Nhiều ngân hàng tăng mạnh lãi suất huy động
Với mong muốn bổ sung thêm nguồn vốn trung, dài hạn để phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh cuối năm, đồng thời giảm...
Bùng nổ nhượng quyền thương hiệu vào Việt Nam
Hoạt động nhượng quyền đang được giới kinh doanh vận dụng để đưa các thương hiệu nước ngoài vào thị trường Việt Nam. Ngoài lĩnh...
6 ngành kinh tế phát triển mũi nhọn khu vực miền Trung
Có 6 lĩnh vực kinh tế biển, ven biển đang được các tỉnh miền Trung tập trung phát triển và đã đạt được những kết...
91.9% doanh nghiệp lạc quan về hoạt động sản xuất 6 tháng cuối năm
Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có tỷ lệ doanh nghiệp dự báo về khối lượng sản xuất khả...
Việt Nam chuyển dần từ nhập siêu sang xuất siêu với CPTPP
Với hầu hết các hiệp định thương mại (FTA) đã ký, Việt Nam thường nhập siêu, thì nay, khi thực hiện CPTTP, trong 7 tháng...
Giải đáp pháp luật
Bản Tin Pháp Luật Số 14/2020
Trả lời

Những điểm mới của Luật Doanh nghiệp 2020 – Phần 3
Trả lời

Tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIV, Luật Doanh nghiệp 2020 (LDN 2020) đã được thông qua và sẽ chính thức có hiệu lực vào ngày 01/01/2021. Sau đây sẽ là 5 điểm mới được quy định tại 4 chương cuối cùng (Chương VII, Chương VIII, Chương IX, Chương X) của LDN 2020, cụ thể bài viết sẽ đi vào chi tiết như sau:

 

  1. Rút ngắn thời gian báo trước khi tạm ngừng kinh doanh từ 2021
    Khoản 1 Điều 200 LDN 2014 quy định: Doanh nghiệp có quyền tạm ngừng kinh doanh nhưng phải thông báo bằng văn bản về thời điểm và thời hạn tạm ngừng hoặc tiếp tục kinh doanh cho Cơ quan đăng ký kinh doanh chậm nhất 15 ngày trước ngày tạm ngừng hoặc tiếp tục kinh doanh. Quy định này áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp tiếp tục kinh doanh trước thời hạn đã thông báo.
    Tuy nhiên, Khoản 1 Điều 206 LDN 2020 đã rút ngắn thời gian báo trước khi tạm ngừng kinh doanh. Cụ thể: Doanh nghiệp phải thông báo bằng văn bản cho Cơ quan đăng ký kinh doanh chậm nhất là 03 ngày làm việc trước ngày tạm ngừng kinh doanh hoặc tiếp tục kinh doanh trước thời hạn đã thông báo.
    Như vậy, thời gian báo trước khi tạm ngừng kinh doanh được rút ngắn từ chậm nhất 15 ngày xuống còn 03 ngày làm việc.
  2. Quy định loại trừ trường hợp giải thể do bị thu hồi GCN đăng ký doanh nghiệp
    Điểm d khoản 1 Điều 207 LDN 2020 quy định: “Doanh nghiệp bị giải thể trong trường hợp bị thu hồi GCN đăng ký doanh nghiệp, trừ trường hợp Luật Quản lý thuế có quy định khác.”
    Quy định này bảo đảm tính đồng bộ với quy định của Luật Quản lý thuế.
    Điểm g khoản 1 và khoản 2 Điều 125 Luật Quản lý thuế 2019 quy định:
    Điều 125. Biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế
    1. Các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế bao gồm:

