Sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo (AI) trong những năm gần đây đã và đang tạo ra nhiều thay đổi lớn trong hoạt động kinh doanh, truyền thông và đời sống xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh lợi ích , AI cũng đang bị lợi dụng như một công cụ phạm tội mới với mức độ tinh vi ngày càng cao. Nhiều hành vi sử dụng AI giả giọng nói, hình ảnh gây thiệt hại không chỉ về tài sản mà còn xâm phạm nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm, uy tín, quyền riêng tư và an toàn pháp lý của cá nhân, tổ chức.

Sử dụng AI giả giọng nói, hình ảnh để lừa đảo, bôi nhọ sẽ bị xử lý hình sự
Luật Trí tuệ nhân tạo 2025 số 134/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025 và có hiệu lực từ ngày 01/3/2026 (Luật Trí tuệ nhân tạo 2025). Đây là đạo luật đầu tiên của Việt Nam điều chỉnh trực tiếp hoạt động phát triển, triển khai, và sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo, đánh dấu bước hoàn thiện quan trọng trong hành lang pháp lý đối với việc phát triển và ứng dụng AI tại Việt Nam, chính thức xác lập khái niệm AI và định hướng quản lý việc ứng dụng AI theo nguyên tắc an toàn, quản trị rủi ro, bảo đảm quyền con người, quyền công dân và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Về bản chất, dùng công nghệ sử dụng AI giả giọng nói, hình ảnh, giọng nói, video là việc sử dụng mô hình AI để tạo ra hoặc chỉnh sửa hình ảnh, âm thanh, giọng nói, khuôn mặt, cử chỉ, video, ngữ điệu, biểu cảm theo hướng khiến người khác tin rằng đó là dữ liệu thật hoặc phát ngôn thật của một người có thật.
Trong thực tế, các hành vi thường gặp gồm: Giả giọng nói người thân/người quen để yêu cầu chuyển tiền gấp; Giả danh lãnh đạo doanh nghiệp, kế toán trưởng, nhân viên ngân hàng để yêu cầu thanh toán; Dựng video giả có nội dung nhạy cảm nhằm bôi nhọ, hạ nhục hoặc tống tiền; Giả hình ảnh, giả phát ngôn của cá nhân/tổ chức để tạo scandal hoặc gây áp lực dư luận; Dùng AI để tạo “chứng cứ giả” nhằm vu khống người khác trong quan hệ dân sự, thương mại, lao động hoặc thậm chí trong tố tụng.
Điểm đặc biệt nguy hiểm của hành vi này là: AI không chỉ tạo ra “thông tin sai”, mà còn tạo ra “cảm giác thật”. Nạn nhân thường bị đánh lừa không phải chỉ bởi nội dung, mà bởi dấu hiệu nhận diện vốn trước đây được coi là đáng tin cậy như giọng nói, khuôn mặt, video trực tiếp, biểu cảm hoặc ngữ cảnh quen thuộc.
Dưới góc độ pháp lý hình sự, đây chính là điểm khiến hành vi sử dụng sử dụng AI trở nên nguy hiểm hơn so với các thủ đoạn giả mạo truyền thống về: mức độ tinh vi cao hơn, khả năng gây nhầm lẫn mạnh hơn, phạm vi lan truyền rộng hơn và hậu quả pháp lý có thể lớn hơn.
Nếu một người sử dụng AI giả giọng nói, khuôn mặt, video call, hình ảnh hoặc giả danh tính nhằm làm cho người bị hại tin rằng họ đang giao dịch với người thật, từ đó tự nguyện chuyển tiền hoặc giao tài sản, thì bản chất pháp lý của hành vi này vẫn là dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản. Trường hợp này có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Như vậy, AI không làm thay đổi bản chất tội phạm, mà chỉ làm cho thủ đoạn gian dối trở nên tinh vi, xảo quyệt hơn và có thể làm tăng mức độ nguy hiểm của hành vi.
Dùng AI để lừa đảo, chiếm đoạt tài sản được thực hiện hoàn toàn trên không gian mạng: Dấu hiệu của Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (Điều 290 BLHS)
Bên cạnh Điều 174 BLHS, trong những trường hợp mà hành vi chiếm đoạt tài sản được thực hiện chủ yếu hoặc hoàn toàn thông qua mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử, cơ quan tiến hành tố tụng có thể xem xét thêm dấu hiệu của Điều 290 BLHS – Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản.
Nói cách khác, nếu AI chỉ là một mắt xích trong toàn bộ hành vi phạm tội trên môi trường số, thì việc định tội có thể không dừng lại ở “lừa đảo truyền thống”, mà có thể xem xét dấu hiệu tại Điều 290 BLHS, tùy hành vi, công cụ được sử dụng và bản chất pháp lý của phương thức chiếm đoạt.
Không phải mọi hành vi giả mạo bằng AI đều nhằm chiếm đoạt tài sản. Trong thực tế, một số đối tượng sử dụng AI để dựng clip phản cảm, ghép ảnh nhạy cảm, giả giọng nói có nội dung không phù hợp đạo đức, nhạy cảm hoặc phát tán video giả nhằm làm cho nạn nhân bị xấu hổ, bị hạ nhục, bị tổn thương tinh thần nghiêm trọng trước gia đình, cơ quan, cộng đồng hoặc trên mạng xã hội.
Trong những trường hợp này, hành vi có thể bị xem xét theo Điều 155 BLHS – Tội làm nhục người khác. Bản chất của tội danh này là hành vi xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác.
Nghiêm trọng hơn, AI còn được dùng để tạo ra thông tin giả nhằm làm cho người khác tin là thật, gây thiệt hại đến danh dự, uy tín, quyền và lợi ích hợp pháp của nạn nhân, hành vi có thể bị xem xét Tội vu khống theo Điều 156 BLHS khi có hành vi: bịa đặt thông tin; lan truyền điều biết rõ là sai sự thật; bịa đặt người khác phạm tội rồi tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.
Cụ thể như: Dựng video giả khiến người xem tưởng rằng nạn nhân nhận hối lộ, ngoại tình, phát ngôn phản cảm hoặc thực hiện hành vi trái pháp luật; tạo file ghi âm trí tuệ nhân tạo giả để làm như nạn nhân đã thừa nhận một hành vi sai phạm; tạo hình ảnh, clip, đoạn chat giả bằng trí tuệ nhân tạo rồi gửi cho cơ quan, đối tác, khách hàng hoặc cơ quan tố tụng nhằm hạ uy tín hoặc gây bất lợi pháp lý cho nạn nhân.
Một dạng nguy hiểm khác là: đối tượng tạo hoặc sử dụng clip trí tuệ nhân tạo (AI) giả, hình ảnh nhạy cảm giả, ghi âm giả, sau đó đe dọa phát tán cho gia đình, cơ quan, đối tác hoặc cộng đồng mạng nếu nạn nhân không chuyển tiền. Trong trường hợp này, mục tiêu không còn chỉ là bôi nhọ, mà là uy hiếp tinh thần để chiếm đoạt tài sản. Khi đó, hành vi có thể bị xem xét theo Điều 170 BLHS – Tội cưỡng đoạt tài sản.
