Ngày 31/12/2019 vừa qua, Ngân hàng Nhà Nước đã ban hành Thông tư số 33/2019/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 34/2013/TT-NHNN quy định về việc phát hành kỳ phiếu, tín phiêu, trái phiếu trong nước của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Theo đó kể từ ngày 19/02/2020, thời điểm Thông tư có hiệu lực, việc đăng ký Phương án phát hành trái phiếu sẽ được thực hiện theo quy định mới tại Thông tư số 33/2019. Cụ thể:
Trường hợp tổ chức tín dụng nước ngoài có nhu cầu phát hành trái phiếu sẽ nộp hồ sơ tới Vụ chính sách tiền tệ để xin chấp thuận phương án phát hành trái phiếu. Hồ sơ xin chấp thuận phải đầy đủ các thông tin, hồ sơ gồm: tổng mệnh giá phát hành, tên gọi của trái phiếu, lãi suất, thời gian, phương thức phát hành, phương án sử dụng nguồn vốn và phương án chi trả, cam kết của tổ chức tín dụng. Trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận hồ sơ đầy đủ và hợp lệ, Ngân Hàng Nhà Nước sẽ có văn bản trả lời chấp thuận hoặc không chấp thuận phương án phát hành trái phiếu.
Một điểm đáng chú ý khác của Thông tư này là việc quy định về mức lãi suất đối với các giấy tờ có giá do tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phát hành bên cạnh việc tuân thủ các quy định hiện hành về lãi suất của Ngân Hàng Nhà nước cũng phải tuân thủ các quy định của Luật chứng khoán và Nghị định 163/2018/NĐ-CP.
Như vậy với việc Thông tư 33/2019/TT-NHNN được ban hành, Ngân Hàng Nhà Nước đã có động thái nhằm tăng cường quản lý đối với hoạt động huy động vốn của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài nhằm đảm bảo tính mich bạch, an toàn của thị trường tài chính, cũng như tính hiệu quả của chính sách tiền tệ.
Ngày 14/06/2019, Quốc hội đã thông qua Luật phòng chống tác hại của rượu, bia. Theo đó, Luật này bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2020.
Một trong những nội dung nổi bật của Luật phòng chống tác hại của rượu bia liên quan đến việc quản lý kinh doanh rượu, cụ thể:
Thứ nhất, về điều kiện sản xuất:
Điều kiện cấp phép sản xuất rượu công nghiệp có độ cồn từ 5,5 độ trở lên bao gồm:
Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật;
Có dây chuyền máy móc, thiết bị công nghiệp, quy trình công nghệ sản xuất rượu đáp ứng quy mô dự kiến sản xuất;
Bảo đảm điều kiện về an toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật;
Có nhân viên kỹ thuật có trình độ, chuyên môn phù hợp với ngành, nghề sản xuất rượu.
Điều kiện cấp phép sản xuất rượu thủ công có độ cồn từ 5,5 độ trở lên nhằm mục đích kinh doanh, trừ trường hợp bán cho cơ sở có giấy phép sản xuất rượu để chế biến lại, bao gồm:
Doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã hoặc hộ kinh doanh được thành lập theo quy định của pháp luật;
Bảo đảm điều kiện về an toàn thực phẩm theo quy ánh của pháp luật.
Điều kiện đối với hộ gia đình, cá nhân sản xuất rượu thủ công có độ cồn từ 5,5 độ trở lên bán cho cơ sở có giấy phép sản xuất rượu để chế biến lại bao gồm:
Có hợp đồng mua bán với cơ sở có giấy phép sản xuất rượu và có đăng ký với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có cơ sở sản xuất;
Bảo đảm điều kiện về an toàn thực phẩm theo quy định của pháp luật.
Thứ hai, đối với điều kiện cấp phép mua bán rượu có độ cồn từ 5,5 độ trở lên bao gồm:
Đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật;
Đáp ứng điều kiện theo từng loại hình mua bán rượu.
