Ngày 29/12/2017, Bộ Giao thông Vận tải đã ban hành Thông tư số 52/2017/TT-BGTVT quy định về bảo trì công trình hàng hải. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/03/2018.
Theo đó, Thông tư số 52/2017/TT-BGTVT có nhiều nội dung đáng chú ý như:
Danh mục công trình, bộ phận công trình hàng hải bắt buộc quan trắc trong quá trình khai thác, sử dụng: Cầu cảng, đèn biển, đăng tiêu, đê chắn sóng, đê chắn cát, kè hướng dòng, kè bảo vệ bờ, công trình đóng mới, sửa chữa tàu biển cấp đặc biệt và cấp I; Các công trình hàng hải có dấu hiệu lún, nứt, nghiêng hoặc có dấu hiệu bất thường khác có khả năng gây sập đổ công trình. Nội dung quan trắc: Các vị trí quan trắc, thông số quan trắc và giá trị giới hạn của các thông số này (ví dụ: Biến dạng nghiêng, lún, nứt, võng…), thời gian quan trắc, số lượng chu kỳ đo và các nội dung cần thiết khác.
Kế hoạch bảo trì công trình hàng hải hằng năm hoặc theo kỳ kế hoạch gồm: Công tác bảo dưỡng công trình; Công tác sửa chữa định kỳ; Công tác sử chữa đột xuất. Trong đó, kế hoạch bảo trì công trình hàng hải hằng năm phải được lập và gửi Cục Hàng hải Việt Nam trước ngày 30/05 hằng năm.
Đối với công trình hàng hải có nhiều chủ sở hữu: Chủ sở hữu phần riêng của công trình có trách nhiệm bảo trì phần sở hữu riêng của mình và đồng thời phải có trách nhiệm bảo trì phần sở hữu chung của công trình. Chủ sở hữu khi cho tổ chức, cá nhân thuê khai thác công trình hàng hải hoặc ủy quyền quản lý, sử dụng công trình hàng hải phải có nội dung thỏa thuận về trách nhiệm bảo trì công trình.
Như vậy, có thể thấy, Thông tư số 52/2017/TT-BGTVT đã có những thay đổi đáng kể so với các thông tư trước đây. Sự thay đổi này là phù hợp với yêu cầu của thực tế, để đảm bảo các công trình hàng hải được bảo trì theo đúng trình tự, thủ tục nhằm đạt được hiệu quả cao nhất.
Ngày 10/01/2018 Bộ Giao thông vận tải đã ban hành Thông tư số 03/2018/TT-BGTVT quy định về kiểm tra chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đối với ô-tô nhập khẩu thuộc đối tượng của Nghị định 116/2017/NĐ-CP. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 01/03/2018.
Theo đó, Thông tư số 03/2018/TT-BGTVT quy định ô-tô đã qua sử dụng nhập khẩu phải được kiểm tra chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đối với từng xe, đảm bảo tính thống nhất của nội dung hồ sơ đăng ký kiểm tra, cụ thể:
Thực hiện kiểm tra đối với xe được đăng ký lưu hành tại các quốc gia thuộc EU, G7, quốc gia có tiêu chuẩn khí thải tương đương hoặc cao hơn tiêu chuẩn khí thải hiện hành của Việt Nam.
Đối với ô-tô chưa qua sử dụng nhập khẩu phải được cơ quan quản lý chất lượng kiểm tra đối với từng lô xe nhập khẩu. Mẫu ô-tô đại diện cho từng kiểu loại ô-tô trong lô phải được kiểm tra, thử nghiệm về khí thải và chất lượng an toàn kỹ thuật. Thực tế sẽ kiểm tra tình trạng số khung, số động cơ của từng xe trong lô xe nhập khẩu theo hồ sơ đăng ký kiểm tra; kiểm tra tính đồng nhất của các xe thực tế cùng kiểu loại ô-tô trong lô xe nhập khẩu; lấy ngẫu nhiên mẫu ô-tô đại diện cho từng kiểu loại ô-tô trong lô xe nhập khẩu để đối chiếu các thông số kỹ thuật của xe thực tế với nội dung hồ sơ đăng ký kiểm tra.
Trong quá trình kiểm tra, phát hiện ô-tô đã qua sử dụng có sự thay đổi từ nước ngoài về một số thông số kỹ thuật hoặc kết cấu so với xe xuất xưởng ban đầu của nhà sản xuất thì doanh nghiệp nhập khẩu phải xuất trình các tài liệu của cơ quan quản lý phương tiện nước ngoài với xe đã thay đổi. Khối lượng xe trong trường hợp này không được lớn hơn giá trị nêu trong tài liệu.
