Ngày 26/12/2017 Chính phủ ban hành nghị định số 149/2017/NĐ-CP quy định về biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc giai đoạn 2018 – 2022. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 01/ 01/2018.
Theo Nghị định số 149/2017/NĐ-CP các đối tượng áp dụng của biểu thuế ưu đãi bao gồm:
Bên cạnh đó, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt ban hành kèm theo Nghị định số 149/2017/NĐ-CP quy định từng mức thuế cụ thể đối với từng loại hàng hóa theo 05 giai đoạn sau:
– Giai đoạn 5: Từ 01/01/2022 – 31/12/2022;
Ngoài ra, điều kiện để hàng hóa được áp dụng thuế suất nhập khẩu ưu đãi đặc biệt cũng được quy định như sau:
Nghị định số 149/2017/NĐ-CP sẽ thay thế Nghị định số 131/2016/NĐ-CP ngày 01/09/2016 của Chính phủ ban hành Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc giai đoạn 2016-2018
Ngày 15/01/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 09/2018/NĐ-CP Quy định chi tiết Luật Thương mại và Luật Quản lý ngoại thương về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa của nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam . Nghị định này có hiệu lực từ ngày 15/01/2018.
Theo đó, Nghị định số 09/2018/NĐ-CP quy định ngoài nhà đầu tư (NĐT) thuộc nước, vùng lãnh thổ tham gia Điều ước mà Việt Nam là thành viên có cam kết mở cửa thị trường cho hoạt động mua bán hàng hóa thì những đối tượng sau nếu đáp ứng điều kiện cũng được cấp giấy phép:
– NĐT nước ngoài không thuộc nước, vùng lãnh thổ tham gia Điều ước mà Việt Nam là thành viên;
– NĐT nước ngoài thuộc nước, vùng lãnh thổ tham gia Điều ước mà Việt Nam là thành viên nhưng không có cam kết mở cửa với hàng hóa, dịch vụ muốn kinh doanh.
Về cơ quan cấp phép, Nghị định số 09/2018/NĐ-CP cũng đã quy định lại chức năng thẩm quyền câp Giấy phép kinh doanh từ Ủy ban nhân dân Thành phố (theo Nghị định 23/2007/NĐ-CP ngày 12/02/2007 của Chính phủ) sang Sở Công Thương, nơi tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đặt trụ sở sẽ là cơ quan có thẩm quyền cấp, cấp lại, thu hồi, điều chỉnh, gia hạn, thu hồi Giấy phép kinh doanh, giấy phép lập cơ sở bán lẻ.
Đối với thời gian cấp giấy phép, căn cứ theo Nghị định 09/2018/NĐ-CP thì thời gian cấp Giấy phép kinh doanh được rút ngắn đáng kể phù hợp với mục tiêu đơn giản hóa thủ tục hành chính pháp lý.
Với các quy định mới này, Nghị định số 09/2018/NĐ-CP đã góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào thị trường Việt Nam, đồng thời củng cố khâu quản lý nhà nước trong việc Cấp phép kinh doanh.
Ngày 15/01/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 08/2018/NĐ-CP quy định điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc phạm vi quản lý Nhà nước của Bộ Công Thương. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.
