Nhiều ngân hàng tăng mạnh lãi suất huy động
Với mong muốn bổ sung thêm nguồn vốn trung, dài hạn để phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh cuối năm, đồng thời giảm...
Bùng nổ nhượng quyền thương hiệu vào Việt Nam
Hoạt động nhượng quyền đang được giới kinh doanh vận dụng để đưa các thương hiệu nước ngoài vào thị trường Việt Nam. Ngoài lĩnh...
6 ngành kinh tế phát triển mũi nhọn khu vực miền Trung
Có 6 lĩnh vực kinh tế biển, ven biển đang được các tỉnh miền Trung tập trung phát triển và đã đạt được những kết...
91.9% doanh nghiệp lạc quan về hoạt động sản xuất 6 tháng cuối năm
Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có tỷ lệ doanh nghiệp dự báo về khối lượng sản xuất khả...
Việt Nam chuyển dần từ nhập siêu sang xuất siêu với CPTPP
Với hầu hết các hiệp định thương mại (FTA) đã ký, Việt Nam thường nhập siêu, thì nay, khi thực hiện CPTTP, trong 7 tháng...
Giải đáp pháp luật
Quy định về giao dịch điện tử trong hoạt động nghiệp vụ Kho bạc Nhà nước
Trả lời

Ngày 15/12/2017, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 133/2017/TT-BTC quy định về giao dịch điện tử (GDĐT) trong hoạt động nghiệp vụ Kho bạc Nhà nước (KBNN). Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 01/02/2018.

Theo đó, Thông tư số 133/2017/TT-BTC đã bãi bỏ Thông tư số 209/2010/TT-BTC ngày 20/12/2010 và chấm dứt việc thực hiện thí điểm thủ tục GDĐT đối với dịch vụ công trên Cổng thông tin KBNN theo Quyết định số 2704/QĐ-BTC ngày 17/12/2015. So với hai văn bản trước đây, Thông tư số 133/2017/TT-BTC đã có những thay đổi đáng kể như sau:

  1. Về bảo mật thông tin

Trong quá trình tham gia dịch vụ công trực tuyến, các đơn vị giao dịch, đơn vị cung cấp thông tin và tổ chức khác phải đổi mật khẩu ban đầu trong vòng 1 ngày làm việc, kể từ khi nhận được thông báo tài khoản và mật khẩu đăng nhập Trang thông tin dịch vụ công của KBNN; thực hiện đổi mật khẩu định kỳ (tối đa không quá 3 tháng). Khi phát hiện nguy cơ không đảm bảo an toàn về tài khoản đăng nhập Trang thông tin dịch vụ công của KBNN, phải đổi mật khẩu hoặc khóa tài khoản đăng nhập và báo ngay cho bộ phận hỗ trợ để xử lý.

  1. Về thủ tục:

Khi có nhu cầu GDĐT trên Trang thông tin dịch vụ công của KBNN, các đơn vị giao dịch nhập và gửi các thông tin thông báo tham gia sử dụng hệ thống dịch vụ công trực tuyến đến KBNN qua Trang thông tin dịch vụ công của KBNN. Trong thời hạn 1 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo của đơn vị giao dịch, KBNN kiểm tra và xử lý. Trường hợp kiểm tra phù hợp, KBNN gửi thông báo cho đơn vị giao dịch bằng thư điện tử về việc chấp nhận tham gia dịch vụ công trực tuyến của đơn vị. Trường hợp kiểm tra không phù hợp, KBNN gửi thông báo bằng thư điện tử, trong đó nêu rõ lý do từ chối cho đơn vị giao dịch được biết.

Thời gian gửi, xử lý chứng từ điện tử và văn bản điện tử được thực hiện liên tục 24 giờ trong ngày và 7 ngày trong tuần, không loại trừ ngày nghỉ, ngày lễ, ngày Tết. Các đơn vị KBNN thực hiện tiếp nhận chứng từ điện tử hoặc văn bản điện tử của đơn vị giao dịch trên Trang thông tin dịch vụ công của KBNN trong giờ hành chính của ngày làm việc. Trường hợp được gửi ngoài giờ hành chính hoặc vào ngày nghỉ, ngày lễ, ngày Tết, KBNN sẽ tiếp nhận vào ngày làm việc tiếp theo.