Trường hợp ô-tô nhập khẩu bị hư hại trong quá trình vận chuyển từ nước ngoài về Việt Nam, doanh nghiệp nhập khẩu được phép khắc phục một số hạng mục như: Thân vỏ, buồng lái, thùng hàng có lớp sơn bị trầy xước; ắc quy không hoạt động.
Ngoài ra, Thông tư số 03/2018/TT-BGTVT cũng nêu rõ, đối với trường hợp ô-tô có dấu hiệu bị tẩy xóa, đục sửa, đóng lại số khung hoặc số VIN (trong trường hợp không có số khung), số động cơ thì cơ quan kiểm tra tiến hành trưng cầu giám định tại cơ quan giám định chuyên ngành để làm căn cứ cho việc cấp chứng chỉ chất lượng.
Trong quá trình kiểm tra, chứng nhận nếu phát hiện ô-tô nhập khẩu thuộc danh mục cấm nhập khẩu theo quy định tại Nghị định 187/2-13/NĐ-CP thì cơ quan kiểm tra ghi nhận bằng chứng xe thuộc danh mục hàng cấm nhập khẩu đối với chiếc xe đó, đồng thời cấp thông báo xe cơ giới thuộc danh mục cấm nhập khẩu theo quy định. Việc kiểm tra, phân loại và lấy mẫu đại diện của lô xe đối với các xe khác được tiếp tục thực hiện theo quy định.
Bên cạnh đó, việc triệu hồi ô-tô không chỉ áp dụng theo công bố của nhà sản xuất, ô-tô còn được triệu hồi theo yêu cầu của cơ quan kiểm tra. Việc yêu cầu triệu hồi này thực hiện trên cơ sở bằng chứng cụ thể, kết quả xác minh các thông tin phản ánh về chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường ô-tô nhập khẩu.
Có thể thấy, Thông tư số 03/2018/TT-BGTVT đã siết chặt hơn chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đối với ô-tô nhập khẩu. Với nhiều ràng buộc về về giấy tờ và thủ tục, Thông tư này được dự đoán sẽ tạo ra những rào cản khó khăn đối với các doanh nghiệp trong lĩnh vực này.
Ngày 22/01/2018, Bộ Tài Chính đã ban hành Thông tư số 05/2018/TT-BTC hướng dẫn thí điểm về khai, nộp lệ phí trước bạ điện tử đối với ô tô, xe máy và trao đổi dữ liệu điện tử thu nộp lệ phí trước bạ đối với ô tô, xe máy. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 16/03/2018.
Theo đó Thông tư số 05/2018/TT-BTC có những quy định đáng chú ý như sau:
1. Phạm vi thí điểm khai, nộp lệ phí trước bạ điện tử tại khu vực Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, áp dụng đối với các loại ô tô, xe máy không bao gồm rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi ô tô, các loại xe tương tự và vỏ, tổng thành khung, tổng thành máy của ô tô, xe máy được thay thế mà phải đăng ký với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
2. Việc khai lệ phí trước bạ, tổ chức, cá nhân có ô tô, xe máy chưa qua sử dụng (không bao gồm ô tô, xe máy được thừa kế, quà tặng) thực hiện nộp hồ sơ khai lệ phí trước bạ tại Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thuế; Khai thông tin Số giấy chứng nhận chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường hoặc Số giấy chứng nhận chất lượng kiểu loại và các thông tin tại Tờ khai lệ phí trước bạ. Cổng thông tin điện tử sẽ tự sinh mã hồ sơ.
Các trường hợp đã khai lệ phí trước bạ tại Chi cục Thuế nơi đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng xe, cơ quan thuế tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ và nhập đầy đủ thông tin khai vào hệ thống quản lý của Tổng cục Thuế. Hệ thống này sẽ tự sinh mã hồ sơ.
3. Việc nộp lệ phí trước bạ được thực hiện theo hình thức điện tử của ngân hàng hoặc tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán hoặc qua Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thuế; Nộp tại quầy giao dịch của cơ quan Kho bạc Nhà nước; Nộp tại quầy giao dịch của ngân hàng (bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản).
4. Nội dung dữ liệu lệ phí trước bạ điện tử trao đổi giữa Tổng cục Thuế và Cục Cảnh sát giao thông. Dữ liệu lệ phí trước bạ điện tử trao đổi giữa Tổng cục thuế và Cục cảnh sát giao thông bao gồm: Mã hồ sơ, Mã số thuế (nếu có); Tên người nộp thuế; Địa chỉ; Số điện thoại; Loại xe; Nhãn hiệu; Số loại/Tên thương mại; Số máy; Số khung; Thể tích làm việc hoặc Công suất động cơ điện hoặc Trọng tải; Số người cho phép chở (kể cả lái xe); Nước sản xuất; Năm sản xuất; Biển kiểm soát, số đăng ký (đối với xe đã đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng); Ngày nộp tiền; Giá trị tài sản theo hóa đơn hoặc các chứng từ hợp lệ khác; Giá trị tài sản tính lệ phí trước bạ; Mức thu lệ phí trước bạ; Số tiền lệ phí trước bạ đã nộp.
