Nhiều ngân hàng tăng mạnh lãi suất huy động
Với mong muốn bổ sung thêm nguồn vốn trung, dài hạn để phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh cuối năm, đồng thời giảm...
Bùng nổ nhượng quyền thương hiệu vào Việt Nam
Hoạt động nhượng quyền đang được giới kinh doanh vận dụng để đưa các thương hiệu nước ngoài vào thị trường Việt Nam. Ngoài lĩnh...
6 ngành kinh tế phát triển mũi nhọn khu vực miền Trung
Có 6 lĩnh vực kinh tế biển, ven biển đang được các tỉnh miền Trung tập trung phát triển và đã đạt được những kết...
91.9% doanh nghiệp lạc quan về hoạt động sản xuất 6 tháng cuối năm
Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có tỷ lệ doanh nghiệp dự báo về khối lượng sản xuất khả...
Việt Nam chuyển dần từ nhập siêu sang xuất siêu với CPTPP
Với hầu hết các hiệp định thương mại (FTA) đã ký, Việt Nam thường nhập siêu, thì nay, khi thực hiện CPTTP, trong 7 tháng...
Giải đáp pháp luật
Quy định mới về hoạt động bán khoản phải thu từ hợp đồng cho thuê tài chính
Trả lời

Ngày 29/12/2017, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành Thông tư số 20/2017/TT-NHNN về quy định bán khoản phải thu từ hợp đồng cho thuê tài chính chính thức có hiệu lực kể từ ngày 12/02/2018. Theo đó, hoạt động bán khoản phải thu từ hợp đồng cho thuê tài chính của Công ty tài chính, Công ty cho thuê tài chính sẽ thực hiện theo quy định sau:

Thứ nhất, phương thức bán khoản phải thu được thực hiện theo thỏa thuận thông qua đàm phán trực tiếp giữa bên bán và bên mua hoặc gián tiếp thông qua bên môi giới, hoặc đấu giá tài sản theo quy định của pháp luật về đấu giá tài sản.

Thứ hai, Công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính phải thành lập Hội đồng bán khoản phải thu phù hợp với điều lệ, quy định nội bộ về hoạt động bán khoản phải thu.

Thứ ba, giá bán khoản phải thu phải bảo đảm nguyên tắc công khai, minh bạch, theo quy định của pháp luật; giá bán phù hợp với nguyên tắc thị trường; xác định trên cơ sở giá trị ghi sổ của khoản phải thu, việc đánh giá khả năng trả nợ của bên thuê tài chính, giá trị tài sản cho thuê tài chính, phân loại nợ khoản cho thuê tài chính và các yếu tố thị trường khác.

Thứ tư, đồng tiền sử dụng trong giao dịch bán khoản phải thu là đồng Việt Nam, việc sử dụng ngoại tệ làm đồng tiền thanh toán chỉ được thực hiện trong trường hợp công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính bán khoản phải thu bằng ngoại tệ cho bên mua là người không cư trú.

Thứ năm, việc bán khoản phải thu phải được lập thành Hợp đồng. Hợp đồng bán khoản phải thu phải có đầy đủ các thông tin theo quy định trong Điều 11 Thông tư này, ngoài ra các bên có thể thoả thuận các nội dung khác nhưng phải phù hợp với Thông tư này.

Thứ sáu, việc xử lý tài chính, hạch toán kế toán, báo cáo thống kê theo quy định của pháp luật hiện hành về chế độ hạch toán kế toán và báo cáo thống kê của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

Thông tư 20/2017/TT-NHNN sẽ thay thế Thông tư số 09/2006/TT-NHNN ngày 23/10/2006 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hướng dẫn hoạt động bán khoản phải thu từ hợp đồng cho thuê tài chính.

