Ngày 08/12/2017, Bộ Công Thương ban hành Thông tư 28/2017/TT-BCT sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số Thông tư trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu, kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp và xuất nhập khẩu thuộc phạm vi quản lý Nhà nước của Bộ Công thương. Thông tư bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2018.
Thông tư số 28/2017/TT-BCT có các nội dung nổi bật, mang tính cải cách như sau:
Một là, Thông tư đã đơn giản hóa 15 thủ tục hành chính (TTHC) trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu được quy định tại Thông tư số 38/2014/TT-BCT ngày 24/10/ 2014 của Bộ trưởng Bộ Công Thương quy định chi tiết một số điều của Nghị định 83/2014/NĐ-CP ngày 03/9/2014 của Chính phủ về kinh doanh xăng dầu. Theo đó, theo hướng:
Đối với các TTHC được thực hiện tại Bộ Công Thương, cho phép thương nhân được lựa chọn các hình thức nộp hồ sơ trực tiếp tại trụ sở cơ quan hoặc gửi hồ sơ qua bưu điện hoặc nộp trực tuyến trên cổng thông tin điện tử của Bộ Công Thương.
Đối với các TTHC được thực hiện tại Sở Công Thương, rút ngắn thời gian thời gian tiếp nhận từ 7 ngày làm việc xuống 3 ngày làm việc, thời gian thẩm định hồ sơ cấp các Giấy xác nhận, Giấy chứng nhận từ 30 ngày làm việc xuống 20 ngày làm việc.
Hai là, trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp, Thông tư bãi bỏ 02 TTHC là “Đăng ký hoạt động kiểm định an toàn kỹ thuật các thiết bị, dụng cụ điện” và “Đăng ký thay đổi, bổ sung lĩnh vực hoạt động kiểm định an toàn kỹ thuật thiết bị, dụng cụ điện” tại Thông tư số 33/2015/TT-BCT ngày 27 tháng 10 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Công Thươngquy định về kiểm định an toàn kỹ thuật các thiết bị, dụng cụ điện.
Đồng thời, Thông tư cũng bãi bỏ các quy định điều kiện của tổ chức đánh giá sự phù hợp tại Điều 11, Điều 12, Điều 13 và Điều 14 Thông tư số 48/2011/TT-BCT ngày 30 tháng 12 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Công Thương quy định quản lý chất lượng các sản phẩm, hàng hóa nhóm 2 thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công Thương. Việc xem xét các điều kiện của của tổ chức đánh giá sự phù hợp được thực hiện thống nhất theo quy định tại Nghị định số 107/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp.
Ba là, trong lĩnh vực xuất nhập khẩu than, khoáng sản, Thông tư quy định linh hoạt hình thức bản sao là “Bản sao từ sổ gốc hoặc bản sao có chứng thực hoặc bản sao xuất trình kèm bản chính để đối chiếu” để tổ chức, cá nhân chủ động lựa chọn trong quá trình thực hiện thủ tục xuất khẩu khoáng sản tại Thông tư số 12/2016/TT-BCT và thủ tục xuất khẩu than quy định tại Thông tư số 15/2013/TT-BCT. Việc đơn giản hóa này đồng thời cũng đảm bảo thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Chỉ thị số 17/CT-TTg ngày 20 tháng 6 năm 2014 về một số biện pháp chấn chỉnh tình trạng lạm dụng yêu cầu nộp bản sao có chứng thực đối với giấy tờ, văn bản khi thực hiện thủ tục hành chính.
Bốn là, trong hoạt lĩnh vực xuất khẩu gạo, Thông tư bãi bỏ Chương IV Thông tư số 44/2010/TT-BCT ngày 31 tháng 12 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Công Thương quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 109/2010/NĐ-CP ngày 04 tháng 11 năm 2010 của Chính phủ về kinh doanh xuất khẩu gạo, tương ứng với đó đã bãi bỏ bản chính hợp đồng thuê kho chứa, cơ sở xay, xát thóc, gạo để đáp ứng điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo trong thành phần hồ sơ đề nghị cấp mới, cấp lại, cấp điều chỉnh Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo.
Năm là, trong lĩnh vực nhập khẩu xe ô tô chở người loại từ 09 chỗ trở xuống, Thông tư bãi bỏ 02 Thông tư trong lĩnh vực này, gồm: Thông tư số 20/2011/TT-BCT ngày 12 tháng 5 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Công Thương và Thông tư số 04/2017/TT-BCT ngày 09 tháng 03 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Công Thương.