Nhằm đảm bảo việc thực hiện được đúng đắn và thống nhất, trong quá trình tiếp theo Chính phủ sẽ quy định chi tiết Điều này và quy định việc quản lý kinh doanh rượu có độ cồn dưới 5,5 độ.
Việc ban hành Luật Phòng chống tác hại của rượu, bia là cần thiết trong bối cảnh lạm dụng rượu, bia như hiện nay, đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu tác hại của việc, cũng như là cơ sở pháp lý cho hoạt động xử lý đối với hành vi lạm dụng rượu bia.
Ngày 30 tháng 12 năm 2019, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 100/2019/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt. Nghị định 100/2019/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/01/2020.
Theo đó, người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô, xe gắn máy trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn thì bị phạt như sau:
Có nồng độ cồn trong máu hoặc hơi thở nhưng chưa vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc chưa vượt quá 0,25 miligam/1 lít khí thở thì bị phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng (Nghị định 46/2016/NĐ-CP không quy định mức phạt tiền với trường hợp này).
Có nồng độ cồn trong máu hoặc hơi thở vượt quá 50 miligam đến 80 miligam /100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở thì bị phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng (Mức phạt theo Nghị định 46 là từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng).
Có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở thì bị phạt tiền từ 6.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng (Mức phạt theo Nghị định 46 là từ 3.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng).
So với trước đây, Luật giao thông đường bộ 2008 quy định về người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy mà trong máu có nồng độ cồn từ 50 miligam/100 mililít máu hoặc 0,25 miligam/1 lít khí thở trở xuống sẽ không bị xử phạt thì Nghị định 100/2019/NĐ-CP quy định khắc khe hơn. Đây là một chính sách cực kì tiến bộ, góp phần hạn chế tối đa tình trạng tai nạn giao thông do uống rượu bia.
Ngày 22/11/2019, Ngân hàng nhà nước (NHNN) Việt Nam ban hành Thông tư số 23/2019/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 39/2014/TT-NHNN của Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam hướng dẫn về dịch vụ trung gian thanh toán.
Theo đó, quy định tổng hạn mức giao dịch qua các Ví điện tử cá nhân của 01 khách hàng tại 01 tổ chức cung ứng dịch vụ Ví điện tử (bao gồm giao dịch thanh toán cho các hàng hóa, dịch vụ hợp pháp và giao dịch chuyển tiền từ Ví điện tử cho Ví điện tử khác do cùng tổ chức cung ứng dịch vụ Ví điện tử mở) tối đa là 100 triệu đồng/tháng. Trước đó, trong dự thảo Thông tư này, Ngân hàng Nhà nước đã đề xuất hạn mức giao dịch ví điện tử đối với cá nhân là 20 triệu đồng/ngày và 100 triệu đồng/tháng; của tổ chức là 100 triệu đồng/ngày và 500 triệu đồng/tháng. Đề xuất này nhận được nhiều ý kiến trái chiều, cho rằng hạn mức này sẽ kìm hãm thanh toán điện tử.
Quy định trên không áp dụng đối với Ví điện tử cá nhân của người có ký hợp đồng/thỏa thuận làm đơn vị chấp nhận thanh toán với tổ chức cung ứng dịch vụ Ví điện tử.
Đồng thời, Thông tư cũng bổ sung quy định xác thực thông tin khách hàng mở Ví điện tử như sau:
Chủ Ví điện tử phải cung cấp, cập nhật đầy đủ, chính xác các thông tin trong hồ sơ mở Ví điện tử cho tổ chức cung ứng dịch vụ Ví điện tử và chịu trách nhiệm về tính trung thực của các thông tin mà mình cung cấp.
Tổ chức cung ứng dịch vụ Ví điện tử có trách nhiệm kiểm tra, đối chiếu, đảm bảo hồ sơ mở Ví điện tử của khách hàng là đầy đủ, hợp lệ theo quy định tại khoản 1, 2, 3 Điều 9 Thông tư 39/2014 (đã được sửa đổi, bổ sung tại khoản 3 Điều 1 Thông tư 23/2019).