  1. Về phương án xử lý sự cố:

Trong thời gian chưa khắc phục được sự cố trong quá trình thực hiện GDĐT trên Trang thông tin dịch vụ công của KBNN, các đơn vị giao dịch thực hiện giao dịch tại các đơn vị KBNN theo phương thức nộp hồ sơ, chứng từ, văn bản bằng giấy tại KBNN.

Có thể thấy, Thông tư số 133/2017/TT-BTC đã rút ngắn thời gian thực hiện các GDĐT trong hoạt động nghiệp vụ KBNN nhằm phát huy tối đa các ưu thế của giao dịch điện tử so với phương thức giao dịch qua văn bản truyền thống, đồng thời tăng cường đảm bảo tính an toàn của giao dịch điện tử, Qua đó, thể hiện chính sách của Nhà nước trong việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, phát triển Chính phủ điện tử trong cách mạng công nghệ 4.0.

Đẩy mạnh triển khai các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện quy định bắt buộc đội mũ bảo hiểm đối với người đi mô tô, xe gắn máy, xe đạp điện
Trả lời

Ngày 19/01/2018, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 04/CT-TTg về việc đẩy mạnh triển khai các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện quy định bắt buộc đội mũ bảo hiểm đối với người đi mô tô, xe gắn máy, xe đạp điện. Chỉ thị này có hiệu lực từ ngày ban hành.

Theo đó, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức thực hiện bắt buộc quy định đội mũ bảo hiểm đối với học sinh, sinh viên; đặc việt là học sinh từ 06 tuổi trở lên được người lớn chở đến trường bằng ô tô, xe gắn máy, xe đạp điện. Cảnh sát giao thông xử lý nghiêm phụ huynh chở con, em đến trường không đội mũ bảo hiểm; đối với học sinh, sinh viên vi phạm, hàng tháng, quý thông báo đến các trường học trên địa bàn để nhà trường nhắc nhở.

Cùng với đó, Thủ tướng Chính phủ cũng yêu cầu các bộ, ngành khắc phục những tồn tại, bất cập liên quan đến quy định bắt buộc đội mũ bảo hiểm nhằm nâng cao hiệu lực công tác quản lý nhà nước về việc sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu, phân phối mũ bảo hiểm; nâng cao tỷ lệ đội mũ bảo hiểm đạt Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia đối với người lớn là 95%, đối với trẻ em là 80% vào năm 2020; hoàn thiện quy chuẩn về mũ bảo hiểm cho người đi xe mô tô, xe gắn máy theo hướng nâng cao hệ số bảo vệ an toàn cho người sử dụng. Cụ thể:

– Bộ Công an chỉ đạo Công an các đơn vị kiểm tra, xử lý các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh mũ bảo hiểm giả, trường hợp vi phạm đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì khởi tố, điều tra, truy tố;

– Bộ Y tế chỉ đạo các Sở Y tế thống kê, phân tích số liệu về thương tích do không đội mũ bảo hiểm đối với các nạn nhân tai nạn giao thông;

– Đài Truyền hình Việt Nam không phát hành các sản phẩm truyền thông có nhân vật chính không đội mũ bảo hiểm;

– Bộ Công thương chỉ đạo lực lượng Quán lý thị trường và phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Công an, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động phân phối, kinh doanh mũ bảo hiểm;

– Bộ Thông tin và Truyền thông chỉ đạo các cơ quan thông tấn, báo chí Trung ương và địa phương đẩy mạnh tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện quy định pháp luật về đội mũ bảo hiểm;

– Bộ Tư pháp nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật xử lý vi phạm hành chính các quy định chặt chẽ, đầy đủ và nghiêm khắc hơn về hình thức, chế tài xử phạt vi phạm hành chính đối với cha mẹ, người giám hộ của trẻ em.

Cùng với việc nghiêm túc thực hiện của người tham gia giao thông, Chỉ thị số 04/CT-TTg được kỳ vọng sẽ góp phần cho việc giảm thiểu tỉ lệ tai nạn giao thông, đồng thời hạn chế những hậu quả đáng tiếc do không thực hiện nghiêm túc việc đội mũ bảo hiểm cho người tham gia giao thông.