5. Ngoài các nội dung trên, Thông tư số 05/2018/TT-BTC còn quy định về nguyên tắc trao đổi dữ liệu lệ phí trước bạ điện tử giữa Tổng cục Thuế và Cục Cảnh sát giao thông; trình tự tiếp nhận, xử lý dữ liệu lệ phí trước bạ điện tử và quy trình tra soát, xử lý sai sót, điều chỉnh thông tin thu nộp lệ phí trước bạ.
Có thể thấy, các quy định tại Thông tư số 05/2018/TT-BTC là những quy định tiến bộ đặt nền tảng bước đầu nhằm phát huy tính hiệu quả của giao dịch điện tử, tiết kiệm thời gian, công sức của nhân dân, cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực khai, nộp lệ phí trước bạ với ô tô, xe máy nói riêng và cải cách thủ hành chính trong mọi lĩnh vực quản lý Nhà nước nói chung.
Ngày 29/12/2017 Bộ Y tế ban hành Thông tư số 56/2017/TT-BYT hướng dẫn Luật bảo hiểm xã hội và Luật an toàn vệ sinh lao động thuộc lĩnh vực y tế. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/3/2018.
Thông tư số 56/2017/TT-BYT có một số quy định nổi bật như sau:
1. Bệnh được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội một lần và hồ sơ khám giám định để hưởng bảo hiểm xã hội
Các bệnh được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội một lần gồm:
Ung thư, bại liệt, xơ gan cổ chướng, phong, lao nặng, nhiễm HIV đã chuyển sang giai đoạn AIDS đồng thời không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện được các hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày mà cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc hoàn toàn.
Các bệnh, tật ngoài các bệnh nêu trên có mức suy giảm khả năng lao động hoặc mức độ khuyết tật từ 81% trở lên và không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện được các hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hằng ngày mà cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc hoàn toàn.
Theo quy định, mỗi lần khám người bệnh chỉ được cấp một giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng BHXH. Trường hợp người bệnh cần nghỉ dài hơn 30 ngày thì khi hết hoặc sắp hết thời hạn nghỉ ghi trên giấy chứng nhận đã được cấp, người bệnh phải tiến hành tái khám để người hành nghề xem xét quyết định.
Trường hợp người lao động trong cùng một thời gian được hai, ba chuyên khoa của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác nhau khám và cùng cấp giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng BHXH thì chỉ được hưởng một trong những giấy chứng nhận có thời gian nghỉ dài nhất.
2. Cấp và quản lý giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng BHXH
Việc cấp giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội phải đáp ứng các yêu cầu sau đây:
Do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã được cấp giấy phép hoạt động cấp. Người hành nghề làm việc tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh này được ký giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội theo phân công của người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đó;
Phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nơi cấp giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt;
Phù hợp với tình trạng sức khỏe của người bệnh và hướng dẫn chuyên môn của Bộ trưởng Bộ Y tế.
Một lần khám chỉ được cấp một giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội. Trường hợp người bệnh cần nghỉ dài hơn 30 ngày thì khi hết hoặc sắp hết thời hạn nghỉ ghi trên giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội đã được cấp, người bệnh phải tiến hành tái khám để người hành nghề xem xét quyết định
Giấy ra viện, Giấy chứng sinh, Giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội, Giấy chứng nhận thương tích, Giấy báo tử do các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp theo đúng thẩm quyền và quy chế chuyên môn do Bộ Y tế quy định trong thời gian kể từ 01/07/2016 đến trước thời điểm Thông tư này có hiệu lực thi hành nhưng cấp không đúng mẫu, ghi không đúng thời gian, không đóng dấu pháp nhân, đóng dấu không đúng chỗ, ký tên không đúng chỗ, không đủ chữ ký thì vẫn có giá trị dễ làm căn cứ giải quyết hưởng chế độ bảo hiểm xã hội.
Mẫu giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội, giấy ra viện, giấy chứng sinh đã phát hành trước ngày Thông tư này ban hành được tiếp tục áp dụng đến hết ngày 31/12/2018.
Có thể thấy, Thông tư số 56/2017/TT-BYT được ban hành hướng dẫn cụ thể chế độ liên quan đến lĩnh vực y tế thuộc luật BHXH và luật Vệ sinh An toàn lao động, góp phần minh bạch, đơn giản hóa các thủ tục hành chính và đảm bảo được quyền lợi chăm sóc sức khỏe của người lao động.