Thông tư này là để hiện thực hóa Phương án đơn giản hóa của Bộ Công Thương tại Quyết định số 4648/QĐ-BCT ngày 09 tháng 12 năm 2016. Việc ban hành Thông tư này cùng với việc ban hành 04 Nghị định của Chính phủ, 08 Thông tư khác của Bộ Công Thương trước đó và 05 dự thảo Nghị định, Quyết định Thủ tướng Chính phủ đã được Bộ Công Thương trình cấp có thẩm quyền trong năm 2017 đã góp phần nâng tỉ lệ thực hiện Phương án đơn giản hóa TTHC của Bộ Công Thương đến thời điểm này lên 181/123 TTHC. Trong đó mục tiêu của việc bãi bỏ, đơn giản hóa các TTHC này của Bộ Công Thương là tạo thuận lợi hơn cho doanh nghiệp, góp phần cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh của Việt Nam theo các Nghị quyết của Chính phủ về cải cách TTHC trong thời gian qua.
Ngày 08/12/2017, Bộ Xây dựng vừa ban hành Thông tư số 13/2017/TT-BXD thay thế Thông tư số 09/2012/TT-BXD quy định sử dụng vật liệu xây không nung trong các công trình xây dựng, có hiệu lực từ 01/02/2018. Thông tư này áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân có liên quan tới các hoạt động sản xuất và nhập khẩu vật liệu xây không nung, hoạt động đầu tư xây dựng công trình và các cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng.
Theo đó, Thông tư số 13/2017/TT-BXD quy định việc sử dụng vật liệu xây không nung trong các công trình xây dựng dân dụng và công nghiệp để làm tường, vách ngăn và khối xây. Vật liệu xây không nung gồm: Gạch bê tông; Vật liệu nhẹ: Gạch hoặc tấm panel từ bê tông khí chưng áp, bê tông khí không chưng áp, bê tông bọt; các chủng loại trên có khối lượng thể tích nhỏ hơn 1000kg/m3; Tấm tường thạch cao, tấm 3D, tấm panel bê tông, tấm panel nhẹ; Gạch khác được sản xuất từ chất thải xây dựng, chất thải công nghiệp; gạch silicat.
Các công trình xây dựng được đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước, vốn nhà nước ngoài ngân sách, vốn vay của doanh nghiệp có vốn nhà nước lớn hơn 30% phải sử dụng vật liệu xây không nung trong tổng số vật liệu xây dựng với tỷ lệ theo từng địa bàn như sau:
– Thành phố Hà Nội, Hồ Chí Minh sử dụng 100%;
– Các tỉnh đồng bằng Trung du Bắc bộ, vùng Đông Nam bộ: Tại các khu đô thị từ loại III trở lên sử dụng tối thiểu 90%, tại các khu còn lại sử dụng tối thiếu 70%;
– Các tỉnh còn lại: Tại các đô thị từ loại III trở lên phải sử dụng tối thiểu 70%, tại các khu vực còn lại sử dụng tối thiểu 50%.
Các công trình xây dựng từ 09 tầng trở lên phải sử dụng tối thiểu 80% vật liệu xây không nung trong tổng số vật liệu xây. Các công trình có yêu cầu đặc thù không sử dụng vật liệu xây không nung thì phải được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền xem xét, chấp thuận.
Nhà nước khuyến khích sử dụng vật liệu xây không nung vào các công trình xây dựng không phân biệt nguồn vốn, số tầng.
UBND cấp tỉnh chịu trách nhiệm chỉ đạo các cơ quan chức năng thanh tra, kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất việc tuân thủ các quy định về việc sản xuất, kinh doanh, sử dụng vật liệu xây không nung trong các công trình xây dựng trên địa bàn.
Ngày 07/11/2017, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Thông tư số 47/2017/TT-BTNMT quy định về giám sát khai thác, sử dụng tài nguyên nước. Thông tư này có hiệu lực từ ngày 22/12/2017.
Theo đó, Thông tư quy định chi tiết về nguyên tắc giám sát; hình thức giám sát; hệ thống giám sát; yêu cầu đối với thiết bị thu nhận, lưu trữ dữ liệu và phần mềm quản lý, xử lý dữ liệu; yêu cầu đối với cơ sử dữ liệu giám sát; yêu cầu đối với thiết bị đo đạc, kết nối, truyền số liệu của cơ sở có công trình; giám sát hoạt động khai thác đối với công trình hồ chứa để sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và cho các mục đích khác…
Bên cạnh đó, Thông tư còn quy định việc giám sát hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước được tiến hành dưới 03 hình thức gồm: Giám sát tự động, trực tuyến (theo dõi số liệu đo đạc, quan trắc tự động, liên tục được kết nối và truyền trực tiếp vào hệ thống giám sát khai thác, sử dụng tài nguyên nước); giám sát bằng camera (theo dõi hình ảnh bằng camera được kết nối và truyền trực tiếp vào hệ thống giám sát) và giám sát định kỳ (theo dõi số liệu đo đạc, quan trắc được cập nhật định kỳ vào hệ thống giám sát).