    g) Thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp,…
    2. Các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế quy định tại khoản 1 Điều này chấm dứt hiệu lực kể từ khi tiền thuế nợ được nộp đủ vào ngân sách nhà nước.”
  3. DNTN có thể chuyển đổi thành Công ty TNHH, Công ty Cổ phần, Công ty Hợp danh
    Theo Điều 205 LDN 2020, doanh nghiệp tư nhân có thể chuyển đổi thành công ty TNHH, công ty CP hoặc công ty hợp danh theo quyết định của chủ doanh nghiệp tư nhân nếu đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:
    – Doanh nghiệp được chuyển đổi phải có đủ các điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 27 của Luật này;
    – Chủ doanh nghiệp tư nhân cam kết bằng văn bản chịu trách nhiệm cá nhân bằng toàn bộ tài sản của mình đối với tất cả khoản nợ chưa thanh toán và cam kết thanh toán đủ số nợ khi đến hạn;
    – Chủ doanh nghiệp tư nhân có thỏa thuận bằng văn bản với các bên của hợp đồng chưa thanh lý về việc công ty được chuyển đổi tiếp nhận và tiếp tục thực hiện các hợp đồng đó;
    – Chủ doanh nghiệp tư nhân cam kết bằng văn bản hoặc có thỏa thuận bằng văn bản với các thành viên góp vốn khác về việc tiếp nhận và sử dụng lao động hiện có của doanh nghiệp tư nhân.
    Hiện hành, LDN 2014 chỉ quy định trường hợp chuyển đổi doanh nghiệp tư nhân thành công ty TNHH.
  4. Thêm trường hợp chấm dứt tư cách thành viên hợp danh
    Theo khoản 1 Điều 185 LDN 2020, thành viên hợp danh bị chấm dứt tư cách trong trường hợp sau đây:
    – Tự nguyện rút vốn khỏi công ty;
    – Chết, mất tích, bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi;
    – Bị khai trừ khỏi công ty;
    – Chấp hành hành phạt tù hoặc bị Tòa án cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định theo quy định của pháp luật;
    – Trường hợp khác do Điều lệ công ty quy định.
    So với LDN 2014, thêm trường hợp “có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi” và “chấp hành hành phạt tù hoặc bị Tòa án cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định theo quy định của pháp luật”.
  5. Bổ sung quy định “thực hiện quyền của chủ doanh nghiệp tư nhân trong một số trường hợp đặc biệt”
    So với quy định hiện hành, Điều 193 LDN 2020, bổ sung quy định “thực hiện quyền của chủ doanh nghiệp tư nhân trong một số trường hợp đặc biệt” như sau:
    – Trường hợp chủ doanh nghiệp tư nhân bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù, đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc thì ủy quyền cho người khác thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình.
    – Trường hợp chủ doanh nghiệp tư nhân chết thì người thừa kế hoặc một trong những người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật là chủ doanh nghiệp tư nhân theo thỏa thuận giữa những người thừa kế. Trường hợp những người thừa kế không thỏa thuận được thì đăng ký chuyển đổi thành công ty hoặc giải thể doanh nghiệp tư nhân đó.
    – Trường hợp chủ doanh nghiệp tư nhân chết mà không có người thừa kế, người thừa kế từ chối nhận thừa kế hoặc bị truất quyền thừa kế thì tài sản của chủ doanh nghiệp tư nhân được xử lý theo quy định của pháp luật về dân sự.
    – Trường hợp chủ doanh nghiệp tư nhân bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì quyền và nghĩa vụ của chủ doanh nghiệp tư nhân được thực hiện thông qua người đại diện.
    – Trường hợp chủ doanh nghiệp tư nhân bị Tòa án cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định thuộc phạm vi ngành, nghề kinh doanh của doanh nghiệp thì chủ doanh nghiệp tư nhân tạm ngừng, chấm dứt kinh doanh ngành, nghề có liên quan theo quyết định của Tòa án hoặc chuyển nhượng doanh nghiệp tư nhân cho cá nhân, tổ chức khác.

 

Trên đây là 5 điểm mới được quy định tại 4 chương cuối cùng (Chương VII, Chương VIII, Chương IX, Chương X) của LDN 2020, những quy định này sẽ giá trị áp dụng ngay khi LDN 2020 có hiệu lực, tức kể từ ngày 01/01/2021.
Hy vọng thông tin trên hữu ích với quý bạn đọc.
Bizlawyer hận hạnh được đồng hành cùng bạn!