Ngày 18/01/2018, Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước thông qua Quyết định số 72/QĐ-UBCK ban hành Quy chế hướng dẫn chào bán và phòng ngừa rủi ro chứng quyền có bảo đảm. Quy chế này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành.
Theo đó, Quy chế này quy định về loại hình chứng quyền có bảo đảm (sau đây gọi tắt là chứng quyền), điều kiện để cổ phiếu niêm yết là chứng khoán cơ sở của chứng quyền, hạn mức chào bán, hồ sơ đăng ký chào bán và hoạt động phòng ngừa rủi ro cho chứng quyền; áp dụng đối với tổ chức phát hành chứng quyền (sau đây gọi tắt là tổ chức phát hành) và các tổ chức, cá nhân có liên quan với một số điểm nổi bật như sau:
1. Chứng quyền có bảo đảm là chứng quyền mua dựa trên chứng khoán cơ sở là cổ phiếu niêm yết, thực hiện quyền kiểu châu Âu và có phương thức thanh toán bằng tiền (sau đây gọi tắt là chứng quyền).
2. Điều kiện để cổ phiếu niêm yết là chứng khoán cơ sở của chứng quyền
Chứng khoán cơ sở của chứng quyền là cổ phiếu niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán tại Việt Nam đáp ứng các tiêu chí sau:
Thuộc chỉ số VN30 hoặc HNX30 hoặc chỉ số tương đương thay thế (trong trường hợp tổ chức lại các Sở Giao dịch Chứng khoán);
Giá trị vốn hóa hàng ngày bình quân trong 06 tháng gần nhất tính đến ngày chốt dữ liệu xem xét từ 5.000 tỷ đồng trở lên;
Tổng khối lượng giao dịch trong 06 tháng gần nhất tính đến ngày chốt dữ liệu xem xét tối thiểu đạt 25% số lượng cổ phiếu tự do chuyển nhượng bình quân trong 06 tháng gần nhất, trong đó: số lượng cổ phiếu tự do chuyển nhượng bình quân trong 06 tháng gần nhất = (số lượng cổ phiếu tự do chuyển nhượng thời điểm đầu 06 tháng + số lượng cổ phiếu tự do chuyển nhượng thời điểm cuối 06 tháng)/2; hoặc giá trị giao dịch hàng ngày bình quân trong 06 tháng gần nhất tính đến ngày chốt dữ liệu xem xét từ 50 tỷ đồng/ngày trở lên;
Tỷ lệ cổ phiếu tự do chuyển nhượng tại ngày chốt dữ liệu xem xét từ 20% trở lên;
Có thời gian niêm yết từ 06 tháng trở lên tính đến thời điểm xem xét. Trường hợp cổ phiếu chuyển sàn niêm yết thì thời gian niêm yết được tính là tổng thời gian niêm yết ở cả hai Sở Giao dịch Chứng khoán;
Kết quả hoạt động kinh doanh của tổ chức phát hành chứng khoán cơ sở có lãi và không có lỗ lũy kế căn cứ trên báo cáo tài chính gần thời điểm xem xét nhất, bao gồm báo cáo tài chính năm đã được kiểm toán hoặc báo cáo tài chính bán niên đã được soát xét hoặc được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán được chấp thuận thực hiện kiểm toán cho đơn vị có lợi ích công chúng thuộc lĩnh vực chứng khoán;
Không đang trong tình trạng bị cảnh báo, kiểm soát, kiểm soát đặc biệt, tạm ngừng giao dịch, không trong diện hủy niêm yết theo quy chế của Sở Giao dịch Chứng khoán.
Ngày chốt dữ liệu xem xét là ngày giao dịch cuối cùng của các tháng 3, 6, 9 và 12 trong năm.
3. Hồ sơ đăng ký chào bán chứng quyền thực hiện theo quy định tại khoản 4 Điều 4 Thông tư số 107/2016/TT-BTC, trong đó:
Các quy trình nghiệp vụ (bao gồm quy trình về đăng ký chào bán, đăng ký lưu ký, niêm yết, tạo lập thị trường, phòng ngừa rủi ro, thực hiện chứng quyền) và quy trình kiểm soát nội bộ do tổ chức phát hành tự xây dựng đảm bảo phù hợp với quy định pháp luật và đặc điểm hoạt động của công ty.
Quy trình quản trị rủi ro theo mẫu quy định tại Phụ lục số 02 ban hành kèm theo Quy chế này.
Phương án bảo đảm thanh toán cho người sở hữu chứng quyền và phương án phòng ngừa rủi ro cho chứng quyền theo mẫu quy định tại Phụ lục số 03 ban hành kèm theo Quy chế này.