Từ góc độ thực tiễn hành nghề, trong các vụ việc liên quan đến AI, người bị hại càng chậm xử lý thì nguy cơ mất dấu vết điện tử càng cao. Do đó, ngay khi phát hiện mình bị giả mạo hoặc bị dùng AI để lừa đảo, bôi nhọ, tống tiền, cần thực hiện ngay các bước sau:
Bizlawyer luôn đồng hành cùng cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp trong việc tư vấn, xử lý các tranh chấp, hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng. Chúng tôi luôn là điểm tựa pháp lý vũng chắc bảo vệ danh dự, uy tín và quyền lợi hợp pháp của Qúy khách hàng trước các rủi ro phát sinh từ công nghệ số và trí tuệ nhân tạo.
Trong bối cảnh đô thị hóa và phát triển hạ tầng ngày càng mạnh mẽ, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về xây dựng trở nên hết sức cần thiết. Luật Xây dựng 2025 ra đời nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn, khắc phục những hạn chế của các quy định trước đây. So với các phiên bản cũ, luật mới có nhiều điểm đổi mới quan trọng, hướng tới sự minh bạch và hiệu quả trong quản lý và điều chỉnh quan hệ phát sinh giữa các bên trong hợp đồng xây dựng. Vì vậy, việc tìm hiểu và nắm bắt các điểm mới của Luật Xây dựng 2025 là cần thiết để nắm bắt xu hướng và áp dụng đúng trong thực tiễn.

Điểm mới đáng chú ý của Luật Xây dựng 2025
Luật Xây dựng 2014 và các Luật sửa đổi Luật Xây dựng 2014 (“Luật Xây dựng 2014”) đều vắng bóng quy định về luật áp dụng đối với hợp đồng xây dựng. Mặc dù 138.1 Luật Xây dựng 2014 đưa ra định nghĩa Hợp đồng xây dựng là hợp đồng dân sự, tuy nhiên do hợp đồng xây dựng cũng có tính chất thương mại nên trong trường hợp nếu Luật Xây dựng không có quy định điều chỉnh thì thứ tự áp dụng sau Luật Xây dựng là Luật Thương mại hay Bộ luật Dân sự vẫn là vấn đề chưa thống nhất được và có nhiều quan điểm khác nhau.
Luật Xây dựng 2025 đã giải quyết triệt để vấn đề này bằng quy định tại Điều 4, nêu rõ: Những nội dung về hợp đồng xây dựng chưa được quy định cụ thể tại Luật này thì áp dụng quy định về hợp đồng trong Luật Đấu thầu, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư và Bộ luật Dân sự. Như vậy, Bộ luật Dân sự chỉ là luật được ưu tiên áp dụng sau Luật Đấu thầu và Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công ty. Với quy định này, một số vấn đề khác biệt cơ bản trong chế định Luật thương mại và Bộ luật Dân sự trong hợp đồng xây dựng đã được làm rõ và thống nhất áp dụng như sau:
Luật Xây dựng 2014 quy định trước khi khởi công, Chủ đầu tư phải có giấy phép xây dựng do cơ quan có thẩm quyền cấp, trừ một số công trình được miễn giấy phép xây dựng (Điều 89).
Kế thừa quy định nêu trên tại Luật Xây dựng 2014, Luật Xây dựng 2025 mở rộng phạm vi các trường hợp được miễn giấy phép xây dựng (Điều 43.2) theo hướng phân cấp và đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, cụ thể bao gồm các trường hợp sau:
Tuy nhiên lưu ý rằng, mặc dù được miễn giấy phép xây dựng nhưng chủ đầu tư vẫn phải thực hiện thủ tục gửi thông báo khởi công xây dựng (đối với các công trình thuộc dự án đầu tư công nêu trên), một số trường hợp phải gửi thông báo khởi công xây dựng kèm theo hồ sơ tương ứng với hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng theo quy định pháp luật (đối với các công trình còn lại ngoại trừ công trình thuộc dự án đầu tư công nêu trên) (Điều 43.3 Luật Xây dựng 2025).
Luật Xây dựng 2014 quy định về nguyên tắc bồi thường thiệt hại là mức bồi thường phải tương đương với mức độ tổn thất của bên kia (Điều 146.2). Ngoài ra, theo quy định của pháp luật khác có điều chỉnh về bồi thường thiệt hại thì đều thống nhất nguyên tắc bồi thường thiệt hại phải là thiệt hại thực tế và có thể chứng minh được (Điều 361.2 Bộ luật Dân sự và Điều 302.2 Luật Thương mại).
Luật Xây dựng 2025 trên cơ sở kế thừa nguyên tắc về bồi thường thiệt hại Luật Xây dựng 2014 về xác định bồi thường thiệt hại phải theo thiệt hại thực tế, còn bổ sung thêm quy định về mức thiệt hại định trước tương ứng với các nghĩa vụ của hợp đồng xây dựng bị vi phạm và mức độ vi phạm.
Bồi thường thiệt hại định trước là một chế định khá phổ biến trong các mẫu hợp đồng xây dựng quốc tế như các mẫu hợp đồng tiêu chuẩn quốc tế được biên soạn bởi Hiệp hội các kỹ sư tư vấn quốc tế (“Mẫu hợp đồng FIDIC”). Việc Luật Xây dựng 2025 công nhận về chế định bồi thường thiệt hại định trước là một nỗ lực của nhà làm luật trong việc cải cách, sửa đổi quy định pháp luật tiệm cận với các chuẩn mực quốc tế.
Tuy nhiên, chế định về bồi thường thiệt hại định trước theo quy định Luật Xây dựng 2025 có sự khác biệt nhất định so với chế định này theo quy định của Mẫu hợp đồng của FIDIC, cụ thể:
| STT | Nội dung | Luật Xây dựng 2025 | Mẫu hợp đồng FIDIC |
|---|---|---|---|
| 1 | Tính chất | Nguyên tắc hỗ trợ, bổ sung cho bồi thường theo thiệt hại thực tế và có thể áp dụng cho mọi loại vi phạm hợp đồng | Nguyên tắc chính, độc lập thường được áp dụng đối với vi phạm về chậm tiến độ |
| 2 | Chứng minh thiệt hại | Buộc phải chứng minh thiệt hại để bảo đảm các mức thiệt hại định trước phải tương ứng với các nghĩa vụ hợp đồng xây dựng bị vi phạm, mức độ vi phạm | Không cần chứng minh thiệt hại |
Như vậy, bồi thường thiệt hại định trước theo quy định của Luật Xây dựng 2025 và theo mẫu hợp đồng FIDIC là không giống nhau. Việc xem xét bồi thường thiệt hại định trước theo Mẫu hợp đồng FIDIC là bồi thường thiệt hại hay phạt hợp đồng sẽ quyết định đến tính hiệu lực của điều khoản này trong hợp đồng xây dựng.