Quy định mới về mức thu, miễn, chế độ thu, nộp quản lý và sử dụng phí quyền hoạt động viễn thông
Trả lời

Ngày 12/01/2018 Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số số 03/2018/TT-BTC sửa đổi, bổ sung một số Điều của Thông tư số 273/2016/TT-BTC ngày 14/11/2016 của Bộ Tài chính quy định mức thu, miễn, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí quyền hoạt động viễn thông và lệ phí cấp giấy phép kinh doanh dịch vụ viễn thông và giấy phép nghiệp vụ viễn thông. Thông tư này sẽ có hiệu lực kể từ ngày 01/03/2018.

Theo đó, Thông tư số số 03/2018/TT-BTC quy định doanh thu dịch vụ viễn thông để làm căn cứ tính phí thực hiện theo các quy định tại Điều 29 Nghị định số 25/2011/NĐ-CP ngày 06/04/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật viễn thông, Thông tư số 21/2013/TT-BTTTT ngày 18/12/2013 của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông quy định về doanh thu dịch vụ viễn thông và Thông tư số 01/2016/TT-BTTTT ngày 25/01/2016 của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông sửa đổi, bổ sung một số quy định của Thông tư số 21/2013/TT-BTTTT ngày 18/12/2013.

Trong trường hợp doanh nghiệp không hạch toán doanh thu dịch vụ viễn thông theo các quy định trên, doanh thu dịch vụ viễn thông được xác định là doanh thu bán hàng cung cấp dịch vụ viễn thông tại báo cáo tài chính (gồm cả doanh thu bán thẻ). Cụ thể:

  1. Căn cứ số liệu báo cáo doanh thu dịch vụ viễn thông quý, doanh nghiệp tính số phí phải nộp theo công thức sau:

Số phí phải nộp = Doanh thu dịch vụ viễn thông quý x 0,5%.

Thời điểm nộp phí cùng thời điểm nộp báo cáo doanh thu dịch vụ viễn thông quý.

  1. Căn cứ số liệu báo cáo doanh thu dịch vụ viễn thông năm, doanh nghiệp tính số phí phải nộp theo công thức sau:

Số phí phải nộp năm = Doanh thu dịch vụ viễn thông năm x 0,5%.

Trường hợp số phí phải nộp theo năm cao hơn số phí phải nộp của 04 quý, doanh nghiệp nộp bổ sung phần chênh lệch cho tổ chức thu, thời điểm nộp phí cùng thời điểm nộp báo cáo năm. Trường hợp số phí phải nộp theo năm thấp hơn số phí phải nộp của 04 quý, doanh nghiệp được bù trừ phần chênh lệch cho số phí phải nộp của quý tiếp theo.

Trường hợp số phí phải nộp theo năm tính theo doanh thu dịch vụ viễn thông (doanh thu x 0,5%) thấp hơn Mức phí tối thiểu quy định tại Biểu mức thu phí, doanh nghiệp phải nộp bổ sung phần chênh lệch cho tổ chức thu.

Trường hợp doanh nghiệp được cấp giấy phép cung cấp dịch vụ viễn thông (bao gồm cả cấp mới, sửa đổi, bổ sung giấy phép) sau ngày 01 tháng 01 hàng năm; giấy phép hết hạn hoặc bị thu hồi trước ngày 01 tháng 01 năm sau (hoạt động không tròn năm):

Mức phí tối thiểu trong trường hợp này = Mức phí tối thiểu năm (quy định tại Biểu mức thu phí) x số tháng tính phí/12

Bên cạnh đó, Thông tư số số 03/2018/TT-BTC cũng quy định phí thiết lập mạng viễn thông công cộng sẽ được Doanh nghiệp viễn thông nộp hàng năm, thời gian nộp phí trong là trong quý I

Có thể thấy, Thông tư số số 03/2018/TT-BTC đã chi tiết, cụ thể hơn các quy định về việc thu phí đối với các doanh nghiệp viễn thông, góp phần kiểm soát tốt hơn các hoạt động của các doanh nghiệp này, qua đó cũng góp phần nâng cao chất lượng quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này.