Theo đó, Nghị định số 08/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số nội dung trong các Nghị định trước của Chính phủ trong 8 lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý Nhà nước của Bộ Công Thương, bao gồm: lĩnh vực xăng dầu, lĩnh vực thuốc lá, lĩnh vực điện lực, lĩnh vực nhượng quyền thương mại, lĩnh vực thương mại điện tử, lĩnh vực hóa chất, lĩnh vực vật liệu nổ công nghiệp, lĩnh vực kinh doanh thực phẩm thuộc quản lý chuyên ngành của Bộ Công Thương, cụ thể như sau:
1. Trong lĩnh vực xăng dầu: Bãi bỏ một số điều kiện đối với thương nhân kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu xăng dầu, điều kiện sản xuất xăng dầu, điều kiện đối với cửa hàng bán lẻ xăng dầu, điều kiện kinh doanh dịch vụ cho thuê cảng, kho tiếp nhận xăng dầu;
2. Trong lĩnh vực thuốc lá: Bãi bỏ một số điều kiện cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện trồng cây thuốc lá, Giấy phép mua bán nguyên liệu thuốc lá, Giấy phép chế biến nguyên liệu thuốc lá, Giấy phép sản xuất sản phẩm thuốc lá, Giấy phép mua bán sản phẩm thuốc lá;
3. Trong lĩnh vực điện lực: Bãi bỏ điều kiện chung để cấp, sửa đổi, bổ sung giấy phép hoạt động điện lực, Giấy phép tư vấn quy hoạch phát triển điện lực quốc gia, Giấy phép tư vấn quy hoạch phát triển điện lực tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Giấy phép tư vấn quy hoạch thủy điện; Bãi bỏ, sửa đổi một số điều kiện cấp Giấy phép hoạt động phát điện, Giấy phép hoạt động truyền tải điện, Giấy phép hoạt động phân phối điện, Giấy phép hoạt động bán buôn điện, Giấy phép hoạt động bán lẻ điện, Giấy phép xuất, nhập khẩu điện và một số loại Giấy phép tư vấn.
4. Trong lĩnh vực nhượng quyền thương mại: Bãi bỏ điều kiện đối với Bên nhượng quyền, Bên nhận quyền và bãi bỏ điều kiện hàng hóa, dịch vụ dược phép kinh doanh nhượng quyền thương mại.
5. Trong lĩnh vực thương mại điện tử: Bãi bỏ một số điều kiện thiết lập website thương mại điện tử bán hàng, bãi bỏ yêu cầu về tài chính và kỹ thuật khi cấp phép hoạt động chứng thực hợp đồng điện tử
6. Trong lĩnh vực hóa chất: Bãi bỏ một số điều kiện sản xuất hóa chất Bảng 1, Bảng 2, Bảng 3.
7. Trong lĩnh vực vật liệu nổ công nghiệp: Bãi bỏ một số điều kiện xuất khẩu, nhập khẩu vật liệu nổ công nghiệp
8. Trong lĩnh vực kinh doanh thực phẩm: Sửa đổi, bổ sung một số điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực an toàn thực phẩm, điều kiện đối với cơ sở sản xuất, điều kiện đối với trang thiết bị, dụng cụ, điều kiện đối với bảo quản thực phẩm trong sản xuất thực phẩm.
Bằng việc ban hành Nghị định số 08/2018/NĐ-CP Chính phủ đã bãi bỏ và sửa đổi khá nhiều các điều kiện về kinh doanh và được cấp Giấy phép trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý Nhà nước của Bộ Công Thương, qua đó sẽ góp phần đảm bảo môi trường đầu tư kinh doanh thông thoáng, theo thông lệ quốc tế.
Ngày 09/01/2018, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao ban hành Hướng dẫn số 12/HD-VKSTC về công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm an ninh an ninh năm 2018. Hướng dẫn này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.
Hướng dẫn Số 12/HD-VKSTC có một số điểm nổi bật như sau:
Về công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố:
Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND) cấp tỉnh tập trung chỉ đạo để nâng cao chất lượng công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, đảm bảo tuân thủ pháp luật, chống oan sai và bỏ lọt tội phạm trong công tác này. Quản lý đầy đủ số liệu thụ lý, thời hạn và kết quả giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của Cơ quan điều tra và các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thuộc thẩm quyền. Tăng cường yêu cầu kiểm tra, xác minh bằng văn bản; kiểm sát chặt chẽ việc tiếp nhận, thụ lý, giải quyết của cơ quan có thẩm quyền; kiểm sát căn cứ tạm đình chỉ, phục hồi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Tổng hợp vi phạm trong lĩnh vực này để kiến nghị khắc phục.