Nếu bồi thường thiệt hại định trước theo mẫu hợp đồng FIDIC là thuộc chế tài bồi thường thiệt hại thì bên bị vi phạm buộc phải chứng minh thiệt hại đó phải tương ứng với nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm và mức độ vi phạm. Trường hợp nội dung tranh chấp này được giải quyết tại Tòa án hay Trọng tài, cơ quan tài phán này sẽ xem xét để có thể công nhận, công nhận một phần hoặc không công nhận khoản bồi thường thiệt hại định trước này.
Nếu bồi thường thiệt hại định trước theo mẫu hợp đồng FIDIC là thuộc chế tài phạt hợp đồng thì bên bị vi phạm không phải chứng minh thiệt hại. Đặc biệt đối với các công trình sử dụng vốn đầu tư tư nhân thì không có giới hạn về mức trần phạt hợp đồng nên thỏa thuận về bồi thường thiệt hại định trước này có thể được hoàn toàn công nhận và áp dụng trên thực tế.
Do đó, để hạn chế các bất đồng, mâu thuẫn, tranh chấp có thể xảy ra, các bên trong hợp đồng xây dựng nên sửa đổi điều khoản mẫu và thỏa thuận rõ ràng rằng thiệt hại định trước trên là hình thức bồi thường thiệt hại hay phạt hợp đồng.
Luật Xây dựng 2014 quy định các hình thức giải quyết tranh chấp bao gồm thương lượng, hòa giải, trọng tài thương mại, và tòa án (Điều 146.8). Trong Nghị định 37/2015/NĐ-CP hướng dẫn Luật Xây dựng 2014 có đề cập đến Ban xử lý tranh chấp như một cơ quan giải quyết tranh chấp phát sinh giữa các bên trong hợp đồng xây dựng. Tuy nhiên, Ban xử lý tranh chấp này lại được xác định như là hình thức hòa giải đặc biệt được áp dụng đối với một số hợp đồng xây dựng nhất định thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định này. Tính chất hoạt động của Ban xử lý tranh chấp này khác hoàn toàn với tinh thần của mô hình xử lý tranh chấp theo thông lệ quốc tế như được quy định tại mẫu hợp đồng FIDIC.
Luật Xây dựng 2025 vẫn kế thừa các hình thức giải quyết tranh chấp như được nêu tại Luật Xây dựng 2014 bao gồm các hình thức thương lượng, hòa giải, trọng tài thương mại, và tòa án (Điều 86.5). Tuy nhiên, Luật Xây dựng 2025 đã bổ sung thêm hình thức giải quyết tranh chấp thông qua các mô hình xử lý tranh chấp theo thông lệ quốc tế để cung cấp cho các bên trong hợp đồng xây dựng thêm lựa chọn về một hình thức giải quyết tranh chấp.
Mô hình xử lý tranh chấp theo thông lệ quốc tế thường được biết đến là Ban phòng ngừa và xử lý tranh chấp theo mẫu hợp đồng FIDIC vừa có chức năng phòng ngừa và giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng xây dựng. Mặc dù được công nhận chính thức trong Luật Xây dựng 2025 như một hình thức giải quyết tranh chấp giữa các bên trong hợp đồng xây dựng nhưng để có thể sử dụng hình thức này giải quyết tranh chấp vẫn còn một số vấn đề cần làm rõ, ví dụ như hiệu lực thi hành của phán quyết của Ban xử lý tranh chấp này, cơ chế chuyển tiếp, phối hợp từ Ban xử lý tranh chấp sang trọng tài hoặc tòa án để tiếp tục đưa ra phán quyết cuối cùng. Do đó, các bên trong hợp đồng có thể cần chờ có văn bản hướng dẫn cụ thể về các vấn đề nêu trên.
Luật Xây dựng 2014 không có quy định về sự kiện bất khả kháng và hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Theo đó, các quy định về sự kiện bất khả kháng và hoàn cảnh thay đổi cơ bản được điều chỉnh bởi các quy định tương ứng tại Bộ luật Dân sự và Luật Thương mại. Theo đó, các quy định về sự kiện bất khả kháng và hoàn cảnh thay đổi cơ bản tại các luật nêu trên chỉ đưa ra định nghĩa cơ bản để xác định một sự kiện là sự kiện bất khả kháng hay hoàn cảnh thay đổi cơ bản.
Luật Xây dựng 2025 nêu rõ sự kiện được xác định là sự kiện bất khả kháng hay hoàn cảnh thay đổi cơ bản phải đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật dân sự. Như vậy, như đã phân tích tại mục 1, Luật Xây dựng 2025 nêu rõ các điều kiện để xác định sự kiện bất khả kháng hay hoàn cảnh thay đổi cơ bản chỉ cần căn cứ vào quy định của Bộ luật Dân sự, không xem xét đến các quy định của Luật Thương mại. Thêm vào đó, Luật Xây dựng 2025 đưa ra các trường hợp cụ thể về các sự kiện được xem là bất khả kháng và hoàn cảnh thay đổi cơ bản, như sau:
Sự kiện bất khả kháng trong hoạt động xây dựng, bao gồm:
Hoàn cảnh thay đổi cơ bản trong hoạt động xây dựng bao gồm các trường hợp:
Trong điều khoản của hợp đồng xây dựng, các bên có quyền thỏa thuận thêm các trường hợp khác là sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn cảnh thay đổi để khi thực tế xảy ra các bên có cơ sở để thực hiện.
Việc xác định cụ thể các sự kiện là sự kiện bất khả kháng hay thay đổi hoàn cảnh cơ bản trong Luật Xây dựng 2025 làm cơ sở thuận lợi để các bên căn cứ vào đó soạn thảo các điều khoản này trong hợp đồng xây dựng một cách thống nhất, hạn chế được các tranh chấp phát sinh, đặc biệt trong bối cảnh việc thực hiện hợp đồng xây dựng luôn kéo dài và bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như pháp luật, kinh tế, chính trị đan xen.
Luật Xây dựng 2025 đã bổ sung nhiều quy định mới theo hướng minh bạch, đồng bộ và tiệm cận thông lệ quốc tế, giúp nâng cao hiệu quả quản lý và hạn chế tranh chấp trong hoạt động xây dựng. Tuy nhiên, cần có hướng dẫn chi tiết để bảo đảm áp dụng thống nhất trong thực tiễn.
Trong công ty cổ phần, mỗi cổ đông có thể sở hữu một hoặc nhiều cổ phần tuỳ thuộc vào khả năng tài chính. Tỷ lệ nắm giữ cổ phần sẽ gắn liền với quyền, nghĩa vụ của cổ đông. Luật Doanh nghiệp 2020 không hạn chế số lượng cổ phần tối đa của cổ đông nhưng yêu cầu mỗi cổ đông là cá nhân, tổ chức phải sở hữu ít nhất một cổ phần.