Bản cáo bạch chào bán chứng quyền theo mẫu quy định tại Phụ lục số 02 ban hành kèm theo Thông tư số 107/2016/TT-BTC Tổ chức phát hành tham khảo mẫu Bản cáo bạch chào bán chứng quyền quy định tại Phụ lục số 04 ban hành kèm theo Quy chế này.
4. Phòng ngừa rủi ro cho chứng quyền
Khi tham gia phát hành chứng quyền, công ty chứng khoán phải phòng ngừa rủi ro bằng cách giữ cổ phiếu cơ sở theo đúng tỷ lệ và các bên đã chưa tìm được tiếng nói chung về tỷ lệ này vì cơ quan quản lý luôn muốn sản phẩm mới vận hành an toàn với rủi ro thấp trong khi công ty chứng khoán lại muốn linh hoạt hơn. Trong đó, hoạt động phòng ngừa rủi ro bao gồm các giao dịch mua, bán, vay và các giao dịch khác phù hợp với quy định pháp luật.
Trên cơ sở Quy chế này, tổ chức phát hành chào bán chứng quyền và thực hiện phòng ngừa rủi ro cho chứng quyền để đảm bảo khả năng thanh toán cho người sở hữu chứng quyền, hạn chế một cách hiệu quả những tổn thất do rủi ro gây ra.
Chứng quyền có bảo đảm tại Quy chế này được đánh giá vừa là sản phẩm đầu tư, vừa là công cụ quản lý rủi ro với chi phí hiệu quả. Sản phẩm này có cách thức giao dịch giống như cổ phiếu và không bị hạn chế bởi tỷ lệ nhà đầu tư nước ngoài nên hứa hẹn sẽ đáp ứng nhu cầu đa dạng của nhà đầu tư.
Ngày 29/12/2017, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành Thông tư số 24/2017/TT-NHNN quy định về trình tự, thủ tục thu hồi Giấy phép và thanh lý tài sản của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; trình tự, thủ tục thu hồi Giấy phép Văn phòng đại diện của Tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động Ngân hàng. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 26/02/2018.
Theo đó, việc thu hồi Giấy phép, thanh lý tài sản của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
Phải xác định khả năng thanh toán các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác trước và trong quá trình thanh lý tài sản, giải thể và thu hồi Giấy phép;
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chỉ chấp thuận việc giải thể khi tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có khả năng thanh toán hết các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác;
Trong quá trình giám sát thanh lý tài sản, nếu phát hiện tổ chức tín dụng không có khả năng thanh toán đầy đủ các khoản nợ, Ngân hàng Nhà nước ra quyết định chấm dứt thanh lý và thực hiện phương án phá sản tổ chức tín dụng;
Trong quá trình thanh lý tài sản, nếu chi nhánh ngân hàng nước ngoài không có khả năng thanh toán hết các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác, ngân hàng mẹ có nghĩa vụ thực hiện cam kết.
Ngoài ra, Thông tư 24/2017/TT-NHNN cũng quy định rõ các hành vi bị cấm trong quá trình thu hồi Giấy phép, thanh lý tài sản của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài gồm:
Cất giấu, tẩu tán tài sản;
Từ bỏ hoặc giảm bớt quyền đòi nợ;
Chuyển các khoản nợ không có bảo đảm thành các khoản nợ có bảo đảm bằng tài sản của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài;
Tặng, cho, cầm cố, thế chấp và cho thuê tài sản;
Ký kết hợp đồng mới không phải là hợp đồng nhằm thực hiện chấm dứt hoạt động;
Chuyển tiền, tài sản ra nước ngoài.
Bên cạnh đó, thứ tự phân chia tài sản khi thanh lý tài sản của tổ chức tín dụng nước ngoài cũng được quy định cụ thể:
Các khoản vay đặc biệt theo quy định tại Luật các tổ chức tín dụng (đã được sửa đổi, bổ sung);
Các khoản lệ phí, chi phí thực hiện thanh lý tài sản theo quy định của pháp luật;
Các khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với người lao động theo quy định của pháp luật và các quyền lợi khác theo thỏa ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết;
Các khoản chi trả cho người gửi tiền;
Các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước;
Các khoản nợ khác.
Có thể thấy, Thông tư số 24/2017/TT-NHNN đã quy định rõ ràng và chi tiết hơn về hoạt động thu hồi Giấy phép hoạt động của tổ chức tín dụng nước ngoài. Qua đó, đảm bảo tính minh bạch, chính xác và nhanh chóng, đồng thời góp phần tăng cường sự quản lý Nhà nước trong các hoạt động của các tổ chức tín dụng nước ngoài.
Ngày 05/02/2018, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Quyết định số 249/QĐ-NHNN về việc công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung lĩnh vực cấp phép thành lập và hoạt động ngân hàng thuộc vi phạm chức năng quản lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày 06/02/2018.