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2018
Trả lời

Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi) được Quốc hội thông qua ngày 27/11/2015 (sau đây viết tắt là BLTTHS năm 2015) với 510 điều chia làm 9 phần, 36 chương. BLTTHS năm 2015 với nhiều sửa đổi, bổ sung tăng thêm 154 điều luật với 176 điều mới, sửa đổi 317 điều, giữ nguyên 17 điều, bãi bỏ 26 điều với một số vấn đề chính sau đây:

1. Ghi nhận nguyên tắc suy đoán vô tội (Điều 13)
Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội.

2. Mở rộng diện chủ thể được hưởng quyền bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích.
Ngoài người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo được quyền bào chữa, nhờ người bào chữa, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 còn bổ sung “người bị tố giác”,” người bị kiến nghị khởi tố”; “người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp” cũng được hưởng quyền bào chữa và nhờ người bào chữa.(Điều 57; 58)

3. Pháp nhân có quyền được bào chữa thông qua người đại diện theo pháp lật hoặc nhờ người bào chữa (Điều 435)

4. Mở rộng diện chủ thể người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi
Theo Bộ luật tố tụng năm 2015 gồm có:
– Luật sư
– Bào chữa viên nhân dân
– Trợ giúp viên pháp lý
– Người đại diện của người bị buộc tội (Đây là diện chủ thể mới)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ trong đó đáng chú ý là có quyền có mặt khi lấy lời khai người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố (Điều 83 BLTTHS).

5. Bãi bỏ các rào cản mang tính thủ tục hành chính, chuyển sang chế độ đăng ký thủ tục bào chữa.

Bỏ thủ tục xin cấp giấy chứng nhận bào chữa và thay bằng việc đăng ký thủ tục bào chữa. Trong thời hạn 24h kể từ khi nhận đầy đủ giấy tờ hợp lệ (bản sao thẻ luật sư, chứng chỉ hành nghề…) cơ quan tiến hành tố tụng phải trả lời…(Điều 78)

Đặc biệt, giấy chứng nhận bào chữa sẽ có giá trị sử dụng trong suốt quá trình tham gia tố tụng. (Khoản 6 Điều 78 BLTTHS 2015).

6. Quy định rõ quyền hạn, nhiệm vụ của cấp trưởng, cấp phó các cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra.

7. Mở rộng các quyền của người bào chữa trong việc thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ, đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành thu thập chứng cứ (Điều 73; Điều 88;)
Người bào chữa có quyền đề nghị tiền hành một số hoạt động tố tụng theo quy định của BL TTHS, đề nghị triệu tập điều tra viên và người tham gia tố tụng khác. Đây là quy định mới nhằm nâng cao địa vị pháp lý của người bào chữa cũng như làm rõ trách nhiệm của điều tra viên trong quá trình tiến hành tố tụng (Điều 296).

8. Điều chỉnh khái niệm chứng cứ, nguồn, thu thập chứng cứ; xử lý chặt chẽ hơn về vật chứng.

Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án.

Chứng cứ được thu thập, xác định từ các nguồn: Vật chứng; Lời khai, lời trình bày; Dữ liệu điện tử; Kết luận giám định, định giá tài sản; Biên bản trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; Kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế khác; Các tài liệu, đồ vật khác.

Những gì có thật nhưng không được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì không có giá trị pháp lý và không được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án hình sự.

9. Ngoài ra BLTTHS năm 2015 cũng quy định về rút ngắn thời hạn tạm giam, việc gia hạn tạm giam cùng nhiều bổ sung về hoạt động điều tra, truy tố, xét xử trong vụ án hình sự…

10. Bình đẳng về vị trí giữa người bào chữa tại phòng xử án với người thực hành quyền công tố (Điều 257)

BLTTHS chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2018

Một số quy định về Báo cáo tài chính nhà nước
Trả lời

Ngày 14/03/2017, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 25/2017/NĐ-CP (Nghị định số 25/2017/NĐ-CP) về báo cáo tài chính nhà nước. Chính phủ ban hành Nghị định này nhằm quy định chi tiết Điều 30 của Luật Kế toán số 88/2015/QH13 quy định về Báo cáo tài chính nhà nước. Nội dung báo cáo tài chính Nhà nước bao gồm: 