Cơ chế bảo vệ cổ đông thiểu số
Trên thực tế có cổ đông nắm giữ số lượng cổ phần rất lớn, có khả năng kiểm soát, chi phối toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp nhưng cũng có cổ đông sở hữu số lượng cổ phần rất nhỏ, thậm chí chỉ nắm giữ duy nhất một cổ phần. Từ sự phân hoá cơ cấu cổ phần, một số tên gọi được hình thành và sử dụng phổ biến trong công ty cổ phần như “cổ đông lớn”, “ cổ đông nắm quyền kiểm soát”, “cổ đông nhỏ” hay “cổ đông thiểu số”.
Hiện nay, Luật Doanh nghiệp 2020 không định nghĩa chính thức về cổ đông thiểu số nhưng dựa trên thực tiễn và đối chiếu các quy định pháp luật liên quan, cổ đông thiểu số có thể được hiểu là cổ đông nắm giữ số lượng cổ phần ở mức thấp, bị hạn chế về khả năng tham gia quản trị, điều hành, chi phối hoạt động trong công ty cổ phần. Sự chênh lệch về tỷ lệ sở hữu vốn đã dẫn đến sự bất bình đẳng, bất cân xứng quyền lực giữa các cổ đông lớn và cổ đông thiểu số, thậm chí tạo ra mâu thuẫn, xung đột về mặt lợi ích.
Các cổ đông thiểu số thường có vị thế thấp hơn, không có nhiều ảnh hưởng trong việc đưa ra ý kiến, quyết định đối với các vấn đề quản trị doanh nghiệp. Việc bảo vệ quyền, lợi ích của cổ đông thiểu số trở thành yêu cầu rất cần thiết và đang được pháp luật quan tâm nhằm đảm bảo tính công bằng, minh bạch trong hoạt động quản trị nội bộ, hạn chế tối đa tình trạng tư lợi diễn ra trong nội bộ doanh nghiệp.
Mặc dù cổ đông thiểu số chỉ nắm giữ số lượng cổ phần nhỏ và không tác động nhiều đến việc quản trị công ty nhưng nếu các cổ đông thiểu số cùng liên kết với nhau có thể tạo ra nhóm cổ đông có tỷ lệ sở hữu vốn phù hợp để thực hiện các quyền quan trọng theo quy định Luật Doanh nghiệp. Luật Doanh nghiệp 2020 đã ghi nhận và thiết lập một số quyền cần thiết dành cho cổ đông thiểu số nhằm đảm bảo tính công bằng trong quản trị, điều phối hoạt động doanh nghiệp. Theo đó, nhóm cổ đông thiểu số khi đáp ứng điều kiện về tỷ lệ sở hữu có thể thực hiện nhiều quyền quan trọng ở khía cạnh quản trị, bao gồm:
Thứ nhất, quyền yêu cầu triệu tập cuộc họp Đại hội đồng cổ đông. Theo quy định khoản 2 Điều 115 Luật Doanh nghiệp 2020, cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 05% tổng số cổ phần phổ thông trở lên hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn theo quy định tại Điều lệ công ty có quyền yêu cầu triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông trong trường hợp Hội đồng quản trị vi phạm nghiêm trọng quyền của cổ đông, nghĩa vụ của người quản lý hoặc ra quyết định vượt quá thẩm quyền được giao; hoặc trường hợp khác theo quy định tại Điều lệ công ty. Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp hiện hành chưa quy định cụ thể thế nào là hành vi “vi phạm nghiêm trọng”.
Việc xác định hành vi này mang yếu tố định tính, phụ thuộc vào ý chí chủ quan của mỗi bên, khó áp dụng trên thực tế. Bên cạnh đó, liên quan đến việc tổ chức cuộc họp Đại hội đồng cổ đông, Điều 142 Luật Doanh nghiệp 2020 cho phép cổ đông hoặc nhóm cổ đông có tỷ lệ sở hữu cổ phần nêu trên được quyền kiến nghị các vấn đề đưa vào chương trình họp Đại hội đồng cổ đông.
Thứ hai, quyền đề cử, bầu cử người vào Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát. Theo quy định khoản 5 Điều 115 Luật Doanh nghiệp 2020, cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 10% tổng số cổ phần phổ thông trở lên hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn theo quy định tại Điều lệ công ty có quyền đề cử người vào Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát. Trong mô hình công ty cổ phần, Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý công ty, có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định, thực hiện quyền và nghĩa vụ của công ty. Trong khi đó, Ban kiểm soát là cơ quan có chức năng thực hiện giám sát Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc trong việc quản lý và điều hành công ty.
Đây là hai cơ quan quản lý, giám sát quan trọng đóng vai trò điều phối, vận hành đảm bảo công ty hoạt động ổn định, đúng quy định pháp luật. Xuất phát từ vị trí của hai cơ quan này, Luật Doanh nghiệp hiện hành cho phép cổ đông hoặc nhóm vổ đông có tỷ lệ sở hữu như trên được quyền đề cử người vào thành viên Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát. Quy định này tạo điều kiện cho cổ đông thiểu số tham gia vào bộ máy quản lý, điều hành doanh nghiệp, từ đó thực hiện việc giám sát hoạt động, thể hiện tiếng nói, quan điểm, tham gia đóng góp ý kiến và quyết định các vấn đề thuộc thẩm quyền, hạn chế sự chi phối tuyệt đối của cổ đông lớn.
Thứ ba, quyền tiếp cận thông tin của cổ đông thiểu số. Luật Doanh nghiệp 2020 trao cho cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 05% tổng số cổ phần phổ thông trở lên hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn theo quy định tại Điều lệ công ty được mở rộng quyền tiếp cận thông tin.
Các chủ thể này được quyền xem xét, tra cứu, trích lục sổ biên bản và nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị, báo cáo tài chính giữa năm và hằng năm, báo cáo của Ban kiểm soát, hợp đồng, giao dịch phải thông qua Hội đồng quản trị và tài liệu khác, trừ tài liệu liên quan đến bí mật thương mại, bí mật kinh doanh của công ty. Quy định này đã góp phần giúp cổ đông thiểu số có cơ sở giám sát hoạt động quản lý của cấp lãnh đạo, hạn chế tình trạng che giấu, không minh bạch thông tin, tài liệu quan trọng hoặc thao túng nội bộ doanh nghiệp.
Thứ tư, quyền khởi kiện đối với thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc, Tổng giám đốc. Cổ đông, nhóm cổ đông sở hữu ít nhất 01% tổng số cổ phần phổ thông có quyền tự mình hoặc nhân danh công ty khởi kiện trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm liên đới đối với các thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc để yêu cầu hoàn trả lợi ích hoặc bồi thường thiệt hại cho công ty hoặc người khác trong các trường hợp:
(1) Người này vi phạm trách nhiệm của người quản lý công ty theo quy định tại Điều 165 Luật Doanh nghiệp;
(2) Không thực hiện, thực hiện không đầy đủ, thực hiện không kịp thời hoặc thực hiện trái với quy định của pháp luật hoặc Điều lệ công ty, nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị đối với quyền và nghĩa vụ được giao;
(3) Có hành vi lạm dụng địa vị, chức vụ và sử dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh, tài sản khác của công ty để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác
Đây là cơ chế mang tính kiểm soát, răn đe đối với người quản lý doanh nghiệp, cũng đồng thời là công cụ hữu ích để cổ đông thiểu số được thực hiện các quyền tư pháp nhằm bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của họ.