Những‌ ‌điểm‌ ‌mới‌ ‌của‌ ‌Luật‌ ‌Doanh‌ ‌nghiệp‌ ‌2020‌ ‌–‌ ‌Phần‌ ‌2
Trả lời

Tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIV, Luật Doanh nghiệp 2020 (LDN 2020) đã được thông qua và sẽ chính thức có hiệu lực vào ngày 01/01/2021. Sau đây sẽ là 5 điểm mới được quy định tại 3 chương tiếp theo (Chương IV, Chương V, Chương VI) của LDN 2020, cụ thể bài viết sẽ đi vào chi tiết như sau:

  1. Sửa đổi quy định về Ban Kiểm soát trong Doanh nghiệp nhà nước:
    Theo khoản 1 Điều 103 LDN 2020 quy định: “Căn cứ quy mô của công ty, cơ quan đại diện chủ sở hữu quyết định thành lập Ban kiểm soát có từ 01 đến 05 Kiểm soát viên, trong đó có Trưởng Ban kiểm soát. Nhiệm kỳ Kiểm soát viên không quá 05 năm và có thể được bổ nhiệm lại nhưng không quá 02 nhiệm kỳ liên tục tại công ty đó. Trường hợp Ban kiểm soát chỉ có 01 Kiểm soát viên thì Kiểm soát viên đó đồng thời là Trưởng Ban kiểm soát và phải đáp ứng tiêu chuẩn của Trưởng Ban kiểm soát.
    Theo khoản 1 Điều 102 LDN 2014 quy định: “Căn cứ quy mô của công ty, cơ quan đại diện chủ sở hữu quyết định bổ nhiệm 01 Kiểm soát viên hoặc thành lập Ban kiểm soát gồm 03 đến 05 Kiểm soát viên. Nhiệm kỳ Kiểm soát viên không quá 05 năm và được bổ nhiệm lại nhưng mỗi cá nhân chỉ được bổ nhiệm làm Kiểm soát viên của một công ty không quá 02 nhiệm kỳ.
    Như vậy, có thể thấy điểm khác biệt ở đây là:
    Thứ nhất, LDN 2020 quy định: Doanh nghiệp nhà nước phải có Ban Kiểm Soát, Ban Kiểm Soát này có số lượng Kiểm Soát Viên từ 1 đến 5 người. Trong đó bắt buộc phải có 1 Trưởng Ban Kiểm Soát. LDN 2014 quy định: DNNN có thể bổ nhiệm 1 người hoặc là thành lập 1 ban Kiểm Soát từ 3 đến 5 người, đồng thời không ghi nhận phải có Trưởng Ban Kiểm Soát.
    Thứ hai, quy định mới cho Kiểm Soát Viên được bổ nhiệm lại nhưng không quá 2 nhiệm kỳ liên tục tại Công ty đó, tức là nếu 2 kỳ nhưng không liên tục thì vẫn được bổ nhiệm lại làm Kiểm Soát Viên. Tuy nhiên, LDN 2014 thì không cho phép bổ nhiệm lại Kiểm Soát Viên quá 2 nhiệm kỳ (không phân biệt nhiệm kỳ có liên tục hay không).
  2. Bổ sung quy định về chứng chỉ lưu ký (cổ phần phổ thông cơ sở) không có quyền biểu quyết
    Theo quy định tại Khoản 6, 7 Điều 114 LDN 2020 bổ sung thêm quy định mới về chứng chỉ lưu ký (hay còn gọi là cổ phần phổ thông cơ sở) không có quyền biểu quyết như sau:
    6. Cổ phần phổ thông được dùng làm tài sản cơ sở để phát hành chứng chỉ lưu ký không có quyền biểu quyết được gọi là cổ phần phổ thông cơ sở. Chứng chỉ lưu ký không có quyền biểu quyết có lợi ích kinh tế và nghĩa vụ tương ứng với cổ phần phổ thông cơ sở, trừ quyền biểu quyết.
    7. Chính phủ quy định về chứng chỉ lưu ký không có quyền biểu quyết.
  3. Sửa quy định về quyền của cổ đông phổ thông
    LDN 2020 đã có những sửa đổi, bổ sung đối với LDN 2014 một số nội dung có liên quan đến quyền cổ đông phổ thông, cụ thể như sau:
    Thứ nhất, sửa đổi quy định về cổ đông hoặc nhóm cổ đông có một số quyền đặc biệt:         Điều 114 LDN 2014 quy định cổ đông hoặc nhóm cổ đông có một số quyền đặc biệt là: Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 10% tổng số cổ phần phổ thông trở lên trong thời hạn liên tục ít nhất 06 tháng hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty.
    Điều 115 LDN 2020 quy định cổ đông hoặc nhóm cổ đông có một số quyền đặc biệt là: Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 05% tổng số cổ phần phổ thông trở lên hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn theo quy định tại Điều lệ công ty có quyền sau đây:
    Thứ hai, mở rộng thêm 1 quyền của cổ đông hoặc nhóm cổ đông này liên quan đến xem xét, tra cứu, trích lục các tài liệu của công ty, cụ thể:
    LDN 2020: Quy định về quyền xem xét, tra cứu, trích lục sổ hợp đồng, giao dịch phải thông qua Hội đồng quản trị và tài liệu khác, trừ tài liệu liên quan đến bí mật thương mại, bí mật kinh doanh của công ty.
    LDN 2014: Không có quy định trên.
  4. Bổ sung thêm nghĩa vụ của cổ đông
    Theo đó, bên cạnh việc kế thừa quy định về nghĩa vụ của cổ đông phổ thông tại Điều 115 LDN 2014, Khoản 5 Điều 119 LDN 2020 bổ sung thêm nội dung sau: “Bảo mật các thông tin được công ty cung cấp theo quy định tại Điều lệ công ty và pháp luật; chỉ sử dụng thông tin được cung cấp để thực hiện và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; nghiêm cấm phát tán hoặc sao, gửi thông tin được công ty cung cấp cho tổ chức, cá nhân khác.”
  5. Bổ sung trách nhiệm của người quản lý công ty cổ phần
    So với quy định hiện hành, Khoản 5 Điều 165 LDN 2020, bổ sung thêm trách nhiệm của người quản lý công ty cổ phần như sau: “Thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý khác vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này chịu trách nhiệm cá nhân hoặc liên đới đền bù lợi ích bị mất, trả lại lợi ích đã nhận và bồi thường toàn bộ thiệt hại cho công ty và bên thứ ba.”