1.      Báo cáo tình hình tài chính nhà nước là báo cáo tài chính tổng hợp, dùng để phản ánh toàn bộ thông tin về tài sản; nợ phải trả; nguồn vốn của Nhà nước trên phạm vi toàn quốc hoặc phạm vi tỉnh tại thời điểm kết thúc kỳ báo cáo. (Tương tự bảng cân đối kế toán của Doanh nghiệp và cũng có các nội dung: Tài sản của Nhà nước, Nợ phải trả của Nhà nước, Nguồn vốn của Nhà nước)

2.      Báo cáo kết quả hoạt động tài chính nhà nước là báo cáo tài chính tổng hợp, dùng để phản ánh tình hình thu nhập, chi phí và kết quả hoạt động tài chính của Nhà nước trên phạm vi toàn quốc hoặc phạm vi tỉnh trong kỳ báo cáo. (Tương tự báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp và cũng có các nội dung: Thu nhập của Nhà nước, Chi phí của Nhà nước, Kết quả hoạt động tài chính của Nhà nước)

3.      Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tình hình lưu chuyển tiền tệ, bao gồm các luồng tiền thu vào, các luồng tiền chi ra từ các hoạt động chủ yếu, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính trong kỳ báo cáo; số dư tiền và tương đương tiền tại thời điểm kết thúc kỳ báo cáo của Nhà nước trên phạm vi toàn quốc hoặc phạm vi tỉnh. (Tương tự báo cáo lưu chuyển tiền tệ của Doanh nghiệp)

4.      Thuyết minh báo cáo tài chính nhà nước được lập để giải thích và bổ sung các thông tin về tình hình tài chính nhà nước, kết quả hoạt động tài chính nhà nước, tình hình lưu chuyển tiền tệ nhà nước trong kỳ báo cáo trên phạm vi toàn quốc hoặc một tỉnh. (Tương tự Thuyết minh báo cáo tài chính của Doanh nghiệp)

Nghị định số 25/2017/NĐ-CP ban hành là cơ sở pháp lý để Bộ Tài chính, Kho bạc Nhà nước hướng dẫn, triển khai, thực hiện lập báo cáo tài chính nhà nước nhằm cung cấp đầy đủ thông tin về tài chính nhà nước toàn quốc và từng địa phương. Báo cáo tài chính nhà nước là một công cụ hữu hiệu giúp cho công tác quản lý tài chính của nhà nước ngày càng minh bạch, hiệu quả hơn; đồng thời giúp cho nhân dân và các cơ quan, tổ chức có thể kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả hoạt động tài chính của nhà nước trong từng năm tài chính.

Nghị định này có hiệu lực từ ngày 01/01/2018 và Báo cáo Tài chính nhà nước đầu tiên được lập theo số liệu tài chính năm 2018.

Một số điểm mới nổi bật của Bộ luật Hình sự năm 2015 và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015
Trả lời

Ngày 27/11/2015, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Bộ luật Hình sự (BLHS) sửa đổi. Đến ngày 20/06/2017, tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIV thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015 và Nghị quyết về việc thi hành Bộ luật hình sự. Sau đây là một số điểm mới nổi bật của Bộ luật Hình sự (sửa đổi) năm 2015 và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015:

1.      Bổ sung quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại

  • BLHS 2015 đã bổ sung thêm trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại. Theo đó, cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự của pháp nhân được dựa trên dấu hiệu hành vi của cá nhân như: Việc thực hiện hành vi phạm tội mang danh nghĩa của pháp nhân, mang lại lợi ích cho pháp nhân, thực hiện theo sự chỉ đạo hay chấp thuận của pháp nhân…

  • Bên cạnh đó, BLHS 2015 cũng quy định các biện pháp chế tài cụ thể để áp dụng cho pháp nhân, đồng thời còn quy định chặt chẽ về việc pháp nhân thương mại chịu trách nhiệm hình sự không loại trừ trách nhiệm hình sự của cá nhân.