Thứ năm, quyền yêu cầu hủy bỏ nghị quyết Đại hội đồng cổ đông. Điều 151 Luật Doanh nghiệp 2020 trao cho cổ đông, nhóm cổ đông sở hữu từ 05% tổng số cổ phần phổ thông trở lên hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn theo quy định tại Điều lệ công ty có quyền yêu cầu Tòa án hoặc Trọng tài xem xét, hủy bỏ nghị quyết hoặc một phần nội dung nghị quyết Đại hội đồng cổ đông trong trường hợp có dấu hiệu cho thấy trình tự, thủ tục triệu tập họp và ra quyết định của Đại hội đồng cổ đông vi phạm nghiêm trọng quy định của Luật Doanh nghiệp và Điều lệ công ty; hoặc nội dung nghị quyết vi phạm pháp luật hoặc Điều lệ công ty.
Một lần nữa, thuật ngữ “vi phạm nghiêm trọng” được tiếp tục đề cập là căn cứ để yêu cầu huỷ bỏ nghị quyết Đại hội đồng cổ đông nhưng không được lý giải cụ thể, từ đó dẫn đến việc áp dụng trên thực tế phụ thuộc hoàn toàn vào yếu tố chủ quan của Toà án, Trọng tài, thiếu sự thống nhất trong quá trình xét xử. Mặc dù vậy, nếu quyền này được thực thi một cách hiệu quả cũng góp phần đảm cho cho việc ban hành các quyết định, nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông tuân thủ đúng quy định pháp luật, tránh tình trạng cổ đông lớn áp đặt, chi phối việc ban hành quyết định, nghị quyết.
Quy định Luật Doanh nghiệp hiện hành có nhiều bước tiến nổi bật, mở rộng quyền của cổ đông thiểu số, tăng cường sự giám sát và thiết lấp cơ chế quản lý hiệu quả hơn trong doanh nghiệp. Ngày càng nhiều các cổ đông, nhà đầu tư hiểu hơn về cơ chế quản lý, quyền hạn của mình trong doanh nghiệp và thực tế giai đoạn gần đây Bizlawyer cũng đã tiếp nhận rất nhiều các đề nghị tư vấn liên quan đến giải quyết tranh chấp nội bộ doanh nghiệp, đặc biệt liên quan đến nhóm các cổ đông thiểu số hay còn xác định là nhóm cổ đông yếu thế trong doanh nghiệp.
Tuy vậy, thực trạng chung của việc áp dụng các quy định này còn nhiều hạn chế và chưa thật sự hiệu quả. Nguyên nhân của sự bất cập này xuất phát từ nhiều yếu tố như sự phối hợp và tuân thủ của người quản lý doanh nghiệp, tỷ lệ sở hữu cổ phần như hiện nay được đánh giá còn khá cao, Điều lệ doanh nghiệp quy định chưa thật sự rõ ràng và khả thi… Từ đó, để góp phần thực thi hiệu quả các quyền nêu trên đòi hỏi pháp luật cần tiếp tục hoàn thiện chặt chẽ hơn, phải có những quy định mang tính khả thi, áp dụng cao hơn nữa.
Đồng thời, hoạt động kiểm soát, vận hành nội bộ doanh nghiệp phải được tăng cường, minh bạch, tuân thủ đúng quy định pháp luật. Bên cạnh đó, các cổ đông thiểu số cần tự nâng cao ý thức và chủ động, liên kết, hành động quyết liệt hơn khi vận dụng các công cụ pháp lý theo quy định pháp luật để bảo vệ tốt hơn các quyền, lợi ích của mình trong quá trình tham gia quản trị công ty cổ phần.
Trong trường hợp cần hỗ trợ chuyên sâu, Quý khách hàng vui lòng liên hệ:
Luật sư tư vấn: Trần Thị Mỹ Duyên
Email: duyen.tran@bizlawyer.vn
Điện thoại: 038 7730896.
Trân trọng./.
Trong những năm gần đây, Việt Nam liên tục cải thiện khung pháp lý nhằm tạo môi trường đầu tư cạnh tranh toàn cầu và thuận lợi hơn cho các nhà đầu tư nước ngoài. Một trong những thay đổi đáng chú ý nhất sẽ có hiệu lực từ ngày 01/03/2026 là việc cải cách thủ tục đầu tư dưới hình thức thành lập tổ chức kinh tế áp dụng cho nhà đầu tư nước ngoài mà theo đó pháp luật về quản lý đầu tư được điều chỉnh theo hướng linh hoạt hơn đối với quá trình gia nhập thị trường của nhà đầu tư nước ngoài, cụ thể như sau:

Nhà đầu tư không cần có dự án đầu tư trước khi thành lập doanh nghiệp
Căn cứ Khoản 1 Điều 22 Luật Đầu tư 2020 được bổ sung bởi Khoản 4 Điều 6 Luật sửa đổi Luật Đấu thầu; Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư; Luật Hải quan; Luật Thuế giá trị gia tăng; Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; Luật Đầu tư; Luật Đầu tư công; Luật Quản lý, sử dụng tài sản công 2025 có hiệu lực từ ngày 01/07/2025, trước khi thành lập tổ chức kinh tế, nhà đầu tư nước ngoài phải có dự án đầu tư, thực hiện thủ tục cấp, điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, trừ các trường hợp sau:
(1) Thành lập doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo và quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo theo quy định của pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.
(2) Thành lập mới trung tâm đổi mới sáng tạo, trung tâm nghiên cứu và phát triển.
(3) Dự án đầu tư xây dựng hạ tầng trung tâm dữ liệu lớn, hạ tầng điện toán đám mây, hạ tầng di động từ 5G trở lên và hạ tầng số khác trong lĩnh vực công nghệ chiến lược theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
(4) Dự án đầu tư trong lĩnh vực công nghệ chiến lược, sản xuất sản phẩm công nghệ chiến lược theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
Như vậy, trước khi quy định mới có hiệu lực, trừ một số trường hợp đặc thù theo quyết định của Chính phủ, quá trình thành lập doanh nghiệp có vốn nước ngoài tại Việt Nam thường phải trải qua hai bước thủ tục pháp lý tách biệt nhưng có liên quan chặt chẽ với nhau. Trước hết, nhà đầu tư phải đăng ký dự án đầu tư và thực hiện thủ tục đề nghị cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Chỉ sau khi có Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, nhà đầu tư mới được tiếp tục thực hiện thủ tục thành lập doanh nghiệp và đề nghị cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
Cách tiếp cận này xuất phát từ mô hình quản lý truyền thống, trong đó cơ quan quản lý nhà nước cần xem xét và đánh giá nội dung của dự án đầu tư trước khi cho phép thành lập tổ chức kinh tế thực hiện dự án. Khi đó, thông qua quá trình thẩm định, cơ quan quản lý nhà nước có thể kiểm soát mục tiêu đầu tư, quy mô vốn, địa điểm thực hiện dự án và mức độ phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội.