Thông tư 23/2019/TT-NHNN có hiệu lực thi hành từ ngày 07/01/2020 và bãi bỏ khoản 3 Điều 25 Thông tư 37/2016/TT-NHNN; sửa đổi, bổ sung điểm d khoản 1 Điều 5 Thông tư 04/2016/TT-NHNN. Việc quy định hạn mức gia dịch đối với ví điện tử nhằm giảm thiểu rủi ro về lợi dụng để rửa tiền, thực hiện hành vi bất hợp pháp.
Ngày 14/11/2019, Chính phủ ban hành Nghị định 86/2019/NĐ-CP quy định về mức vốn pháp định của tổ chức tính dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 15/01/2020.
Theo đó, tại Điều 2 của nghị định có quy định mức vốn pháp định đối với từng chủ thể như sau:
1. Ngân hàng thương mại: 3.000 tỷ đồng.
2. Ngân hàng chính sách: 5.000 tỷ đồng.
3. Ngân hàng hợp tác xã: 3.000 tỷ đồng.
4. Chi nhánh ngân hàng nước ngoài: 15 triệu đô la Mỹ (USD).
5. Công ty tài chính: 500 tỷ đồng.
6. Công ty cho thuê tài chính: 150 tỷ đồng.
7. Tổ chức tài chính vi mô: 05 tỷ đồng.
8. Quỹ tín dụng nhân dân hoạt động trên địa bàn một xã, một thị trấn (sau đây gọi là xã): 0,5 tỷ đồng.
9. Quỹ tín dụng nhân dân hoạt động trên địa bàn một phường; quỹ tín dụng nhân dân hoạt động trên địa bàn liên xã, liên xã phường, liên phường: 01 tỷ đồng.
Ngành nghề liên quan đến lĩnh vực tài chính – ngân hàng luôn tiềm ẩn những rủi ro, trường hợp có sự cố sẽ gây thiệt hại không nhở tới các chủ thể có liên quan. Vì vậy, việc ban hành Nghị định 86/2019/NĐ-CP xác định rõ mức vốn pháp định của chủ thể hoạt động trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng, nhằm đảm bảo thanh toán, khắc phục khi có những rủi ro có thể phát sinh, tăng cường sự an tâm của các chủ thể có liên quan tới hoạt động tài chính – ngân hàng.
Ngày 15/11/2019 Chính Phủ ban hành Nghị định 90/2019/NĐ-CP quy định về mức lương tối thiểu vùng của Người Lao động, có hiệu lực từ ngày 01/01/2020 thay thế Nghị định 157/2018/NĐ-CP.
Nghị định 90/2019/NĐ-CP quy định mức lương tối thiểu vùng áp dụng đối với người lao động làm việc ở doanh nghiệp như sau:
Mức 4.420.000 đồng/tháng, áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng I.
Mức 3.920.000 đồng/tháng, áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng II.
Mức 3.430.000 đồng/tháng, áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng III.
Mức 3.070.000 đồng/tháng, áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng IV.
Theo đó, Doanh nghiệp hoạt động trên đại bàn vùng nào thì áp dụng mức lương tối thiểu vùng quy định đối với địa bàn đó. Trường hợp doanh nghiệp có đơn vị, chi nhánh hoạt động trên các địa bàn có mức lương tối thiểu vùng khác nhau thì đơn vị, chi nhánh hoạt động ở địa bàn nào, áp dụng mức lương tối thiểu vùng quy định đối với địa bàn đó.
Khi thực hiện mức lương tối thiểu vùng quy định tại Nghị định này, doanh nghiệp không được xóa bỏ hoặc cắt giảm các chế độ tiền lương khi người lao động làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm, làm việc trong điều kiện lao động nặng nhọc, độc hại, chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật đối với các chức danh nghề nặng nhọc, độc hại và các chế độ khác theo quy định của pháp luật lao động. Các khoản phụ cấp, bổ sung khác, trợ cấp, tiền thưởng do doanh nghiệp quy định thì thực hiện theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể hoặc trong quy chế của doanh nghiệp.