 

Trên đây là 5 điểm mới được quy định tại 3 chương tiếp theo (Chương IV, Chương V, Chương VI) của LDN 2020, những quy định này sẽ giá trị áp dụng ngay khi LDN 2020 có hiệu lực, tức kể từ ngày 01/01/2021.

Hy vọng thông tin trên hữu ích với quý bạn đọc.

Bizlawyer hận hạnh được đồng hành cùng bạn!

Những điểm mới của Luật Doanh nghiệp 2020 – Phần 1
Trả lời

Tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIV, Luật Doanh nghiệp 2020 (LDN 2020) đã được thông qua và sẽ chính thức có hiệu lực vào ngày 01/01/2021. Sau đây sẽ là 6 điểm mới được quy định tại 3 chương đầu (Chương I, Chương II, Chương III) của LDN 2020, cụ thể bài viết sẽ đi vào chi tiết như sau:

  1. Thay đổi định nghĩa Doanh nghiệp nhà nước:
    Theo Khoản 11 Điều 4 LDN 2020 định nghĩa: 11. Doanh nghiệp nhà nước bao gồm các doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, tổng số cổ phần có quyền biểu quyết theo quy định tại Điều 88 của Luật này.
    Quy định trên thay thế cho Khoản 8 Điều 4 Luật LDN 2014 định nghĩa: “8. Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.
  2. Bỏ quy định “Báo cáo thay đổi thông tin của người quản lý doanh nghiệp
    Điều 12 LDN 2014 quy định: “Doanh nghiệp phải báo cáo Cơ quan đăng ký kinh doanh nơi doanh nghiệp có trụ sở chính trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày có thay đổi thông tin về họ, tên, địa chỉ liên lạc, quốc tịch, số Thẻ căn cước công dân, Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác của những người sau đây: Thành viên Hội đồng quản trị đối với công ty cổ phần; Thành viên Ban kiểm soát hoặc Kiểm soát viên; Giám đốc hoặc Tổng giám đốc.”
    Tuy nhiên, LDN 2020 đã bãi bỏ quy định này.
  3. Thay đổi quy định về hồ sơ đăng ký Công ty TNHH, Công ty CP:
    Có hai điểm mới đối với Hồ sơ đăng ký Công ty TNHH, Công ty CP:
    Thứ nhất, theo quy định tại Điều 21, Điều 22 LDN 2020 bổ sung thêm quy định về Giấy tờ pháp lý của người đại diện theo pháp luật trong Hồ sơ đăng ký Công ty TNHH, Công ty CP.
    Thứ hai, quy định mới sử dụng thuật ngữ “Giấy tờ pháp lý” thay vì sử dụng thuật ngữ “Thẻ căn cước công dân, Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác”.
  4. Bổ sung thêm đối tượng không được thành lập doanh nghiệp:
    Điểm c, đ, g khoản 2 Điều 17 LDN 2020 bổ sung thêm 3 đối tượng không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam:
    c) Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp, công nhân công an trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam, trừ người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý tại doanh nghiệp nhà nước;
    (đ) Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi;
    (g) Tổ chức là pháp nhân thương mại bị cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định theo quy định của Bộ luật Hình sự.