Ngay khi phát hiện có vi pháp pháp luật nghiêm trọng hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà Viện kiểm sát đã yêu cầu nhưng không được khắc phục, Viện trưởng VKSND phân công Kiểm sát viên trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Đảm bảo tỷ lệ giải quyết, các cuộc kiểm sát trực tiếp việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố đạt chỉ tiêu nghiệp vụ của Ngành.
VKSND cấp huyện phối hợp chặt chẽ với cơ quan chức năng nắm chắc diễn biến tình hình an ninh chính trị trên địa bàn, kịp thời báo cáo về VKSND cấp tỉnh để chỉ đạo, giải quyết. Tăng cường trả lời thỉnh thị, hướng dẫn nghiệp vụ Viện kiểm sát cấp huyện theo Chỉ thị số 03/CT-VKSTC ngày 28/12/2017 của Viện trưởng VKSND tối cao và Quy chế của Ngành. Đối với những vụ việc đặc biệt nghiêm trọng, dư luận xã hội quan tâm hoặc có nguy cơ xảy ra điểm nóng, Lãnh đạo VKSND tỉnh trực tiếp hướng dẫn, chỉ đạo giải quyết….
Về công tác quản lý, chỉ đạo điều hành:
Tổ chức thực hiện tốt những quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 và Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, các Nghị quyết của Quốc hội về công tác tư pháp, các văn bản của Ngành về triển khai thực hiện Luật. Lãnh đạo VKSND cấp tỉnh chỉ đạo các đơn vị xây dựng kế hoạch công tác, xác định khâu công tác còn tồn tại, yếu kém để đề ra các giải pháp đột phá, nâng cao chất lượng, tạo chuyển biến trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao, hoàn thành chỉ tiêu nghiệp vụ của Ngành.
Hướng dẫn Số 12/HD-VKSTC ngày 09/01/2018 với những quy định mới và chi tiết là một bước tiến mang tính đột phá và rất cần thiết đối với lĩnh vực tư pháp hiện nay, đó sẽ là cơ sở đảm bảo tốt cho sự vận hành, phát huy vai trò của các cơ quan công tố, bảo vệ tốt nhất cho quyền vào lợi ích hợp pháp của công dân.
Ngày 05/01/2018, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao ban hành Hướng dẫn số 04/HD-VKSTC về công tác kiểm sát và giải quyết Đơn khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp năm 2018. Hướng dẫn này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.
Hướng dẫn số 04/HD-VKSTC quy định công tác kiểm sát và giải quyết Đơn khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp cụ thể như sau:
Về công tác tiếp nhận, quản lý và xử lý đơn khiếu nại, tố cáo:
Đơn vị 12 của Viện kiểm sát các cấp có trách nhiệm phân loại chính xác, xử lý kịp thời các đơn đã tiếp nhận, chuyển ngay đến đơn vị nghiệp vụ khác hoặc thụ lý để giải quyết đơn thuộc thẩm quyền, không để ảnh hưởng thời hạn giải quyết; đồng thời, quản lý, đôn đốc việc giải quyết.
Khi tiếp nhận đơn khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự, Đơn vị 12 phải căn cứ các quy định về thẩm quyền, thời hiệu, thời hạn giải quyết khiếu nại, tố cáo tại Chương XXXIII để phân loại đơn đảm bảo chính xác, xử lý kịp thời, tránh để xảy ra sai sót, chậm trễ, ảnh hưởng đến việc giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền.
Thực hiện khoản 2 Điều 469, khiếu nại cáo trạng, quyết định truy tố, quyết định áp dụng thủ tục rút gọn thì xử lý, giải quyết theo quy định tại các Chương tương ứng. Do đó, khi nhận được khiếu nại đối với các quyết định này, Đơn vị 12 chuyển đến đơn vị nghiệp vụ của cấp mình hoặc Viện kiểm sát đã ban hành quyết định đó để xem xét theo hồ sơ vụ án và ban hành công văn trả lời trong trường hợp cần thiết.