Quy định mới về ghi nhãn thuốc và tờ hướng dẫn sử dụng thuốc
Trả lời

Ngày 18/1/2018, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 01/2018/TT-BYT quy định về việc ghi nhãn thuốc, nguyên liệu làm thuốc và tờ hướng dẫn sử dụng thuốc. Thông tư này sẽ có hiệu lực kể từ ngày 01/6/2018.
Theo đó, Thông tư số 01/2018/TT-BYT Quy định cụ thể về nhãn thuốc, nguyên liệu làm thuốc và tờ hướng dẫn sử dụng thuốc, cụ thể như sau: 
Vị trí nhãn thuốc, nguyên liệu làm thuốc được thực hiện theo quy định tại Điều 4 Nghị định số 43/2017/NĐ-CP ngày 14/04/2017 của Chính phủ về nhãn hàng hóa. Tờ hướng dẫn sử dụng thuốc là một phần không thể tách rời của nhãn thuốc và được chứa trong bao bì ngoài của thuốc. Trường hợp thuốc không có bao bì ngoài, tờ hướng dẫn sử dụng phải được in hoặc gắn trên bao bì tiếp xúc trực tiếp với thuốc. Nhãn bao bì ngoài của thuốc phải ghi đầy đủ tên và hàm lượng, khối lượng hoặc nồng độ của từng thành phần dược chất, dược liệu trong công thức cho một đơn vị chia liều nhỏ nhất hoặc một đơn vị đóng gói nhỏ nhất;
Bên cạnh đó Thông tư này còn quy định cụ thể về kích thước nhãn, kích thước của chữ và số trên nhãn, màu sắc của chữ, ký hiệu và hình ảnh trên nhãn, ngôn ngữ trình bày của nhãn và tờ hướng dẫn sử dụng thuốc. 
Ngoài ra, Thông tư số 01/2018/TT-BYT cũng quy định rõ tổ chức chịu trách nhiệm ghi nhãn thuốc, nguyên liệu làm thuốc kể cả nhãn phụ, tờ hướng dẫn sử dụng thuốc phải bảo đảm ghi nhãn trung thực, rõ ràng, chính xác, phản ánh đúng bản chất của thuốc, nguyên liệu làm thuốc. 
Thông tư số 01/2018/TT-BYT sẽ là cơ sở tham chiếu tốt nhất cho các hoạt động của các nhà đầu tư trong lĩnh vực y tế để thực hiện thống nhất, đồng thời góp phần nâng cao quyền và lợi ích của người tiêu dùng.

Công bố giá cơ sở các mặt hàng xăng dầu tiêu dùng
Trả lời

Ngày 19/01/2018, Bộ Công Thương đã ban hành Công văn số 552/BCT-TTTN về việc điều hành kinh doanh xăng dầu. Công văn này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.

Theo đó Công văn số 552/BCT-TTTN quy định chi tiết về vấn đề trích lập Quỹ Bình ổn giá xăng dầu, cụ thể:

Giữ nguyên mức trích lập Quỹ Bình ổn giá xăng dầu đối với các mặt hàng xăng dầu như hiện hành. Chi sử dụng Quỹ Bình ổn giá xăng dầu đối với các mặt hàng xăng dầu

Sau khi thực hiện việc trích lập và chi sử dụng Quỹ Bình ổn giá xăng dầu tại Mục 1 nêu trên, giá bán các mặt hàng xăng dầu tiêu dùng phổ biến trên thị trường không cao hơn mức giá:

  • Xăng E5 RON92: không cao hơn 18.672 đồng/lít;

  • Dầu điêzen 0.05S: không cao hơn 15.959 đồng/lít;

  • Dầu hỏa: không cao hơn 14.560 đồng/lít;

  • Dầu madút 180CST 3.5S: không cao hơn 12.765 đồng/kg

Công văn số 552/BCT-TTTN ban hành nhằm mục đích bình ổn giá xăng, dầu trên thị trường, qua đó tránh trường hợp các doanh nghiệp lấy lý do chưa có văn bản chính thức nên tự động tăng giá làm ảnh hưởng đến tâm lý người tiêu dùng.

Quyết định về mức lãi suất cho vay ưu đãi của các tổ chức tín dụng do Nhà nước chỉ định
Trả lời

Ngày 22/01/2018, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 117/QĐ-TTg quyết định về mức lãi suất cho vay ưu đãi của các tổ chức tín dụng do Nhà nước chỉ định theo quy định tại Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ về phát triển và quản lý nhà ở xã hội. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.

Theo đó, Quyết định số 117/QĐ-TTg quy định:

Mức lãi suất cho vay ưu đãi của các tổ chức tín dụng do Nhà nước chỉ định áp dụng trong năm 2018 đối với dư nợ của các khoản cho vay để mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội; xây dựng mới hoặc cải tạo, sửa chữa nhà để ở theo quy định tại Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ về phát triển và quản lý nhà ở xã hội là 5%/năm.