Tuy nhiên, kể từ ngày 01/03/2026, thời điểm Luật Đầu tư 2025 chính thức có hiệu lực, quy định tại đã được tái cấu trúc căn bản. Cụ thể, tại Khoản 2 Điều 19 Luật Đầu tư 2025 đã tạo điều kiện cho nhà đầu tư nước ngoài được thành lập tổ chức kinh tế thực hiện dự án đầu tư trước khi thực hiện thủ tục cấp, điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.
Cơ chế cho phép nhà đầu tư nước ngoài được quyền lựa chọn thời điểm thành lập doanh nghiệp trước hoặc sau khi dự án được chấp thuận. Bởi lẽ trường hợp nhà đầu tư nước ngoài lựa chọn thành lập doanh nghiệp trước, nhà đầu tư nước ngoài có thể nhanh chóng thực hiện các giao dịch dân sự thiết yếu như thuê văn phòng, tuyển dụng nhân sự thông qua pháp nhân được thành lập trước khi chính thức triển khai dự án.
Điều này góp phần giúp nhà đầu tư nước ngoài rút ngắn thời gian gia nhập thị trường và kịp thời nắm bắt, tận dụng các cơ hội đầu tư kinh doanh. Đặc biệt đối với các dự án cần thẩm định khi mà thời gian xử lý thủ tục đề nghị cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư của cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể kéo dài nhiều tuần hoặc lâu hơn từ đó làm lỡ mất cơ hội đầu tư kinh doanh, tiềm ẩn nhiều rủi ro cho nhà đầu tư.
Việc cho phép nhà đầu tư nước ngoài được quyền lựa chọn thời điểm thành lập doanh nghiệp không chỉ giúp họ linh hoạt trong kế hoạch đầu tư kinh doanh mà còn thể hiện tư duy quản trị rủi ro hiện đại. Từ cơ chế quản lý dựa trên phê duyệt trước được chuyển sang mô hình tập trung vào giám sát hoạt động đầu tư trong quá trình vận hành và giúp hệ thống pháp luật đầu tư của Việt Nam tiệm cận hơn với thông lệ của nhiều quốc gia có môi trường đầu tư kinh doanh phát triển. Nhờ đó giúp rút ngắn khoảng cách về thủ tục hành chính giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài, giảm bớt các rào cản pháp lý ban đầu.
Với sự mở rộng này, môi trường đầu tư của Việt Nam trở nên thông thoáng và hấp dẫn hơn, khuyến khích dòng vốn chất lượng cao và lâu dài đầu tư vào Việt Nam. Mặc dù theo quy định mới không còn bắt buộc nhà đầu tư nước ngoài phải có dự án và thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ngay từ đầu. Nhưng điều này không có nghĩa là nhà đầu tư nước ngoài được miễn trừ các nghĩa vụ pháp lý liên quan đến hoạt động đầu tư.
Theo đó, trước khi thực hiện thủ tục thành lập tổ chức kinh tế, nhà đầu tư nước ngoài vẫn cần chủ động đánh giá cẩn trọng, kỹ lưỡng, toàn diện về ngành nghề đầu tư kinh doanh dự kiến, điều kiện tiếp cận thị trường và các quy định pháp lý chuyên ngành. Trong đó, điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài theo quy định tại Khoản 3 Điều 8 Luật Đầu tư 2025 được xem như điều kiện tiên quyết. Nhóm điều kiện này bao gồm:
(i) Tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ của nhà đầu tư nước ngoài trong tổ chức kinh tế;
(ii) Hình thức đầu tư;
(iii) Phạm vi hoạt động đầu tư;
(iv) Năng lực của nhà đầu tư; đối tác tham gia thực hiện hoạt động đầu tư;
(v) Điều kiện khác theo quy định tại luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nghị định của Chính phủ và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
Tóm lại việc Luật Đầu tư 2025 có phép Nhà đầu tư nước ngoài thành lập doanh nghiệp trước khi thực hiện dự án thật sự là bước ngoặt về cải cách pháp lý. Tuy nhiên, sự linh hoạt này không đồng nghĩa với việc nới lỏng các nghĩa vụ pháp lý khác. Do đó, các nhà đầu tư cần thường xuyên cập nhật các quy định, hướng dẫn mới có liên quan để nắm bắt chi tiết nhằm xây dựng chiến lược đầu tư kinh doanh, chiến lược pháp lý rõ ràng và bảo đảm tuân thủ đầy đủ các yêu cầu pháp luật có liên quan.
Trong trường hợp cần hỗ trợ chuyên sâu, Quý khách hàng vui lòng liên hệ:
Trưởng Phòng Tư vấn Doanh nghiệp – Đầu tư: Phạm Thị Hương
• Email: huong.pham@bizlawyer.vn
• Điện thoại: 0969114589.
Trân trọng./.
Theo Nghị định số 118/2024/NĐ-CP, kết quả lao động của phạm nhân sẽ được trích ra để phục vụ các công việc khác nhau, trong đó 45% được chi để đầu tư trở lại cho trại tạm giam nhằm phục vụ tổ chức lao động, dạy nghề, mua sắm thiết bị và xây dựng cơ sở vật chất.
Nghị định số 118/2024/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật thi hành án hình sự sẽ có hiệu lực từ ngày 15/11. Trong đó, việc sử dụng kết quả lao động, học nghề của phạm nhân ra sao là một trong những vấn đề được nhiều người quan tâm.
Theo quy định tại Điều 17 Nghị định này, kết quả lao động của phạm nhân là phần chênh lệch thu lớn hơn chi từ hoạt động tổ chức lao động, học nghề của phạm nhân sau khi trừ đi các chi phí hợp lý. Việc sử dụng số tiền trên sẽ được quy định như sau:
Thứ nhất, trích 45% chi hỗ trợ đầu tư trở lại cho trại giam, trong đó 35% được trích để tạo nguồn vốn chung đầu tư trở lại cho trại giam, phục vụ giáo dục, lao động nghề, mua sắm trang thiết bị, phương tiện, công cụ và xây dựng cơ sở vật chất, 10% còn lại được trích để đào tạo nghề, bồi dưỡng nâng cao tay nghề phạm nhân;
Thứ hai, trích 27% bổ sung Quỹ phúc lợi, khen thưởng của trại giam, trong đó 16% được trích để thực hiện các hoạt động như hỗ trợ phạm nhân tổ chức hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao; hỗ trợ phạm nhân khi bị bệnh, phải điều trị tại cơ sở khám chữa bệnh; hỗ trợ cán bộ, chiến sĩ trại giam có hoàn cảnh khó khăn, khi bị bệnh, gặp tai nạn…, 9% được trích bổ sung Quỹ khen thưởng của trại giam để thưởng những phạm nhân có thành tích xuất sắc, thưởng cán bộ, chiến sĩ có thành tích trong quản lý tổ chức lao động, giáo dục dạy nghề và 2% được trích nộp về Cục Cảnh sát Quản lý trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng, Cục Điều tra hành sự Bộ Quốc phòng làm quỹ hỗ trợ các hoạt động quản lý, tổng kết, sơ kết, tập huấn, hội nghị, hội thảo, hội thao, hội diễn và hợp tác quốc tế.