  • Tổng số tội pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự là 33 tội danh

2.      Thu hẹp phạm vi áp dụng hình phạt tù và giảm hình phạt tử hình

BLHS năm 2015 đã xác định nguyên tắc không áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng do vô ý và có nơi cư trú rõ ràng. Trong trường hợp này, Tòa án sẽ quyết định áp dụng một hình phạt không mang tính giam giữ đối với người phạm tội (cảnh cáo, phạt tiền hoặc cải tạo không giam giữ).

3.      Bổ sung chính sách xử lý đối với người dưới 18 tuổi

  • Về phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, Bộ luật hình sự năm 2015 quy định: người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về 28 tội danh trong đó có cả tội ít nghiêm trọng (Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác). Để đảm bảo tính nhất quán trong chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta đối với người ở độ tuổi này; đồng thời phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em mà Việt Nam là thành viên. Luật sửa đổi, bổ sung đã sửa đổi, bổ sung theo hướng kế thừa quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), theo đó, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong 28 điều luật.

  • Bộ luật Hình sự năm 2015 cũng bổ sung thêm 3 biện pháp có tính chất giám sát, giáo dục người dưới 18 tuổi khi họ thực hiện tội phạm mà cơ quan có thẩm quyền xét thấy không cần thiết phải áp dụng trách nhiệm hình sự: Khiển trách, hòa giải tại cộng đồng, giáo dục tại xã, phường, thị trấn; thay đổi quá trình xử lý đối với người dưới 18 tuổi là trong quá trình cân nhắc xử lý trước tiên Tòa án phải xét xem đối tượng này có thể áp dụng các biện pháp giáo dục cải tạo, các biện pháp tư pháp hay không, sau đó mới bàn đến việc áp dụng hình phạt.

4.      Về không tố giác tội phạm

Bổ sung quy định về trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự đối với người bào chữa trong trường hợp không tố giác tội phạm. Về nguyên tắc, người bào chữa không phải chịu trách nhiệm hình sự trong trường hợp không tố giác tội phạm do chính người mà mình bào chữa đã thực hiện hoặc đã tham gia thực hiện mà mình biết được khi thực hiện nhiệm vụ bào chữa; trừ trường hợp không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia quy định tại Chương XIII hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác quy định tại Điều 389 của BLHS. bổ sung chế định tha tù trước thời hạn (Điều 66);

5.      Mở rộng căn cứ miễn trách nhiệm hình sự

       Theo quy định của BLHS 2015, căn cứ miễn trách nhiệm hình sự chia làm 02 loại:

  • Đương nhiên miễn trách nhiệm hình sự: Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong những căn cứ: Khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội; Khi có quyết định đại xá.

  • Người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự khi thỏa mãn một trong các căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 29 BLHS 2015: Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa; Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa; Người phạm tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm và lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận.

Bộ luật Hình sự (sửa đổi) năm 2015 và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015 chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2018.

Công bố danh mục nguyên liệu làm thuốc phải thực hiện cấp phép nhập khẩu của thuốc trong nước đã được cấp Số đăng ký trước ngày 01/7/2014
Trả lời