Đối tượng được vay vốn ưu đãi để mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội; xây dựng mới hoặc cải tạo, sửa chữa nhà để ở là đối tượng sau: người có công với cách mạng theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng; người thu nhập thấp, hộ nghèo, cận nghèo tại khu vực đô thị; người lao động đang làm việc tại các doanh nghiệp trong và ngoài khu công nghiệp; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân trong cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân và quân đội nhân dân; cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức. Các đối tượng trên được vay tối thiểu là 15 năm kể từ ngày giải ngân khoản vay đầu tiên. Trường hợp khách hàng có nhu cầu vay với thời hạn thấp hơn thời hạn cho vay tối thiểu thì được thỏa thuận với ngân hàng về thời hạn cho vay thấp hơn.

Như vậy, có thể thấy, so với năm 2016 và 2017, mức lãi suất cũng như đối tượng được hưởng mức lãi suất nêu trên vẫn không thay đổi. Qua đó, Quyết định này tiếp tục thể hiện chính sách của Chính phủ là chính sách khuyến khích, duy trì các ưu đãi đối với dư nợ của các khoản cho vay để mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội; xây dựng mới hoặc cải tạo, sửa chữa nhà để ở.

Quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Tiếp cận thông tin
Trả lời

Ngày 23/01/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 13/2018/NĐ-CP quy định chi tiết và biện pháp thi hành luật tiếp cận thông tin. Nghị định này sẽ có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2018.

Theo đó, Nghị định số 13/2018/NĐ-CP nêu rõ các biện pháp tạo điều kiện thuận lợi để người sinh sống ở khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn và người khuyết tật thực hiện quyền tiếp cận thông tin; đồng thời Nghị định cũng quy định về tiếp cận thông tin của công dân thông qua tổ chức, đoàn thể, doanh nghiệp và mẫu phiếu yêu cầu cung cấp thông tin và các biện pháp thi hành Luật tiếp cận thông tin. Cụ thể như sau:

  1. Người đứng đầu cơ quan cung cấp thông tin có trách nhiệm cho phép người yêu cầu cung cấp thông tin sử dụng điện thoại di động và các phương tiện kỹ thuật khác của cá nhân để sao, chụp văn bản, hồ sơ tài liệu; Bố trí địa điểm đọc, nghe, xem, ghi chép, sao chép, chụp thông tin để cung cấp thông tin trực tiếp tại trụ sở cơ quan; Bố trí thiết bị tại trụ sở cơ quan phù hợp cung cấp thông tin vào tạo thuận lợi cho công dân tiếp cận thông tin bằng hình ảnh, video và cung cấp thông tin nghe, nhìn khác.
  2. Tăng thời lượng truyền, phát bản tin đối với loại thông tin liên quan đến cơ chế, chính sách của người dân sinh sống tại khu vực biện giới, hải đảo, miền núi, vùng có điều kiện đặc biệt khó khăn.
  3. Căn cứ vào điều kiện thực tế, cơ quan nhà nước thiết lập Cổng thông tin điện tử, Trang thông tin điện tử của cơ quan mình trong đó có cung cấp chức năng cơ bản để hỗ trợ người khuyết tật tiếp cận, sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông cho việc tiếp cận thông tin đăng tải trên các Cổng thông tin điện tử, Trang thông tin điện tử.
  4. Nhà nước tạo điều kiện và khuyến khích doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ vào việc xây dựng hệ thống thông tin công cộng; nâng cấp; đầu tư các trang thiết bị chuyên dùng phục vụ cho hoạt động cung cấp thông tin của Nhà nước ở khu vực biên giới, hải đảo.

Bằng việc ban hành Nghị định số 13/2018/NĐ-CP, Chính phủ đã tạo ra khung pháp lý cụ thể để hỗ trợ cho mọi công dân, đặc biệt là các đối tượng ở vùng sâu vùng xa, các đối tượng bị khuyết tật được tiếp cận với thông tin dễ dàng và thuận tiện hơn. Qua đó, góp phần đảm bảo tốt hơn cho quyền công dân và quyền con người theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013.