Về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp:
Trường hợp khiếu nại, tố cáo về vụ việc có oan, sai, phức tạp, kéo dài; do các cơ quan Trung ương Đảng, Quốc hội, cơ quan giám sát yêu cầu xem xét, giải quyết hoặc vụ việc khiếu nại, tố cáo dư luận quan tâm thì lãnh đạo Viện kiểm sát có thẩm quyền phải trực tiếp xem xét, chỉ đạo giải quyết, tham gia đối thoại với người khiếu nại, người bị khiếu nại. Nếu Viện trưởng không trực tiếp phụ trách thì Phó Viện trưởng phụ trách phải báo cáo với Viện trưởng để có quan điểm giải quyết chính thức của Viện kiểm sát cấp mình khi ban hành quyết định, kết luận giải quyết.
Trường hợp khiếu nại, tố cáo phức tạp, Viện kiểm sát có thẩm quyền giải quyết cần báo cáo thỉnh thị Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp về lĩnh vực liên quan để được chỉ đạo giải quyết, hạn chế khiếu kiện vượt cấp.
Quá trình phối hợp giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp thuộc thẩm quyền, đơn vị chủ trì phải nghiên cứu kỹ hồ sơ, nắm rõ nội dung vụ việc, thực hiện theo quy trình, có quan điểm đánh giá về nội dung khiếu nại, tố cáo trong văn bản gửi đơn vị phối hợp, đảm bảo việc giải quyết được khách quan, đúng pháp luật và quy định của Ngành.
Mặt khác, Công tác kiểm tra lại quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật cũng được ghi nhận một cách chi tiết, theo đó: Đối với đơn đề nghị kiểm tra quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật đủ điều kiện xem xét theo Điều 14 Quy chế số 51, Đơn vị 12 thuộc Viện kiểm sát cấp có thẩm quyền báo cáo, đề xuất lãnh đạo Viện phụ trách về việc thụ lý; chủ động nghiên cứu hồ sơ, phối hợp thực hiện quy trình kiểm tra, có quan điểm độc lập đánh giá, trao đổi với đơn vị nghiệp vụ liên quan báo cáo lãnh đạo để có quan điểm kết luận thống nhất của Viện kiểm sát cấp mình.
Hướng dẫn Số 04/HD-VKSTC là một bước tiến mang tính đột phá và rất cần thiết đối với lĩnh vực tư pháp hiện nay, đó sẽ là cơ sở đảm bảo tốt cho sự vận hành, phát huy vai trò của các cơ quan giải quyết khiếu nại tố cáo, bảo vệ tốt nhất cho quyền vào lợi ích hợp pháp của công dân.
Ngày 05/01/2018, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội đã ban hành Kế hoạch số 07/KH-UBND về việc triển khai các giải pháp nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm cộng đồng khi tham gia môi trường mạng giai đoạn 2018-2020. Kế hoạch này có hiệu lực từ ngày ký.
Thông qua Kế hoạch số 07/KH-UBND, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động cộng đồng trong việc chấp hành các quy định của pháp luật khi cung cấp, sử dụng, quản lý thông tin trên mạng. Đa dạng hóa hình thức tuyên truyền: Xây dựng phim tài liệu, phóng sự, video clip, truyện tranh, talkshow… trên nhiều phương tiện truyền thông như truyền hình, báo chí, mạng xã hội… nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả tuyên truyền, phổ biến tới mọi đối tượng trong cộng đồng.