Ngày 25/12/2017, Cục quản lý Dược – Bộ Y tế đã ban hành Công văn số 21942/QLD-ĐK, về việc công bố danh mục nguyên liệu làm thuốc phải thực hiện cấp phép nhập khẩu của thuốc trong nước đã được cấp Số đăng ký (“SĐK”) trước ngày 01/7/2017. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.
Theo đó, Bộ Y tế đã bổ sung thuốc “Docolin” (SĐK VD-14465-11) do nhà sản xuất Công ty cổ phần dược & vật tư y tế Bình Thuận sản xuất vào Danh mục nguyên liệu làm thuốc là dược chất, tá dược, bán thành phẩm để sản xuất thuốc theo hồ sơ đăng ký thuốc đã có giấy đăng ký lưu hành tại Việt Nam.
Công văn số 21942/QLD-ĐK được ban hành nhằm bổ sung thêm danh mục về nguyên liệu sản xuất thuốc, hỗ trợ các đơn vị sản xuất thuốc phải tiến hành thủ tục cấp phép nhập khẩu và việc nhập khẩu những nguyên liệu đó phải được sự kiểm soát đặc biệt của cơ quan có thẩm quyền.

 

Khuyến cáo của Bộ Thông tin và truyền thông về việc lộ 1,4 tỷ tài khoản và mật khẩu từ trang mạng xã hội, dịch vụ trực tuyến
Trả lời

Ngày 26/12/2017, Bộ Thông tin và truyền thông đã ban hành Công văn số 442/VNCERT-ĐPƯC về việc lộ 1,4 tỷ tài khoản và mật khẩu từ các trang mạng xã hội, dịch vụ trực tuyến, Công văn này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.
Theo đó, Công văn số 442/VNCERT-ĐPƯC khuyến cáo như sau: 
1. Các mạng xã hội và dịch vụ trực tuyến có số lượng lớn tài khoản sử dụng thư điện tử và mật khẩu bị lộ lọt thông tin trên toàn thế giới chủ yếu là: Bitcoin, Pastebin, LinkedIn, MySpace, Netflix, Last.FM, Zoosk, Badoo, RedBox… 
2. Tổng cộng có hơn 41GB dữ liệu ước tính khoảng 1,4 tỷ tài khoản sử dụng thư điện tử và mật khẩu trên thế giới đã bị lộ. Trong đó, Trung tâm VNCERT đã phân tích và phát hiện số tài khoản sử dụng thư điện tử tại Việt Nam có đuôi “.vn” là 437.664 tài khoản (bao gồm các tài khoản sử dụng thư điện tử của cơ quan nhà nước có đuôi “gov.vn” là 930 tài khoản và rất nhiều tài khoản sử dụng thư điện tử của các tập đoàn, doanh nghiệp hạ tầng quan trọng của Việt Nam).
3. Việc lộ các thông tin tài khoản sử dụng thư điện tử và mật khẩu sẽ tạo điều kiện cho tin tặc sử dụng tài khoản, mật khẩu đó để dò thông tin và đăng nhập nhiều hệ thống thông tin. Nếu thành công, tin tặc sẽ chiếm đoạt tài khoản và sử dụng vào việc tấn công, đánh cắp và phá hủy hệ thống thông tin, dữ liệu.
4. Trung tâm Ứng cứu khẩn cấp máy tính Việt Nam yêu cầu các đơn vị và khuyến cáo người dùng cả nước thực hiện khẩn cấp các công việc sau:
– Kiểm tra, rà soát hệ thống, tăng cường chính sách mật khẩu và giải pháp xác thực nhiều lớp;
– Thay đổi mật khẩu các tài khoản đăng nhập
– Không sử dụng email của đơn vị để đăng ký tài khoản cá nhân sử dụng trên mạng xã hội, dịch vụ trực tuyến.
Các khuyến cáo tại Công văn số 442/VNCERT-ĐPƯC về lộ 1,4 tỷ tài khoản và mật khẩu từ các trang mạng xã hội, dịch vụ trực tuyến của Bộ Thông tin và truyền thông là những khuyến cáo hữu ích và kịp thời giúp cộng đồng nhân dân đề phòng và khắc phục tình trạng để lọt thông tin có nguy cơ gây nguy hiểm và đảm bảo an toàn không gian mạng.

 

Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam
Trả lời

      Ngày 27/06/2017, Bộ Tài chính ban hành Thông tư 65/2017/TT-BTC về Danh mục hàng hóa xuất, nhập khẩu Việt Nam. Ban hành kèm theo Thông tư này Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam, gồm hai (2) phụ lục:

– Phụ lục I – Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam.

