể từ khi nhận được văn bản đề nghị của địa phương.
3. Tổ chức vay lại từ nguồn vốn ODA (nguồn vốn hỗ trợ chính thức – Official Development Assistance), vay ưu đãi nước ngoài:
– Căn cứ thỏa thuận vay lại giữa Bộ Tài chính với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh của từng chương trình, dự án; số vay lại được Thủ tướng Chính phủ giao trong dự toán ngân sách địa phương hằng năm; hình thức rút vốn và thực hiện giải ngân nguồn vốn ODA, vay ưu đãi nước ngoài trong phạm vi dự toán được giao.
4. Tổ chức vay từ các nguồn trong nước khác như: Vay từ ngân quỹ nhà nước; vay từ quỹ dự trữ tài chính cấp tỉnh; vay từ các tổ chức tài chính, tổ chức tín dụng trong nước.
Như vậy, Nghị định số 93/2018/NĐ-CP đã quy định cụ thể về nguyên tắc quản lý, hình thức và điều kiện vay, kế hoạch vay, trả nợ hàng năm của chính quyền địa phương, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện công tác quản lý và xây dựng các kế hoạch tài chính của cơ quan quản lý nhà nước.

Tỷ lệ cho vay lại vốn vay ODA, vay ưu đãi
Trả lời

Ngày 30/06/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 97/2018/NĐ-CP quy định về cho vay lại vốn ODA (nguồn vốn hỗ trợ chính thức – Official Development Assistance), vay ưu đãi nước ngoài của Chính phủ. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2018.
Theo đó, Nghị định số 97/2018/NĐ-CP quy định về tỷ lệ vay lại vốn ODA, vay ưu đãi như sau:
1. Đối với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
– Tỷ lệ cho vay lại là 30% vốn vay ODA, vay ưu đãi cho địa phương có tỷ lệ bổ sung cân đối từ ngân sách trung ương so với chi cân đối ngân sách địa phương từ 70% trở lên;
– Tỷ lệ cho vay lại là 40% vốn vay ODA, vay ưu đãi cho địa phương có tỷ lệ bổ sung cân đối từ ngân sách trung ương so với tổng chi cân đối ngân sách địa phương từ 50% đến dưới 70%;
– Tỷ lệ cho vay lại là 50% vốn vay ODA, vay ưu đãi cho địa phương có tỷ lệ bổ sung cân đối từ ngân sách trung ương so với tổng chi cân đối ngân sách địa phương dưới 50%;
– Tỷ lệ cho vay lại là 70% vốn vay ODA, vay ưu đãi cho địa phương có điều tiết về ngân sách trung ương (trừ thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh);
– Tỷ lệ cho vay lại là 100% vốn vay ODA, vay ưu đãi đối với thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh;
– Bộ trưởng Bộ Tài chính công bố tỷ lệ cho vay lại vốn vay ODA, vốn ưu đãi cho từng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương áp dụng cho từng thời kỳ ổn định ngân sách trước ngày 01 tháng 01 năm đầu tiên của thời kỳ ổn định ngân sách.
2. Đối với đơn vị sự nghiệp công lập:
– Tỷ lệ vay lại là 100% vốn vay ODA, vay ưu đãi sử dụng cho dự án đầu tư đối với đơn vị sự nghiệp công lập tự đảm bảo toàn bộ kinh phí thường xuyên và kinh phí đầu tư;
– Tỷ lệ vay lại là 50% vốn vay ODA, vay ưu đãi sử dụng cho dự án đầu tư đối với đơn vị sự nghiệp công lập tự đảm bảo toàn bộ kinh phí thường xuyên và một phần kinh phí đầu tư.
3. Đối với doanh nghiệp
Doanh nghiệp đủ điều kiện vay lại toàn bộ vốn vay ODA, vay ưu đãi sử dụng cho dự án đầu tư, nhưng không vượt quá 70% tổng mức đầu tư được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Bằng những quy định cụ thể về tỷ lệ cho vay đối với từng nhóm đối tượng, Nghị định 97/2018/NĐ-CP được đánh giá là cơ sở để các cơ quan nhà nước cũng như doanh nghiệp thuận lợi khi thực hiện thủ tục vay lại vốn ODA, vốn vay ưu đãi, từ đó giảm bớt các vấn đề tiêu cực phát sinh trong việc cho phân bổ các nguồn vay ưu đãi tại địa phương.