Kế hoạch hành động quốc gia phát triển ngành tôm Việt Nam đến năm 2025
Trả lời

Ngày 18/01/2018, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 79/QĐ-TTg về Kế hoạch hành động quốc gia phát triển ngành tôm Việt Nam đến năm 2025. Quyết định này có hiệu kể từ ngày ban hành.
Quyết định số 79/QĐ-TTg đã nêu rõ mục tiêu, định hướng phát triển, nhiệm vụ và giải pháp thực hiện để phát triển ngành tôm, cụ thể như sau:
Về mục tiêu: Phát triển ngành tôm Việt Nam trở thành ngành công nghiệp sản xuất lớn, bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường sinh thái; nâng cao chất lượng, giá trị, hiệu quả sản xuất và sức cạnh tranh của sản phẩm tôm Việt Nam, mang lại lợi ích cho người dân, doanh nghiệp và nền kinh tế đất nước, cụ thể: Trong giai đoạn 2017-2020 phải tăng năng suất, sản lượng, chất lượng và giá trị sản phẩm tôm thông qua áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ, tổ chức lại sản xuất; trong giai đoạn 2021-2025 phải hình thành các vùng công nghiệp trọng điểm về nuôi tôm công nghệ cao với hệ thống cơ sở hạ tầng, dịch vụ kỹ thuật được đầu tư đồng bộ.
Về định hướng phát triển:
– Phát huy tiềm năng về điều kiện tự nhiên;
– Phát triển ngành tôm theo quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao và các thành tựu khoa học kỹ thuật;
– Phát triển sản xuất gắn chặt với nhu cầu của thị trường; nâng cao chất lượng và xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm tôm Việt Nam;
– Đầu tư phát triển ngành tôm theo tư duy hệ thống và chuỗi giá trị, trong đó doanh nghiệp đóng vai trò dẫn dắt và là động lực của toàn chuỗi giá trị;
– Tổ chức lại sản xuất theo hướng hợp tác, liên kết các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ để tạo vùng sản xuất nguyên liệu tập trung quy mô lớn.
Về nhiệm vụ: Quyết định 79/QĐ-TTg đã chỉ rõ từng nhiệm vụ với từng lĩnh vực cụ thể như: Đối với nuôi tôm nước lợ thâm canh, bán thâm canh; Đối với tôm nước lợ nuôi hữu cơ, nuôi sinh thái, nuôi quảng canh; Đối với nuôi tôm càng xanh; Đối với nuôi tôm hùm; Đối với chế biến và tiêu thụ các sản phẩm tôm.
Về giải pháp thực hiện: Quyết định 79-TTg cũng vạch ra các giải pháp cụ thể từ khâu tổ chức và quản lý sản xuất; về mặt khoa học công nghệ và khuyến ngư; các giải pháp trong phát triển thị trường; giải pháp trong việc thích ứng với biến đổi khí hậu và ô nhiễm môi trường; về cơ chế chính sách của Nhà nước; các giải pháp về đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ ngành tôm; về nguồn vốn thực hiện và các giải pháp trong hợp tác quốc tế.
Có thể thấy rằng Quyết định 79-TTg đã vạch ra một kế hoạch khá cụ thể, chi tiết trong việc phát triển ngành tôm Việt Nam đến năm 2025, qua đó có thể hy vọng rằng ngành tôm Việt Nam sẽ đi đúng hướng theo kế hoạch và đạt được các những kết quả đã vạch ra, góp phần vào sự phát triển nền kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn tới

Quy định chi tiết về các biện pháp phòng vệ thương mại
Trả lời

Ngày 15/01/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 10/2018/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý ngoại thương về các biện pháp phòng vệ thương mại. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.

Nghị định số 10/2018/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý ngoại thương về căn cứ tiến hành, trình tự, thủ tục, thời hạn, nội dung, căn cứ chấm dứt điều tra vụ việc phòng vệ thương mại; cách xác định thiệt hại của ngành sản xuất trong nước; chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại; áp dụng, rà soát biện pháp phòng vệ thương mại; trách nhiệm phối hợp của các cơ quan liên quan trong quá trình điều tra; miễn trừ áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại; xử lý biện pháp phòng vệ thương mại áp dụng đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam.