– Phụ lục II – Sáu (6) quy tắc tổng quát giải thích việc phân loại hàng hóa theo Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam dựa trên Hệ thống hài hòa mô tả và mã hóa hàng hóa của Tổ chức Hải quan thế giới.

          Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam bao gồm 21 Phần, 97 Chương, 1.039 nhóm ở cấp độ 4 số, 1.859 phân nhóm ở cấp độ 6 số và được chi tiết thành 10.813 mã hàng ở cấp độ 8 số, tuân thủ hoàn toàn theo Danh mục HS 2017 của Tổ chức Hải quan Thế giới và Danh mục Hài hòa thuế quan của ASEAN phiên bản 2017.

          Danh mục mới tăng 1255 mã hàng so với Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam ban hành theo Thông tư số 103/2015/TT-BTC ngày 01/07/2015, trong đó 2.321 mã hàng có mô tả mới để chi tiết những thay đổi về công nghệ, kỹ thuật, đặc tính thương mại, tiêu chuẩn môi trường, đáp ứng nhu cầu quản lý và xu hướng thương mại quốc tế trong bối cảnh hội nhập.

          Thông tư 65/2017/TT-BTC có hiệu lực từ ngày 01/01/2018 và thay thế cho Thông tư 103/2015/TT-BTC.

Quy định về điều lệ tổ chức và hoạt động của Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước
Trả lời

Ngày 25/12/2017, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 148/2017/NĐ-CP Quy định về điều lệ tổ chức và hoạt động của Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước và chính thức bắt đầu có hiệu lực thi hành cùng ngày. 
Nghị định số 148/2017/NĐ-CP thay thế cho Nghị định số 57/2014/NĐ-CP năm 2014, theo đó, điều lệ tổ chức và hoạt động của Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (“SCIC”) có một số thay đổi đáng chú ý như sau:
1. Quy định rõ SCIC chỉ có 01 con dấu, do Hội đồng thành viên quyết định về hình thức, nội dung; đồng thời Hội đồng thành viên và Tổng Giám đốc SCIC có trách nhiệm quản lý và sử dụng con dấu này;
2. Bỏ Quản lý Quỹ Hỗ trợ sắp xếp và phát triển doanh nghiệp ra khỏi danh mục ngành, nghề kinh doanh của SCIC;
3. Điều lệ mới đã tách bạch rõ trường hợp tiến hành miễn nhiệm và trường hợp tiến hành cách chức đối với chức danh Tổng giám đốc; đồng thời bổ sung thêm trường hợp có đơn xin nghỉ việc là một trường hợp miễn nhiệm;
4. Về tổ chức quản lý SCIC, Điều lệ chính thức đưa Kiểm soát viên vào trong cơ cấu tổ chức quản lý, điều hành của SCIC; quy định cụ thể về điều kiện và thể thức tiến hành họp Hội đồng thành viên;
5. Mở rộng và cụ thể phạm vi người có liên quan không được tham gia quản lý doanh nghiệp khác, khi SCIC tiến hành thực hiện hợp đồng, giao dịch với các đối tượng này phải tiến hành họp và biểu quyết theo đa số, gồm: vợ hoặc chồng, cha đẻ, cha nuôi, mẹ đẻ, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, anh ruột, chị ruột, em ruột, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan đại diện chủ sở hữu; thành viên Hội đồng thành viên; Tổng Giám đốc, Phó Giám đốc và Kế toán trưởng; Kiểm soát viên của doanh nghiệp;
6. Chính thức đưa trách nhiệm xử lý tổn thất tài sản, nợ không có khả năng thu hồi vào một trong các trách nhiệm của SCIC khi thực hiện các quy định về bảo đảm an toàn vốn;
7. Yêu cầu SCIC phải thực hiện công bố, công khai thông tin theo quy định của pháp luật
Như vậy, kể từ ngày 25/12/2017, Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước sẽ hoạt động theo Điều lệ mới nhằm đảm bảo sự phù hợp trong bối cảnh các văn bản pháp luật liên quan đã có sự điều chỉnh, sửa đổi cũng như phản ánh đúng với thực tiễn hoạt động của Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước. 