    Trước đó, tại Khoản 2 Điều 18 chưa quy định 3 nhóm đối tượng trên.
  5. Thay đổi quy định về thông báo mẫu dấu doanh nghiệp:
    Theo Điều 44 LDN 2014 quy định: “Trước khi sử dụng, doanh nghiệp có nghĩa vụ thông báo mẫu con dấu với cơ quan đăng ký kinh doanh để đăng tải công khai trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp”.
    Tuy nhiên, quy định trên đã được bãi bỏ bởi Điều 43 LDN 2020.
  6. Sửa đổi, bổ sung quy định xử lý phần vốn góp trong một số trường hợp đặc biệt
    Điều 53 LDN 2020 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại Điều 54 liên quan đến nội dung xử lý phần vốn góp trong một số trường hợp đặc biệt, cụ thể như sau: có 3 điểm mới:
    Thứ nhất, trường hợp thành viên bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì quyền và nghĩa vụ của thành viên đó trong công ty được thực hiện thông qua người đại diện. Hiện hành, được thực hiện thông qua người giám hộ. (Khoản 3 Điều 53 LDN 2020 thay thế Khoản 2 Điều 54 LDN 2014).
    Thứ hai, bổ sung thêm quy định: “8. Trường hợp thành viên công ty là cá nhân bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù, đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc thì thành viên đó ủy quyền cho người khác thực hiện một số hoặc tất cả quyền và nghĩa vụ của mình tại công ty.” (Khoản 8 Điều 53 LDN 2020)
    Thứ ba, bổ sung thêm quy định: “9. Trường hợp thành viên công ty là cá nhân bị Tòa án cấm hành nghề, làm công việc nhất định hoặc thành viên công ty là pháp nhân thương mại bị Tòa án cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định thuộc phạm vi ngành, nghề kinh doanh của công ty thì thành viên đó không được hành nghề, làm công việc đã bị cấm tại công ty đó hoặc công ty tạm ngừng, chấm dứt kinh doanh ngành, nghề có liên quan theo quyết định của Tòa án”. (Khoản 9 Điều 53 LDN 2020).

 

Trên đây là 6 điểm mới được quy định tại 3 chương đầu (Chương I, Chương II, Chương III) của LDN 2020, những quy định này sẽ giá trị áp dụng ngay khi LDN 2020 có hiệu lực, tức kể từ ngày 01/01/2021.

Hy vọng thông tin trên hữu ích với quý bạn đọc.

Bizlawyer hận hạnh được đồng hành cùng bạn!

Quy định về Hộ chiếu gắn chip điện tử
Trả lời

Ngày 22/11/2019, Quốc Hội ban hành Luật xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam. Theo đó, Luật này ban hành đã có quy định mới về Hộ chiếu có gắn chip điện tử cho công dân Việt Nam.

Tại Khoản 4 Điều 2 Luật xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam quy định: “Hộ chiếu có gắn chíp điện tử là hộ chiếu có gắn thiết bị điện tử lưu giữ thông tin được mã hóa của người mang hộ chiếu và chữ ký số của người cấp“. Hộ chiếu có gắn chíp điện tử được cấp cho công dân Việt Nam từ đủ 14 tuổi trở lên. Các loại hộ chiếu sẽ được gắn chíp điện tử bao gồm:

– Hộ chiếu ngoại giao;
– Hộ chiếu công vụ;
– Hộ chiếu phổ thông.