Theo đó, Nghị định này quy định trong các vụ việc điều tra chống bán phá giá, chống trợ cấp, các nhà sản xuất trong một thị trường địa lý nhất định trên lãnh thổ Việt Nam có thể được coi là ngành sản xuất trong nước nếu thỏa mãn các điều kiện sau:

  1. Các nhà sản xuất trên thị trường địa lý đó bán toàn bộ hoặc hầu như toàn bộ hàng hoá họ sản xuất được trên thị trường đó;
  2. Nhu cầu của thị trường địa lý đó không được đáp ứng một cách đáng kể bởi các nhà sản xuất hàng hóa tương tự trong nước ở các thị trường địa lý khác.

Bên cạnh đó, Nghị định số 10/2018/NĐ-CP còn quy định việc áp dụng thuế chống bán phá giá, chống trợ cấp tạm thời, mức thuế, thời hạn áp thuế và việc gia hạn thời gian áp thuế thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 81 và khoản 1 Điều 89 của Luật Quản lý ngoại thương.

Thuế chống bán phá giá, chống trợ cấp tạm thời được áp dụng không sớm hơn 60 ngày kể từ ngày Bộ trưởng Bộ Công Thương quyết định điều tra. Trong trường hợp thuế chống bán phá giá, chống trợ cấp tạm thời được áp dụng thấp hơn biên độ bán phá giá, mức trợ cấp trong kết luận sơ bộ hoặc trong trường hợp tổ chức, cá nhân xuất khẩu hàng hóa bị điều tra vào Việt Nam yêu cầu gia hạn áp dụng thuế chống bán phá giá, chống trợ cấp tạm thời và khối lượng, số lượng hàng hoá bị điều tra của tổ chức, cá nhân xuất khẩu yêu cầu đó chiếm tỷ lệ đáng kể trong tổng khối lượng, số lượng hàng hóa bị điều tra nhập khẩu vào Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Công Thương có thể gia hạn thời gian áp dụng thuế chống bán phá giá, chống trợ cấp tạm thời nhưng thời gian gia hạn không quá 60 ngày. Trong thời hạn 15 ngày kể từ khi Cơ quan điều tra gửi Bộ trưởng Bộ Công Thương kết luận cuối cùng, Bộ trưởng Bộ Công Thương ban hành quyết định về vụ việc.

Nghị định số 10/2018/NĐ-CP đã quy định chi tiết các biện pháp phòng vệ thương mại một cách chi tiết nhất, góp phần giảm thiểu những khó khăn vướng mắc cho doanh nghiệp, qua đó nâng cao chất lượng quản lý của Nhà nước trong các hoạt động thương mại.

Ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng về quản lý, điều hành giá xăng dầu
Trả lời

Ngày 11/01/2018, Văn phòng Chính phủ đã ban hành Công văn số 439/VPCP – KTTH thông báo ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ đối với việc quản lý, điều hành giá xăng dầu. Công văn này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.

Theo đó, đối với việc công bố giá cơ sở các mặt hàng xăng dầu, Phó Thủ tướng yêu cầu thực hiện theo đúng quy định tại Nghị định số 83/2014/NĐ-CP ngày 3/9/2014 của Chính phủ về kinh doanh xăng dầu và các văn bản hướng dẫn liên quan.

Bên cạnh đó, Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan tiếp tục theo dõi tình hình tiêu thụ xăng E5RON 92, RON 95 tiêu chuẩn khí thải Euro 3, Euro 4,… trong Quý I năm 2018 để công bố giá cơ sở các mặt hàng xăng dầu phù hợp với thị trường và quy định pháp luật.

Đối với công tác điều hành giá xăng dầu, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ chỉ đạo liên Bộ Công Thương – Tài chính tiếp tục điều hành giá xăng E5RON 92, RON 95 và các mặt hàng xăng dầu khác theo nguyên tắc hài hòa, đồng bộ, linh hoạt trong việc trích lập và chi sử dụng Quỹ bình ổn giá xăng dầu nhằm kiểm soát mặt bằng giá xăng dầu.

Ngoài ra, Liên Bộ Công Thương – Tài chính chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tăng cường công tác thông tin tuyên truyền về lợi ích của xăng E5RON 92 để người tiêu dùng tin tưởng, yên tâm sử dụng;

Ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ tại Công văn số 439/VPCP – KTTH là những hướng đi nhằm tăng cường công tác kiểm soát chất lượng, tránh gian lận trong kinh doanh xăng dầu, đồng thời góp phần thực hiện tốt công tác quản lý phân phối, quy hoạch bảo đảm nguồn nguyên, nhiên liệu phục vụ xăng sinh học.