Bên cạnh đó, các cơ quan tổ chức đào tạo tập huấn về kiến thức, kỹ năng viết tin bài cho cán bộ phụ trách viết các tin bài trên trang/cổng thông tin điện tử của các cơ quan nhà nước thành phố, trên cơ sở đó cung cấp đến cho người dân những thông tin chính thống, không để các đối tượng xấu lợi dụng xuyên tạc. Thường xuyên rà soát, tham mưu các cấp có thẩm quyền điều chỉnh, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật về hoạt động quản lý thông tin trên môi trường mạng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động quản lý nhà nước, sự phát triển của doanh nghiệp trên lĩnh vực thông tin điện tử, ngăn chặn các hành vi lợi dụng môi trường mạng để thực hiện các hoạt động vi phạm pháp luật.
Kế hoạch số 07/KH-UBND ban hành nhằm thiết lập nên cơ chế quản lý nhà nước về bảo mật thông tin mạng, ngăn chặn thông tin xấu, thiết lập và vận hành hệ thống thu thập, tổng hợp thông tin mạng. Thêm vào đó là đưa ra các phương án, các giải pháp cơ bản và chi tiết cho việc hạn chế các thông tin không lành mạnh bị phát tán trên mạng xã hội.
Ngày 29/12/2017, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn ban hành Thông tư số 29/2017/TT-BNNPTNT công bố Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với sản phẩm sữa tươi nguyên liệu (ký hiệu: QCVN 01-186: 2017/BNNPTNT). Quy chuẩn QCVN 01-186: 2017/BNNPTNT có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2018.
Quy chuẩn QCVN 01-186: 2017/BNNPTNT áp dụng đối với tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh sữa tươi nguyên liệu có giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp tại Việt Nam và các cơ quan có liên quan.
Theo đó, sữa tươi nguyên liệu được quy định trong quy chuẩn QCVN 01-186: 2017/BNNPTNT là sữa nguyên chất dạng lỏng thu được từ bò, trâu, dê, cừu, chưa bổ sung hoặc tách bớt bất cứ thành phần nào của sữa, chưa xử lý qua bất kỳ phương pháp nào, được dùng làm nguyên liệu để chế biến. Bên cạnh đó, các yêu cầu về chỉ tiêu cảm quan và chỉ tiêu lý, hóa của sữa tươi nguyên liệu được quy định tại Phụ lục A Quy chuẩn này.
Ngoài ra, việc đánh giá sự phù hợp đối với quy chuẩn này đối với tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh sữa tươi nguyên liệu thực hiện theo Phương thức 5 quy định tại Thông tư số 28/2012/TT-BKHCN ngày 12/12/2012 quy định về công bố hợp chuẩn, công bố hợp quy và phương thức đánh giá sự phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật của Bộ Khoa học và Công nghệ.
Quy chuẩn QCVN 01-186: 2017/BNNPTNT được kỳ vọng sẽ tăng cường công tác quản lý nhà nước trong các hoạt động kinh doanh, sản xuất sản phẩm sữa tươi nguyên liệu.
Ngày 27/12/2017, Chính phủ ban hành Nghị định số 160/2017/NĐ-CP quy định về biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện ASEAN – Nhật Bản giai đoạn 2018 – 2023. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2018 và có các nội dung chính như sau:
1. Các đối tượng áp dụng của biểu thuế ưu đãi bao gồm: Người nộp thế theo quy định của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; Cơ quan hải quan, công chức hải quan; Tổ chức, cá nhân có quyền và nghĩa vụ liên quan đến hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
2. Ban hành Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt đối với từng loại hàng hóa theo 06 giai đoạn sau:
– Giai đoạn 1: Từ 01/01/2018 – 31/3/2018;
– Giai đoạn 2: Từ 01/4/2018 – 31/3/2019;
– Giai đoạn 3: Từ 01/4/2019 – 31/3/2020;
– Giai đoạn 4: Từ 01/4/2020 – 31/3/2021;
– Giai đoạn 5: Từ 01/4/2021 – 31/3/2022;
– Giai đoạn 6: Từ 01/4/2022 – 31/3/2023.