Như vậy, đến thời điểm Luật này có hiệu lực, thì công dân Việt Nam từ đủ 14 tuổi trở lên được quyền lựa chọn cấp Hộ chiếu có gắn chip điện tử hoặc Hộ chiếu không gắn chip điện tử.

Việc ban hành quy định về Hộ chiếu có gắn chip điện tử là một quy định mới tạo điều kiện thuận lợi cho Công dân Việt Nam khi thực hiện thủ tục xuất cảnh, nhập cảnh tại các cửa khẩu được nhanh chóng hơn, đồng thời Hộ chiếu gắn chíp điện tử cũng có tính bảo mật cao hơn.

Đối với Hộ chiếu của công dân đã được cấp trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì tiếp tục có giá trị sử dụng đến hết thời hạn.

Luật xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam có hiệu lực thi hành vào ngày 1/7/2020.

Quy định cấp chứng chỉ hành nghề kiến trúc
Trả lời

Ngày 13/06/2019, Quốc Hội ban hành Luật kiến trúc 2019 quy định về quản lý kiến trúc, hành nghề kiến trúc; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động kiến trúc.

Theo đó, Luật này này ban hành đã có quy định mới về điều kiện cấp Chứng chỉ hành nghề kiến trúc như sau:

– Có trình độ từ đại học trở lên về lĩnh vực kiến trúc;
– Có kinh nghiệm tham gia thực hiện dịch vụ kiến trúc tối thiểu là 03 năm tại tổ chức hành nghề kiến trúc hoặc hợp tác với kiến trúc sư hành nghề với tư cách cá nhân;
– Đạt yêu cầu sát hạch cấp chứng chỉ hành nghề kiến trúc;
Đối với trường hợp cá nhân đạt giải thưởng kiến trúc quốc gia hoặc giải thưởng quốc tế về kiến trúc được miễn đáp ứng điều kiện về kinh nghiệm thực hiện dịch vụ kiến trúc tối thiểu 03 năm.

Trường hợp cá nhân có thời gian liên tục từ 10 năm trở lên trực tiếp tham gia quản lý nhà nước về kiến trúc, đào tạo trình độ đại học trở lên về lĩnh vực kiến trúc, hành nghề kiến trúc được miễn đáp ứng điều kiện đạt yêu cầu sát hạch.

Luật kiến trúc có hiệu lực thi hành vào ngày 1/7/2020.

Những trường hợp chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp
Trả lời

Ngày 29/5/2020, Chính Phủ ban hành Nghị định số 91/2020/NĐ-CP sửa đổi một số Điều của Nghị định số 28/2015/NĐ-CP ngày 12/3/2015 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật việc làm về bảo hiểm thất nghiệp, Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 15/7/2020

Theo quy định tại khoản 9 Điều 1 Nghị định 61/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung điểm b khoản 1 Điều 21 Nghị định 28/2015/NĐ-CP thì người lao động được xác định là có việc làm để chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp khi thuộc một trong các trường hợp sau:

– Đã giao kết hợp đồng làm việc, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo công việc nhất định có thời hạn từ đủ 01 tháng trở lên. Ngày mà người lao động được xác định có việc làm là ngày hợp đồng làm việc, hợp đồng lao động có hiệu lực theo quy định của pháp luật.
– Có quyết định tuyển dụng hoặc bổ nhiệm đối với những trường hợp không thuộc đối tượng giao kết hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc. Ngày mà người lao động được xác định có việc làm trong trường hợp này là ngày mà người lao động được tuyển dụng hoặc bổ nhiệm ghi trong quyết định tuyển dụng hoặc bổ nhiệm
– Có giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh đối với trường hợp người lao động là chủ hộ kinh doanh hoặc có giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đối với trường hợp người lao động là chủ doanh nghiệp. Ngày mà người lao động được xác định có việc làm là ngày người lao động thông báo với trung tâm dịch vụ việc làm về việc hộ kinh doanh hoặc doanh nghiệp bắt đầu hoạt động kinh doanh.
– Người lao động thông báo đã có việc làm cho trung tâm dịch vụ việc làm. Ngày mà người lao động được xác định có việc làm là ngày ghi trong thông báo có việc làm của người lao động.