Ngoài ra, Thông tư cũng nêu rõ, Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm đầu tư xây dựng, lắp đặt thiết bị thu nhận, lưu trữ dữ liệu, phần mềm quản lý, xử lý dữ liệu ở trung ương và cơ sở dữ liệu của hệ thống giám sát. UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm đầu tư xây dựng, lắp đặt thiết bị thu nhận, lưu trữ dữ liệu ở địa phương.
Ngày 20/11/2017, Quốc hội ban hành Luật các tổ chức tín dụng sửa đổi 2017 có hiệu lực kể từ ngày 15/01/2018, là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thực hiện các giải pháp của Đề án cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016 – 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Theo đó, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) có quyền xem xét áp dụng can thiệp sớm đối với TCTD và chi nhánh ngân hàng nước ngoài lâm vào một trong các trường hợp sau: Không duy trì được tỷ lệ an toàn vốn trong thời hạn 06 tháng liên tục; Không duy trì được tỷ lệ khả năng chi trả trong thời gian 03 tháng liên tục; Xếp hạng dưới mức trung bình theo quy định của NHNN (Khoản 1 Điều 145)
Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản áp dụng can thiệp sớm của NHNN, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải báo cáo thực trạng, nguyên nhân, phương án khắc phục tình trạng và tổ chức triển khai thực hiện. Nếu xét thấy cần thiết, NHNN sẽ có văn bản yêu cầu tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài điều chỉnh phương án khắc phục.
Thời hạn thực hiện phương án khắc phục tối đa không quá 01 năm, kể từ ngày có văn bản áp dụng can thiệp sớm của NHNN.
Phương án khắc phục bao gồm: Thu hẹp nội dung, phạm vi hoạt động, hạn chế các giao dịch lớn; Tăng vốn điều lệ, vốn được cấp; tăng cường nắm giữ tài sản có tính thanh khoản cao; bán, chuyển nhượng tài sản và thực hiện các giải pháp khác để đáp ứng các yêu cầu bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng; Hạn chế chi trả cổ tức, phân phối lợi nhuận; Cắt giảm chi phí hoạt động, chi phí quản lý; hạn chế trả thù lao, lương, thưởng đối với người quản lý, người điều hành…
Phương án cơ cấu lại tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt bao gồm: Phương án phục hồi; Phương án sáp nhập, hợp nhất, chuyển nhượng toàn bộ cổ phần, phần vốn góp; Phương án giải thể; Phương án chuyển giao bắt buộc; Phương án phá sản.
NHNN có văn bản chấm dứt áp dụng can thiệp sớm sau khi TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khắc phục được tình trạng quy định tại khoản 1 Điều 145 nói trên, hoặc khi TCTD được đặt vào kiểm soát đặc biệt.
Luật số 17/2017/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 có hiệu lực sẽ là cơ sở pháp lý có ý nghĩa quan trọng cho giai đoạn mới trong công tác quản lý hoạt động của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam.
Ngày 05/12/2017, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ban hành Thông tư số 06/2017/TT-BKHĐT quy định chi tiết về việc cung cấp thông tin về đấu thầu, báo cáo tình hình thực hiện hoạt động đấu thầu về lựa chọn nhà thầu. Thông tư này có hiệu lực từ ngày 01/03/2018.
Theo quy định này, việc cung cấp thông tin về đấu thầu như: Thông tin về dự án; Kế hoạch lựa chọn nhà thầu; Kết quả lựa chọn nhà thầu; Hợp đồng; Hủy thầu; Thông tin về nhà thầu nước ngoài trúng thầu tại từng dự án/gói thầu… được thực hiện trong vòng 07 ngày làm việc kể từ ngày có Quyết định hoặc văn bản phê duyệt, ban hành các thông tin đó.
Việc cung cấp thông tin xử lý vi phạm pháp luật về đấu thầu được thực hiện trong vòng 02 ngày làm việc từ ngày Quyết định xử lý vi phạm pháp luật về đấu thầu được ban hành. Riêng thông báo mời sơ tuyển, thông báo mời quan tâm, thông báo mời thầu, thông báo mời chào hàng, thông báo hủy thầu, thông báo gia hạn, điều chỉnh, đính chính các thông tin đã đăng tải được thực hiện theo tiến độ tổ chức lựa chọn nhà thầu và phải đảm bảo các quy định tương ứng liên quan về thời gian trong đấu thầu.