3. Điều kiện để hàng hóa được áp dụng thuế suất nhập khẩu ưu đãi đặc biệt bao gồm:
– Thuộc Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt được ban hành kèm Nghị định này;
– Là hàng hóa được nhập khẩu từ các nước là thành viên của Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện ASEAN – Nhật Bản, bao gồm 9 quốc gia (còn lại) trong khu vực ASEAN và Nhật Bản;
– Được vận chuyển trực tiếp từ nước xuất khẩu 9 quốc gia (còn lại) trong khu vực ASEAN và Nhật Bản vào Việt Nam do Bộ Công Thương quy định;
– Đáp ứng các quy định về xuất xứ hàng hóa trong Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện ASEAN – Nhật Bản, có Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O) mẫu AJ theo quy định của pháp luật.
Nghị định số 160/2017/NĐ-CP sẽ thay thế Nghị định số 133/2016/NĐ-CP ngày 01/09/2016 quy định về Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện ASEAN – Nhật Bản giai đoạn 2016 -2019.
Ngày 27/12/2017, Chính phủ ban hành Nghị định số 153/2017/NĐ-CP quy định về biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện ASEAN – Trung Quốc giai đoạn 2018 – 2022. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2018. Bao gồm các nội dung chính như sau:
1. Các đối tượng áp dụng của biểu thuế ưu đãi bao gồm: Người nộp thế theo quy định của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; Cơ quan hải quan, công chức hải quan; Tổ chức, cá nhân có quyền và nghĩa vụ liên quan đến hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
2. Ban hành Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt đối với từng loại hàng hóa theo 05 giai đoạn sau:
– Giai đoạn 1: Từ 01/01/2018 – 31/12/2018;
– Giai đoạn 2: Từ 01/01/2019 – 31/12/2019;
– Giai đoạn 3: Từ 01/01/2020 – 31/12/2020;
– Giai đoạn 4: Từ 01/01/2021 – 31/12/2021;
– Giai đoạn 5: Từ 01/01/2022 – 31/12/2022.
3. Điều kiện để hàng hóa được áp dụng thuế suất nhập khẩu ưu đãi đặc biệt bao gồm:
– Thuộc Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt được ban hành kèm Nghị định này;
– Là hàng hóa được nhập khẩu từ các nước là thành viên của Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện ASEAN – Trung Quốc, bao gồm 9 quốc gia (còn lại) trong khu vực ASEAN và Trung Quốc;
– Được vận chuyển trực tiếp từ nước xuất khẩu 9 quốc gia (còn lại) trong khu vực ASEAN và Trung Quốc vào Việt Nam do Bộ Công Thương quy định;
– Đáp ứng các quy định về xuất xứ hàng hóa trong Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện ASEAN – Trung Quốc, có Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O) mẫu AJ theo quy định của pháp luật.
Nghị định 153/2017/NĐ-CP sẽ thay thế Nghị định 128/2016/NĐ-CP về Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN – Trung Quốc giai đoạn 2016-2018.
Ngày 30/12/2017, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 163/2017/NĐ-CP quy định về kinh doanh dịch vụ logistics. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 20/02/2018.
Theo đó, Nghị định số 163/2017/NĐ-CP quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics và giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics. Cụ thể như sau:
Logistics được đánh giá là một trong những ngành nghề dịch vụ đầy tiềm năng của nước ta hiện nay. Do đó, thông qua việc ban hành Nghị định số 163/2017/NĐ-CP Nhà nước hết sức khuyến khích các doanh nghiệp logistics Việt Nam vươn lên để nắm bắt các cơ hội này, thúc đẩy sự liên kết các doanh nghiệp logistics trong nước, nâng cao vai trò hoạt động của các hiệp hội, hướng đến một môi trường cạnh tranh công bằng, phát triển nhanh và mạnh mẽ hơn nữa trong tương lai.