Theo đó, Quyết định số 249/QĐ-NHNN đã công bố 03 thủ tục được sửa đổi, bổ sung, thay thế là: Thủ tục thu hồi giấy phép và thanh lý tài sản của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; Thủ tục gia hạn thời hạn thanh lý tài sản của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; Thủ tục thu hồi giấy phép của văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng, cụ thể như sau:
Đối với thủ tục thu hồi giấy phép và thanh lý tài sản của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài: Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài giải thể tự nguyện hoặc bị thu hồi Giấy phép, trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị kết thúc thanh lý, Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng xem xét, trình Thống đốc có quyết định kết thúc thanh lý, thu hồi Giấy phép tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoặc có quyết định kết thúc thanh lý để tổ chức tín dụng thực hiện thủ tục phá sản và sau 40 ngày kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị kết thúc thanh lý, khi đủ hồ sơ hợp lệ, Ngân hàng Nhà nước sẽ ra Quyết định thu hồi Giấy phép.
Đối với thủ tục gia hạn thời hạn thanh lý tài sản của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài: Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài gửi văn bản đề nghị gia hạn thời hạn thanh lý tới Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và sau 40 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sẽ ra văn bản chấp thuận hoặc không chấp thuận đề nghị gia hạn thời hạn thanh lý.
Đối với thủ tục thu hồi giấy phép của văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài: Tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng, văn phòng đại diện gửi 01 bộ hồ sơ tới Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và sau 32 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sẽ ra Quyết định thu hồi Giấy phép.
Khi thực hiện các thủ tục trên, đối tượng thực hiện thủ tục hành chính không phải nộp lệ phí. Các thủ tục này đều do cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng thực hiện, được sửa đổi, bổ sung, thay thế theo quy định của Thông tư số 24/2017/TT-NHNN ngày 29/12/2017 quy định về trình tự, thủ tục thu hồi Giấy phép và thanh lý tài sản của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; trình tự, thủ tục thu hồi Giấy phép văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng.
Như vậy, với Quyết định số 249/QĐ-NHNN, Ngân hàng Nhà nước đã điều chỉnh, bổ sung đối với ba thủ tục hành chính trong lĩnh vực cấp phép thành lập và hoạt động ngân hàng thuộc phạm vi chức năng quản lý của mình. Những sự thay đổi này được đánh giá là phù hợp và tạo thuận lợi cho các đối tượng thực hiện thủ tục khi xác định rõ tổng thời gian thực hiện thủ tục.
Ngày 12/02/2018, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 32/2016/TT-NHNN ngày 26/12/2016 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 23/2014/TT-NHNN ngày 19/08/2014 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hướng dẫn việc mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.
Trước đây, Thông tư số 32/2016/TT-NHNN quy định các ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải đóng tài khoản đối với những tài khoản thanh toán của khách hàng là hộ gia đình tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân chưa hoàn thành việc chuyển đổi hình thức tài khoản đến ngày 01/3/2018.
Nay, tại Thông tư số 02/2018/TT-NHNN, Ngân hàng Nhà nước quy định các ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải có thông báo vào trước 01/06/2018 sau khi rà soát hồ sơ, hợp đồng mở và sử dụng tài khoản thanh toán của khách hàng là hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân được mở trước thời điểm Thông tư này có hiệu lực.
Đồng thời, Thông tư số 02/2018/TT-NHNN cũng quy định trong vòng 24 tháng, các ngân hàng cần phối hợp với khách hàng hoàn thành việc thực hiện ký lại hợp đồng mở, sử dụng tài khoản thanh toán để chuyển đổi sang hình thức tài khoản thanh toán của cá nhân hoặc tài khoản thanh toán của pháp nhân hoặc tài khoản thanh toán chung hoặc đóng tài khoản thay vì thời hạn 12 tháng trước đây.
Có thể thấy, bằng việc dãn thêm thời hạn chuyển đổi lên một năm, Thông tư số 02/2018/TT-NHNN đã tạo điều kiện để ngân hàng và các khách hàng là hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân có them thời gian để thực hiện chuyển đổi cũng như giải quyết các vướng mắc liên quan đến việc chuyển đổi này.
Ngày 05/01/2018 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 06/2018/NĐ-CP quy định chính sách hỗ trợ ăn trưa đối với trẻ em mẫu giáo và chính sách đối với giáo viên mầm non. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 20/02/2018. Theo đó, Nghị định số 06/2018/NĐ-CP quy định chính sách hỗ trợ ăn trưa đối với trẻ em mẫu giáo và chính sách hỗ trợ đối với giáo viên mầm non như sau:
Trẻ em độ tuổi mẫu giáo (không bao gồm trẻ em dân tộc thiểu số rất ít người theo quy định tại Nghị định số 57/2017/NĐ-CP ngày 9-5-2017 của Chính phủ) đang học tại lớp mẫu giáo trong các cơ sở giáo dục mầm non bảo đảm một trong những điều kiện sau:
– Có cha mẹ hoặc có cha hoặc có mẹ hoặc có người chăm sóc trẻ em hoặc trẻ em thường trú ở xã, thôn đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số và miền núi, các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển, hải đảo theo quy định của Thủ tướng Chính phủ.