Như vậy, có thể thấy, ngoài việc đã sửa đổi, bổ sung các trường hợp được xác định là có việc làm để chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp, Nghị định 61/2020/NĐ-CP còn bổ sung thêm trường hợp Người lao động là chủ hộ kinh doanh, chủ doanh nghiệp.

Công dân có căn cước công dân có thể tự do lựa chọn nơi cấp hộ chiếu
Trả lời

Ngày 22/11/2019, Quốc hội Khóa 14 thông qua Luật xuất nhập cảnh của công dân Việt Nam 2019, Luật này có hiệu lực kể từ ngày 1/7/2020.

Một trong những điểm nổi bật là Luật này có ghi nhận nội dung về việc chỉ cần có căn cước công dân sẽ được cấp hộ chiếu ở bất cứ nơi nào. Theo khoản 3 Điều 15 Luật Xuất nhập cảnh của công dân Việt Nam số 49/2019/QH14, người đề nghị cấp hộ chiếu lần đầu thực hiện tại cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh Công an cấp tỉnh nơi thường trú hoặc nơi tạm trú. Riêng người có thẻ Căn cước công dân thực hiện tại Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh Công an cấp tỉnh nơi thuận lợi.

Như vậy, công dân có căn cước công dân có thể dễ dàng lựa chọn nơi cấp hộ chiếu thay vì phải thực hiện ở nơi thường trú hoặc nơi tạm trú như quy định trước đây. Đồng thời, người đề nghị cấp hộ chiếu phổ thông từ lần thứ 02 cũng sẽ được thực hiện tại cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi thuận lợi hoặc cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh Bộ Công an. Thay vì như hiện nay, chỉ trường hợp cấp lại hộ chiếu còn thời hạn mới được làm thủ tục tại cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh Bộ Công an còn hộ chiếu hết hạn sẽ phải về Phòng Quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi thường trú hoặc nơi tạm trú.

Những trường hợp được chuyển đổi mục đích thị thực
Trả lời

Ngày 25/11/2019, Quốc hội Khóa 14 thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam, Luật này có hiệu lực kể từ ngày 1/7/2020.
Một trong những nội dung cơ thay đổi nổi bật nhất của Luật sửa đổi, bổ sung lần này có thể kể đến quy định về việc chuyển đổi mục đích thị thực. Trước đây Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam năm 2014 quy định thị thực của người nước ngoài tại Việt Nam có giá trị một lần hoặc nhiều lần và không được chuyển đổi mục đích.
Nay theo Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam 2019, người nước ngoài tại Việt Nam được chuyển đổi mục đích thị thực trong các trường hợp sau:
– Có giấy tờ chứng minh là nhà đầu tư hoặc người đại diện cho tổ chức nước ngoài đầu tư tại Việt Nam.
– Có giấy tờ chứng minh quan hệ là cha, mẹ, vợ, chồng, con với cá nhân mời, bảo lãnh.
– Được cơ quan, tổ chức mời, bảo lãnh vào làm việc và có giấy phép lao động hoặc xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động theo quy định của pháp luật về lao động.
– Nhập cảnh bằng thị thực điện tử và có giấy phép lao động hoặc xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động theo quy định của pháp luật về lao động.
Đặc biệt, trước đây, chỉ có trường hợp cấp chung thị thực cho trẻ em dưới 14 tuổi chung hộ chiếu với cha mẹ thì nay Luật còn bổ sung thêm trường hợp cấp thị thực chung, đó là:
Cấp thị thực theo danh sách xét duyệt nhân sự của cơ quan quản lý xuất nhập cảnh đối với người nước ngoài tham quan, du lịch bằng đường biển hoặc quá cảnh đường biển có nhu cầu vào nội địa tham quan, du lịch theo chương trình do doanh nghiệp lữ hành quốc tế tại Việt Nam tổ chức; thành viên tàu quân sự nước ngoài đi theo chương trình hoạt động chính thức của chuyến thăm ngoài phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi tàu, thuyền neo đậu.

Bản Tin Pháp Luật Số 13/2020
Trả lời