Thứ ba, trích 14% bổ sung mức ăn cho phạm nhân;
Thứ tư, trích 10% chi trả một phần công lao động cho phạm nhân tham gia lao động;
Thứ năm, trích 2% lập Quỹ hòa nhập cộng đồng để tư vấn, hỗ trợ phạm nhân khi chấp hành xong án phạt tù.
Thứ sáu, trích 2% chi hỗ trợ cho phạm nhân bị tai nạn lao động.
So với quy định cũ tại Nghị định số 133/2020/NĐ-CP, mức chi hỗ trợ đầu tư trở lại cho trại giam và chi trả một phần công cho phạm nhân lao động lần lượt bị cắt giảm từ 50% xuống 45% và từ 12% xuống 10%. Tuy nhiên, mức chi bổ sung Quỹ phúc lợi, khen thưởng được điều chỉnh tăng từ 22% lên 27%. Ngoài ra, quy định mới cũng bổ sung mức chi tương ứng 2% để hỗ trợ phạm nhân bị tai nạn lao động.
Bản tin này chỉ nhằm mục đích thông tin về những quy định pháp luật mới ban hành, không dùng để tư vấn hay áp dụng cho những trường hợp cụ thể.
Bizlawyer hân hạnh được đồng hành cùng Quý Bạn đọc!
Ngày 04/11, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 145/2024/NĐ-CP sửa đổi khoản 2, Điều 12 Nghị định 03/2017/NĐ-CP về kinh doanh casino. Theo đó, đối với doanh nghiệp kinh doanh casino đầu tiên được cấp có thẩm quyền cho pháp thí điểm cho người Việt Nam vào chơi casino, thời gian thực hiện thí điểm sẽ được gia hạn tới hết ngày 31/12/2024. Đối với doanh nghiệp kinh doanh casino khác được cấp phép (nếu có), thời gian thực hiện thí điểm là 03 năm, từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh casino.
Kết thúc thời gian trên, doanh nghiệp thực hiện thí điểm phải dừng cho người Việt Nam vào chơi cho tới khi Chính phủ ban hành Nghị định về việc chấm dứt hoặc cho phép người Việt Nam vào chơi casino.
Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp Bộ Công an, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và UBND tỉnh, thành phố nơi có doanh nghiệp thí điểm có trách nhiệm báo cáo Chính phủ. Căn cứ báo cáo đó, Chính phủ sẽ ban hành Nghị định về việc chấm dứt hoặc tiếp tục cho phép người Việt Nam vào chơi casino.
Hiện nay, Việt Nam có 6 doanh nghiệp được cấp phép thí điểm bao gồm: Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Du lịch Phú Quốc (TP Phú Quốc, Kiên Giang); Công ty Cổ phần Quốc tế Hoàng Gia (Hạ Long, Quảng Ninh); Công ty Cổ phần Giải trí quốc tế Lợi Lai (Móng Cái, Quảng Ninh); Công ty liên doanh Khách sạn Quốc tế Lào Cai (TP Lào Cai, Lào Cai); Công ty TNHH Phát triển Nam Hội An (TP Hội An, Quảng Nam); Công ty TNHH Liên doanh du lịch quốc tế Hải Phòng (TP Hải Phòng).
Theo quy định cũ, thời gian thực hiện thí điểm là 03 năm, từ ngày doanh nghiệp kinh doanh casino được cấp phép thí điểm cho người Việt Nam vào chơi. Sau 03 năm thí điểm, Chính phủ sẽ tổng kết, đánh giá và quyết định tiếp tục cho phép người Việt Nam chơi casino hoặc chấm dứt, không cho phép người Việt Nam chơi casino tại Việt Nam.
Bản tin này chỉ nhằm mục đích thông tin về những quy định pháp luật mới ban hành, không dùng để tư vấn hay áp dụng cho những trường hợp cụ thể.
Bizlawyer hân hạnh được đồng hành cùng Quý Bạn đọc!
Pháp luật có quy định về việc cấm người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị tạm giam hoặc đang chấp hành hình phạt tù làm người đứng đầu doanh nghiệp. Vậy đối với trường hợp đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa được xóa án tích, họ có được đảm nhiệm vai trò này hay không?
Sau khi chấp hành xong bản án của TAND Cấp cao tại TPHCM về tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” theo Điều 331 Bộ luật Hình sự năm 2015, bà Nguyễn Phương Hằng đã được trả tự do vào ngày 19/9. Sau khi bà Hằng được trả tự do, Công ty Cổ phần Tập đoàn Đại Nam đã bổ nhiệm bà làm Phó Tổng Giám đốc công ty, đồng thời giữ chức vụ Tổng giám đốc điều hành khu du lịch Đại Nam.
Từ đây, một vấn đề pháp lý được đặt ra, đó là việc người mới ra tù và chưa được xóa án tích có được làm chủ doanh nghiệp hay không? Và đối với các trường hợp mới chấp hành xong hình phạt tù, khi nào họ có thể được xóa án tích?
Điều kiện để trở thành người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
Theo khoản 2, Điều 17 Luật Doanh nghiệp năm 2020, các tổ chức, cá nhân thuộc nhóm đối tượng sau đây không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam:
Thứ nhất, Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà nước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình;
Thứ hai, Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức;
Thứ ba, Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp, công nhân công an trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam, trừ người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp hoặc quản lý tại doanh nghiệp nhà nước;
Thứ tư, Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong doanh nghiệp nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 88 của Luật này, trừ người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác;
Thứ năm, Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; người bị mất năng lực hành vi dân sự; người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; tổ chức không có tư cách pháp nhân;
Thứ sáu, Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù, đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đang bị Tòa án cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; các trường hợp khác theo quy định của Luật Phá sản, Luật Phòng, chống tham nhũng.
Trường hợp Cơ quan đăng ký kinh doanh có yêu cầu, người đăng ký thành lập doanh nghiệp phải nộp Phiếu lý lịch tư pháp cho Cơ quan đăng ký kinh doanh;
Thứ bảy, Tổ chức là pháp nhân thương mại bị cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định theo quy định của Bộ luật Hình sự.