– Không có nguồn nuôi dưỡng được quy định tại khoản 1 Điều 5 Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21-10-2013 của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội.
– Là nhân khẩu trong gia đình thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo theo quy định của Thủ tướng Chính phủ.
Việc chi trả kinh phí hỗ trợ ăn trưa được thực hiện 2 lần trong năm học: Lần 1 chi trả đủ 4 tháng vào tháng 10 hoặc tháng 11 hằng năm; lần 2 chi trả đủ 5 tháng vào tháng 2 hoặc tháng 3 hằng năm. Căn cứ vào thực tế quản lý và cách tổ chức ăn trưa của nhà trường, lãnh đạo cơ sở giáo dục mầm non thống nhất với ban đại diện cha mẹ trẻ em để lựa chọn thực hiện theo một trong hai phương thức chi hỗ trợ ăn trưa sau:
– Phương thức 1- Cơ sở giáo dục mầm non giữ lại kinh phí hỗ trợ để tổ chức bữa ăn trưa cho trẻ em (khuyến khích cơ sở giáo dục mầm non tổ chức nấu ăn cho trẻ em).
– Phương thức 2- Chi trả trực tiếp bằng tiền mặt cho cha mẹ hoặc người chăm sóc trẻ em theo quy định.
Nghị định nêu rõ, trường hợp cha mẹ hoặc người chăm sóc trẻ em chưa nhận được kinh phí hỗ trợ ăn trưa theo thời hạn quy định thì được truy lĩnh trong kỳ chi trả tiếp theo.
Trường hợp trẻ em chuyển trường, cơ sở giáo dục mầm non có trách nhiệm trả lại hồ sơ đề nghị hỗ trợ ăn trưa cho cha mẹ hoặc người chăm sóc trẻ em. Cơ sở giáo dục mầm non nơi trẻ em chuyển đến có trách nhiệm báo cáo phòng giáo dục và đào tạo trình Chủ tịch UBND cấp huyện ra quyết định chuyển kinh phí hoặc cấp bổ sung kinh phí để cơ sở giáo dục mầm non nơi trẻ em chuyển đến thực hiện chi trả hỗ trợ ăn trưa theo quy định. Trẻ em thôi học, cơ sở giáo dục mầm non có trách nhiệm thông báo phòng giáo dục và đào tạo báo cáo UBND cấp huyện dừng thực hiện chi trả chính sách.
Giáo viên mầm non thuộc 4 nhóm đối tượng sau được hưởng chính sách hỗ trợ:, cụ thể:
– Giáo viên mầm non (gồm cả phó hiệu trưởng) làm việc theo chế độ hợp đồng lao động trong định mức giáo viên được cấp có thẩm quyền phê duyệt ở các cơ sở công lập, nếu đủ tiêu chuẩn chức danh giáo viên mầm non hạng IV (mã số V.07.02.06) trở lên thì được ký hợp đồng lao động, xếp lương ở chức danh giáo viên mầm non hạng IV, được hưởng các chế độ, chính sách theo quy định hiện hành như giáo viên mầm non là viên chức trong các cơ sở công lập. Thời gian và bậc lương hưởng khi thực hiện chế độ hợp đồng lao động được nối tiếp để xếp lương và thực hiện chính sách khi được tuyển dụng theo chế độ hợp đồng làm việc.
– Giáo viên mầm non (gồm cả hiệu trưởng, phó hiệu trưởng) đang làm việc ở các cơ sở giáo dục mầm non dân lập, tư thục được Nhà nước hỗ trợ tài liệu và chi phí tập huấn khi tham gia các lớp tập huấn, bồi dưỡng nâng cao chuyên môn nghiệp vụ. Mức hỗ trợ của ngân sách thực hiện theo mức hỗ trợ đối với giáo viên công lập có cùng trình độ tham gia tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định.
– Giáo viên mầm non (gồm cả hiệu trưởng, phó hiệu trưởng) trực tiếp chăm sóc, giáo dục trẻ em dân tộc thiểu số thuộc vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn được thanh toán tiền mua tài liệu học tập tiếng nói và chữ viết của người dân tộc thiểu số theo quy định. Tiền mua tài liệu học tập được chi trả theo hóa đơn tài chính thực mua và được trả không quá 3 năm.