 

Ban hành quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về an toàn chai khí dầu mỏ hóa lỏng mini
Trả lời

Ngày 20/12/2017, Bộ Công Thương đã ban hành Thông tư số 29/2017/TT-BCT công bố Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia ký hiệu QCVN 02:2017/BCT về an toàn chai khí dầu mỏ hóa lỏng mini. Thông tư này bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/01/2019.
Theo đó, chai LPG mini phải đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật trong thiết kế, chế tạo, nhập khẩu, thử nghiệm, nạp, tồn chứa, vận chuyển, sử dụng tại Quy chuẩn này và tiêu chuẩn Việt Nam áp dụng đối với từng loại chai LPG mini cụ thể.
– Đối với chai LPG mini nạp một lần được quy định như sau: Vật liệu chế tạo chai phải là thép tấm, hợp kim nhôm, thép carbon có độ dày phù hợp có hàm lượng carbon, phốt pho và lưu huỳnh tương ứng ít hơn hoặc bằng 0,33%, 0,04% và 0,05%.
– Đối với chai LPG mini nạp lại cần tuân thủ theo quy định sau: Vật liệu chế tạo vỏ chai là SUS 304 hoặc vật liệu chịu ăn mòn có cơ tính và thành phần hóa học tương đương để đảm bảo an toàn của chai. Vật liệu vòng đệm van phải chịu được LPG; vật liệu hàn phải tạo ra mối hàn với độ bền kéo nhỏ nhất không nhỏ hơn độ bền kéo của vật liệu cơ bản chế tạo chai. 
Quy chuẩn QCVN 02:2017/BCT sẽ áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân thiết kế, chế tạo, nhập khẩu, thử nghiệm, giao nhận, vận chuyển, nạp, sử dụng chai LPG mini và các tổ chức, cá nhân khác có liên quan.

 

Công bố danh mục nguyên liệu làm thuốc phải thực hiện cấp phép nhập khẩu của thuốc trong nước đã được cấp Số đăng ký
Trả lời

Ngày 25/12/2017, Cục quản lý Dược – Bộ Y tế đã ban hành Công văn số 21944/QLD-ĐK, về việc công bố danh mục nguyên liệu làm thuốc phải thực hiện cấp phép nhập khẩu của thuốc trong nước đã được cấp Số đăng ký (“SĐK”). Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.
Theo Công văn này, Cục quản lý Dược đã công bố danh mục thuốc “Opecipro 500”, SĐK VD-21676-14 do Công ty Cổ phần dược phẩm OPV sản xuất với nguyên liệu làm thuốc là Ciprofloxacin hydrochloride monohydrate. Đây là nguyên liệu để để sản xuất thuốc theo hồ sơ đăng ký thuốc đã có giấy đăng ký lưu hành tại Việt Nam phải kiểm soát đặc biệt và phải thực hiện việc cấp phép nhập khẩu. Giấy đăng ký lưu hành của thuốc “Opecipro 500” sẽ hết hạn vào ngày 19/09/2019.
Nguyên liệu làm thuốc công bố nêu trên sẽ được đăng tải trên trang thông tin điện tử của cục quản lý Dược.
Công văn số 21944/QLD-ĐK được ban hành nhằm bổ sung thêm danh mục về nguyên liệu sản xuất thuốc, hỗ trợ các đơn vị sản xuất thuốc phải tiến hành thủ tục cấp phép nhập khẩu và việc nhập khẩu những nguyên liệu đó phải được sự kiểm soát đặc biệt của cơ quan có thẩm quyền.