Ngoài ra để thắt chặt hơn hoạt động quản lý đấu thầu Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ban hành kèm theo Thông tư 06/2017/TT-BKHĐT biểu mẫu về nội dung thông tin báo cáo tình hình thực hiện hoạt động đấu thầu, báo cáo tổng hợp kết quả lựa chọn nhà thầu và một số form mẫu liên quan đến báo cáo về tình hình thực hiện hoạt động đấu thầu theo định kỳ hàng năm.
Thông tư 06/2017/TT-BKHĐT ban hành được coi là bước tiến lớn về vấn đề quản lý thông tin về đấu thầu, phục vụ việc theo dõi, giám sát, đánh giá tình hình thực hiện hoạt động đấu thầu một cách khách quan, chính xác, trung thực nhất.
Ngày 10/11 2017, Bộ Công Thương đã ký Quyết định số 4276/QĐ-BCT về việc sửa đổi, bổ sung tạm thời một số nội dung trong Quy chế pha màu xăng dầu thương phẩm ban hành kèm theo Quyết định số 1273/2004/QĐ-BTM ngày 07/9/2004 của Bộ Thương mại, có hiệu lực từ ngày 01/01/2018
Một số nội dung sửa đổi, bổ sung đáng chú ý của Quyết định 4276/QĐ-BTC là:
1. Quy định màu chỉ định, liều lượng màu pha đối với xăng không pha chì E5 RON 92 như sau: Màu chỉ định là màu xanh; liều lượng màu pha là 5 mg/lít, sản phẩm sau khi pha màu có dạng chất lỏng màu xanh lá cây.
2. Bãi bỏ quy định về màu chỉ định, liều lượng màu pha đối với các sản phẩm sau: Xăng không pha chì RON 83; xăng không pha chì RON 90; xăng không pha chì RON 92.
Quy định mới về màu chỉ định, liều lượng màu pha xăng dầu thương phẩm có ý nghĩa quan trọng trong việc phân biệt các loại xăng và hạn chế các hành vi lợi dụng pha lẫn các loại xăng để bán trục lợi trên thị trường.
Ngày 06/12/2017, Bộ Công Thương đã ban hành Thông tư số 27/2017/TT-BCT về việc sửa đổi, bổ sung thông tư số 28/2015/TT-BCT ngày 20/08/2015 quy định việc thực hiện thí điểm tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa trong Hiệp định thương mại Hàng hóa ASEAN có hiệu lực kể từ ngày 6/12/2017. Theo đó, Thông tư 27/2017/TT-BCT đã bãi bỏ một số quy định chưa phù hợp của Thông tư số 28/2015/TT-BCT và thay thế bằng các quy định phù hợp hơn như sau:
1. Bãi bỏ tiêu chí về: “Kim ngạch xuất khẩu đi ASEAN được cấp C/O mẫu D năm trước liền kề đạt tối thiểu 10 USD”, quy định tại khoản 3 Điều 4 của Thông tư số 28/2015/TT-BCT và thay bằng tiêu chí “là doanh nghiệp nhỏ và vừa trở lên”.
2. Bãi bỏ quy định về cách ghi “Tên viết hoa” của người được thương nhân ủy quyền trên Hóa đơn thương mại có nội dung khai báo xuất xứ tại khoản 1 Điều 7 của Thông tư số 28/2015/TT-BCT.
3. Bổ sung trách nhiệm của Cục Xuất nhập khẩu – Bộ Công Thương: “Chỉ định đơn vị đào tạo có đủ năng lực đào tạo về lĩnh vực xuất xứ hàng hóa và cấp chứng nhận hoặc chứng chỉ cho học viên” tại Mục e Khoản 7 Thông tư 28/2015/TT-BCT.
4. Bổ sung quy định: “Thương nhân được lựa chọn không được tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa đối với những lô hàng do cơ quan hải quan phân loại vào luồng vàng hoặc luồng đỏ.” tại khoản 6, Điều 7 của Thông tư số 28/2015/TT-BCT.
Các quy định tại Thông tư số 27/2017/TT-BCT là những điều chỉnh cần thiết sau gần hai năm thi hành Thông tư số 28/2015/TT-BCT nhằm phòng ngừa các rủi ro, vi phạm về xuất xứ hàng hóa trong công tác quản lý, kiểm tra hàng hóa xuất nhập khẩu khi thực hiện thí điểm thương nhân tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa.