– Giáo viên mầm non trực tiếp dạy 2 buổi/ngày tại các nhóm trẻ, lớp mẫu giáo ghép từ hai độ tuổi trở lên ở các điểm lẻ hoặc trực tiếp dạy tăng cường tiếng Việt tại các nhóm trẻ, lớp mẫu giáo có trẻ em là người dân tộc thiểu số tại các điểm lẻ ở các cơ sở công lập ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn theo quy định của Thủ tướng Chính phủ hằng tháng được hỗ trợ thêm một khoản bằng tiền là 450.000 đồng/tháng. Thời gian hưởng hỗ trợ là 9 tháng/năm. Tiền hỗ trợ được trả cùng với việc chi trả tiền lương của tháng và không dùng tính đóng hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp.
Ngoài ra, Nghị định còn quy định cụ thể thủ tục, hồ sơ xét duyệt hưởng chính sách cụ thể cho các đối tượng trẻ em và giáo viên mần non để được hưởng hỗ trợ này.
Có thể thấy, Nghị định số 06/2018/NĐ – CP được ban hành đã thể hiện sự quan tâm đặc biệt, thiết thực của Nhà nước đối với trẻ em mẫu giáo – thế hệ tương lai của đất nước và những giáo viên mầm non đang dạy hợp đồng và giáo viên đang công tác ở những trường tư thục.
Ngày 02/2/2018, Chính Phủ đã ban hành Nghị định số 19/2018/NĐ-CP quy định về việc tính khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày ký.
Nghị định số 19/2018/NĐ-CP quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại điểm k khoản 2, điểm e khoản 3, điểm đ khoản 4 Điều 248; điểm i khoản 1, điểm n khoản 2, điểm h khoản 3, điểm h khoản 4 Điều 249; điểm i khoản 1, điểm o khoản 2, điểm h khoản 3, điểm h khoản 4 Điều 250; điểm p khoản 2, điểm h khoản 3, điểm h khoản 4 Điều 251 và điểm i khoản 1, điểm n khoản 2, điểm h khoản 3, điểm h khoản 4 Điều 252 của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27/11/2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 ngày 20/6/2017.
Việc ban hành của Nghị định số 19/2018/NĐ-CP là sự cần thiết trong thời điểm này để chi tiết, cụ thể hóa những nội dung chưa thực sự rõ ràng ở các văn bản hướng dẫn trước đó về cách tính khối lượng hoặc thể tích chất ma túy. Nghị định có một số nội dung đáng chú ý như sau:
1. Nguyên tắc về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy
– Việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy phải đảm bảo khách quan, khoa học và được thực hiện theo phương pháp, trình tự quy định của Nghị định này;
– Khối lượng hoặc thể tích các chất ma túy theo quy định của Nghị định này là khối lượng hoặc thể tích các chất ma túy thu giữ hoặc chứng minh được trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử. Việc xác định khối lượng thuốc phiện trong xái thuốc phiện, thuốc phiện pha loãng, thuốc phiện pha trộn được tính theo thuốc phiện chứa 10% morphine làm căn cứ quy đổi;
– Tỷ lệ phần trăm về khối lượng hoặc thể tích của từng chất ma túy được tính theo quy định của Nghị định này nếu là số thập phân thì gồm một chữ số sau dấu phẩy và không làm tròn.
2. Việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy trong trường hợp các chất ma túy được quy định trong cùng một điểm thuộc các khoản của một trong các Điều 248, 249, 250, 251, 252 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được quy định cụ thể như sau:
Trường hợp các chất ma túy đó đều được quy định trong cùng một điểm của khoản 2, 3, 4 Điều 248; hoặc trong cùng một điểm của khoản 1, 2, 3, 4 Điều 249; hoặc trong cùng một điểm của khoản 1, 2, 3, 4 Điều 250; hoặc trong cùng một điểm của khoản 2, 3, 4 Điều 251; hoặc trong cùng một điểm của khoản 1, 2, 3, 4 Điều 252 của Bộ luật Hình sự năm 2015, thì cộng khối lượng hoặc thể tích của các chất ma túy lại với nhau và đối chiếu với quy định về khối lượng hoặc thể tích của nhóm chất ma túy đó trong các khoản của điều luật được áp dụng để xác định tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất ma túy thuộc trường hợp quy định tại khoản nào của điều luật được áp dụng.
Việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy trong trường hợp các chất ma túy không được quy định tại các điều luật trên được hướng dẫn cụ thể tại Điều 5 Nghị định này.
Nghị định số 19/2018/NĐ-CP được ban hành không chỉ đối với vấn đề quản lý công mà trên hết nó là cơ sở để các tổ chức bảo vệ pháp luật, nhân dân nắm rõ được các nội dung quan trọng liên quan tới chương tội phạm này.