Mức lương tối thiểu vùng quy định tại Nghị định này là mức thấp nhất làm cơ sở để doanh nghiệp và người lao động thỏa thuận và trả lương, trong đó mức lương trả cho người lao động làm việc trong điều kiện lao động bình thường, bảo đảm đủ thời giờ làm việc bình thường trong tháng và hoàn thành định mức lao động hoặc công việc đã thỏa thuận phải bảo đảm:
(1) Không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm công việc giản đơn nhất; (2)Cao hơn ít nhất 7% so với mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm công việc đòi hỏi người lao động đã qua học nghề, đào tạo nghề.
Như vậy, kể từ ngày 01/01/2020, các doanh nghiệp tiến hành rà soát điều chỉnh và xây dựng lại thang bẳng lương mới để phù hợp với quy định pháp luât. Sự thay đỏi mức lương này là cần thiết với sự thay đổi của kinh tế xã hội trong 1 năm qua, tạo điều kiện cho Người lao động có cuộc sống tốt hơn. Nhiều doanh nghiệp hiện tại đang áp dụng mức lương cao hơn mức lương tối thiểu vùng vì vậy việc thay đổi mức lương này cũng không ảnh hưởng quá nhiều đối với doanh nghiệp.
Ngày 23/09/2019, Chính phủ ban hành Nghị định số 74/2019/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 61/2015/NĐ-CP quy định về chính sách hỗ trợ tạo việc làm và Quỹ quốc gia về việc làm. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 08/11/2019.
Theo đó, Nghị định số 74/2019/NĐ-CP có quy định cụ thể về hồ sơ vay vốn từ Quỹ quốc gia về việc làm, cụ thể:
Đối với người lao động: Giấy đề nghị vay vốn có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về việc cư trú hợp pháp; trường hợp thuộc đối tượng ưu tiên quy định tại Luật việc làm thì thực hiện khai theo Mẫu số 1a và Mẫu số 1b ban hành kèm theo Nghị định này;
Đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh, hồ sơ vay vốn gồm:
– Dự án vay vốn có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về nơi thực hiện dự án theo Mẫu số 2 ban hành kèm theo Nghị định này;
– Bản sao một trong các giấy tờ sau: Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; giấy chứng nhận đăng ký hợp tác xã; hợp đồng hợp tác; giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh;
– Giấy tờ chứng minh cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc đối tượng ưu tiên quy định tại Luật việc làm (nếu có), bao gồm:
+ Đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh sử dụng từ 30% tổng số lao động trở lên là người khuyết tật: Bản sao Quyết định về việc công nhận cơ sở sản xuất, kinh doanh sử dụng từ 30% tổng số lao động trở lên là người khuyết tật do Sở Lao động – Thương binh và Xã hội cấp;
+ Đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh sử dụng từ 30% tổng số lao động trở lên là người dân tộc thiểu số: Danh sách lao động là người dân tộc thiểu số, bản sao chứng minh nhân dân hoặc sổ hộ khẩu hoặc sổ tạm trú và bản sao hợp đồng lao động hoặc quyết định tuyển dụng của những người lao động trong danh sách;
+ Đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh sử dụng từ 30% tổng số lao động trở lên là người khuyết tật và người dân tộc thiểu số: Danh sách lao động là người khuyết tật và người dân tộc thiểu số, bản sao giấy xác nhận khuyết tật của những người lao động là người khuyết tật do Ủy ban nhân dân cấp xã cấp, bản sao chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu hoặc sổ hộ khẩu hoặc sổ tạm trú của những người lao động là người dân tộc thiểu số và bản sao hợp đồng lao động hoặc quyết định tuyển dụng của những người lao động trong danh sách.
Nhìn chung, việc ban hành Nghị định số 74/2019/NĐ-CP thể hiện sự hỗ trợ từ phía Nhà nước tới các cá nhân là người lao động, cơ sở sản xuất, kinh doanh có ý nghĩa thúc đẩy tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm hoặc hỗ trợ người lao động đi làm việc tại nước ngoài.