Ngày 30/11/2017 Bộ tài nguyên và môi trường ban hành Thông tư số 49/2017/TT-BTNMT quy định kỹ thuật lập, điều chỉnh chương trình quản lý tổng hợp tài nguyên vùng bờ. Thông tư này áp dụng đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc lập, điều chỉnh chương trình quản lý tổng hợp tài nguyên vùng bờ.
Chương trình quản lý tổng hợp tài nguyên vùng bờ là tập hợp các hoạt động quản lý tổng hợp trên một vùng bờ cụ thể trong một khoảng thời gian nhất định, được thực hiện theo lộ trình từ quy trình lập, phê duyệt, tổ chức thực hiện, đến đánh giá, điều chỉnh và đề xuất hoàn thiện cho giai đoạn tiếp theo.
Thông tin, dữ liệu cần thu thập, tổng hợp để lập Chương trình bao gồm: Thông tin, dữ liệu về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, các hệ sinh thái và đa dạng sinh học; Thông tin, dữ liệu về hiện trạng môi trường, sự cố môi trường và ô nhiễm môi trường; Thông tin, dữ liệu về tình hình, diễn biến và rủi ro thiên tai; Thông tin, dữ liệu về quy hoạch, chiến lược, kế hoạch và hiện trạng khai thác, sử dụng tài nguyên vùng bờ của các bộ, ngành và địa phương…
Về mục tiêu, Chương trình phải giải quyết được các tồn tại, bất cập, mâu thuẫn, xung đột trong quản lý khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường vùng bờ, bảo đảm tính khả thi, phù hợp với năng lực và nguồn lực triển khai thực hiện, bảo đảm phát triển bền vững.
Ngày 01/12/2017, Tổng cục Du lịch ban hành Công văn số 1615/TCDL-LH về điều kiện hành nghề hướng dẫn viên theo quy định của Luật Du lịch năm 2017 .
Theo đó, đối với điều kiện hành nghề hướng dẫn viên theo Luật Du lịch năm 2017 thì:
Hợp đồng (HĐ) lao động của hướng dẫn viên với doanh nghiệp lữ hành là HĐ không xác định thời hạn, HĐ xác định thời hạn, HĐ theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.
Đối với hướng dẫn viên có HĐ không thời hạn hoặc có thời hạn từ 01 tháng trở lên sẽ phải tham gia bảo hiểm xã hội (BHXH) bắt buộc theo đúng quy định tại Luật BHXH.
Các doanh nghiệp sử dụng người lao động là hướng dẫn viên có trách nhiệm lập hồ sơ để người lao động được cấp sổ BHXH và hàng tháng trích tiền lương của người lao động để đóng cùng một lúc vào quỹ BHXH theo quy định pháp luật.
Ngoài ra, đối với hướng dẫn viên không là nhân viên HĐ của doanh nghiệp lữ hành mà là hội viên của tổ chức xã hội – nghề nghiệp hoặc là nhân viên của doanh nghiệp lữ hành khác thì phải có HĐ hướng dẫn theo quy định tại Luật Du lịch năm 2017 mới đủ điều kiện hành nghề hướng dẫn viên
Ngày 06/12/2017, Bộ Y tế ban hành Công văn số 6986/BYT-ATTP về việc tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra về an toàn thực phẩm, nhằm triển khai thực hiện Nghị quyết số 117/NQ-CP ngày 09/11/2017 tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 10 năm 2017. Theo đó, Bộ Y tế đề nghị các Sở Y tế các tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương và Ban quản lý An toàn thực phẩm thành phố Hồ Chí Minh thực hiện các nội dung sau:
– Khẩn trường triển khai hoàn thành kế hoạch thanh tra, kiểm tra đã được phê duyệt;
– Đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra đột xuất và xử lý vi phạm an toàn thực phẩm (nếu có) theo Chỉ thị số 13/CT-TTg ngày 09/5/2016 và Chỉ thị số 20/CT-TTg ngày 17/5/2017 bên cạnh việc thanh tra, kiểm tra theo kế hoạch.
– Xây dựng Kế hoạch thanh tra, kiểm tra về an toàn thực phẩm trong dịp Tết Nguyên đán Mậu Tuất và Lễ hội Xuân 2018, bắt đầu triển khai ngay từ tháng 12/2017.
Công văn số 6986/BYT-ATTPnhằm thúc đẩy công tác thanh tra, kiểm tra về an toàn thực phẩm, đảm bảo an toàn cho sức khoẻ cho người dân trong dịp Tết Nguyên đán.