Ngoài những quy định trên, Luật Doanh nghiệp năm 2020 cùng như các văn bản quy phạm pháp luật khác không có quy định về việc cấm người đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa được xóa án tích được quyền điều hành hoặc trở thành người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp. Do đó, đối với các trường hợp tương tự như bà Phương Hằng, dù mới ra tù và chưa được xóa án tích nhưng việc nữ doanh nhân được bổ nhiệm trở thành người đứng đầu khu du lịch Đại Nam là hoàn toàn phù hợp, không vi phạm các quy định bị pháp luật nghiêm cấm.
Thời hạn xóa án tích
Về việc xóa án tích, theo Điều 69 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, người bị kết án được xóa án tích theo quy định tại các Điều từ 70 đến Điều 73 Bộ luật này. Đối với trường hợp bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và người được miễn hình phạt, khi chấp hành xong hình phạt tù thì họ không bị coi là có án tích.
Việc xóa án tích được chia thành 3 trường hợp, bao gồm Đương nhiên được xóa án tích; Xóa án tích theo quyết định của Tòa án và Xóa án tích trong trường hợp đặc biệt.
Đối với trường hợp Đương nhiên được xóa án tích theo Điều 70 Bộ luật Hình sự 2015, việc đương nhiên được xóa án tích áp dụng đối với người bị kết án không phải về các tội quy định tại Chương XIII và Chương XXVI của Bộ luật này khi họ đã chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách án treo hoặc hết thời hiệu thi hành bản án và đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.
Về thời hạn, đối với người bị phạt tiền, cải tạo không giam giữ, cảnh cáo, phạt tiền hoặc được án treo, nếu trong thời hạn 1 năm từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời hạn thử thách án treo mà người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới thì được xóa án tích.
Đối với người bị phạt tù tới 5 năm, thời hạn là 2 năm từ ngày chấp hành xong hình phạt chính còn với các trường hợp bị phạt tù từ trên 5 năm tới 15 năm và từ 15 năm trở lên, chung thân hoặc tử hình nhưng được giảm án, thời hạn áp dụng lần lượt là 3 và 5 năm.
Người bị kết án đương nhiên được xóa án tích nếu từ khi hết thời hiệu thi hành bản án, người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này.
Đối với trường hợp Xóa án tích theo quyết định của Tòa án theo Điều 71 Bộ luật Hình sự 2015, quy định này áp dụng đối với người bị kết án về các tội quy định tại Chương XIII và Chương XXVI của Bộ luật này khi họ đã chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách án treo hoặc hết thời hiệu thi hành bản án và đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này. Căn cứ tính chất tội phạm đã thực hiện, thái độ chấp hành pháp luật, thái độ lao động của người bị kết án, Tòa án quyết định việc xóa án tích đối với những người này.
Về thời hạn, đối với người bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 1 năm, nếu trong thời hạn 3 năm từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời hạn thử thách án treo mà người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới thì được Tòa án xóa án tích.
Đối với người phải chấp hành án tù từ đến 5 năm, thời hạn là 3 năm; với mức án từ 5-15 năm tù, thời hạn là 5 năm còn với người bị phạt tù từ 15 năm trở lên, chung than hoặc tử hình nhưng được giảm án, thời hạn là 7 năm.
Trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt bổ sung là quản chế, cấm cư trú, tước một số quyền công dân mà thời hạn phải chấp hành dài hơn thời hạn quy định tại điểm a khoản này thì thời hạn được xóa án tích sẽ hết vào thời điểm người đó chấp hành xong hình phạt bổ sung.
Người bị kết án được Tòa án quyết định xóa án tích, nếu từ khi hết thời hiệu thi hành bản án, người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này. Trường hợp người bị Tòa án bác đơn xin xóa án tích lần đầu, thì sau 01 năm mới được xin xóa án tích; nếu bị bác đơn lần thứ hai trở đi, thì sau 02 năm mới được xin xóa án tích.
Đối với trường hợp Xóa án tích trong trường hợp đặc biệt, theo Điều 72 Bộ luật Hình sự 2015, trong trường hợp người bị kết án có những biểu hiện tiến bộ rõ rệt và đã lập công, được cơ quan, tổ chức nơi người đó công tác hoặc chính quyền địa phương nơi người đó cư trú đề nghị, thì Tòa án quyết định việc xóa án tích nếu người đó đã bảo đảm được ít nhất 1/3 thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 70 và khoản 2 Điều 71 của Bộ luật này.
Lấy ví dụ đối với trường hợp của bà Phương Hằng, trong thời hạn 2 năm từ ngày chấp hành xong hình phạt chính tức ngày 19/9/2024, nếu nữ doanh nhân đã chấp hành xong hình phạt bổ sung và không thực hiện hành vi phạm tội mới thì sẽ thuộc trường hợp đương nhiên được xóa án tích.
Trung tâm Lý lịch tư pháp Quốc gia – Bộ Tư pháp sẽ hướng dẫn Sở Tư pháp trực tiếp quy định các thủ tục chi tiết để xóa án tích cho các trường hợp được đương nhiên xóa án tích. Người muốn làm thủ tục đương nhiên xóa án tích sẽ nộp đơn tới Sở Tư pháp của tỉnh, thành phố nơi mình thường trú, đối với trường hợp của bà Phương Hằng là Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương.
Luật sư Trần Hoàng Linh
Mobile: 0862.047.446 – Email: Linh.tran@bizlawyer.vn
Chỉ thị số 04/2024/CT-CA về triển khai thi hành Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 có đề cập nghiên cứu thành lập thêm 1 Tòa án nhân dân cấp cao nhằm san sẻ áp lực công việc, khắc phục tình trạng quá tải trong giải quyết, xét xử các vụ án, vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp cao hiện nay. Việc thành lập và quy định số lượng các Tòa cấp cao, các vụ trong cơ cấu tổ chức của Tòa cấp cao phải căn cứ vào tình hình công việc thực tế để đảm bảo tính tinh gọn nhưng vẫn đạt hiệu quả, hợp lý biên chế, cơ sở vật chất và phương tiện làm việc. Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao sẽ chịu trách nhiệm trong việc rà soát, đề xuất việc thành lập các tòa, vụ mới, số lượng các tòa, vụ trong cơ cấu tổ chức của Tòa án nhân dân cấp cao.
Bên cạnh đó, đề xuất thành lập thêm các Tòa án nhân dân sơ thẩm chuyên biệt cũng là điểm mới được chú ý. Việc thành lập các Tòa án nhân dân sơ thẩm chuyên biệt sẽ do Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định trên cơ sở đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, căn cứ vào tình hình thực tế. Các Tòa án nhân dân sơ thẩm chuyên biệt được thành lập dựa trên tình hình giải quyết công việc, nhằm đảm bảo tính hiệu quả, chuyên nghiệp trong tổ chức và hoạt động xét xử; phù hợp với trình độ chuyên môn sâu của Thẩm phán, Hội thẩm trong xét xử, nâng cao chất lượng trong việc giải quyết các vụ việc. Đồng thời, nội dung kiện toàn các chức vụ lãnh đạo tại các TAND sơ thẩm chuyên biệt cũng được đề cập. Theo đó, hoạt động kiện toàn phải bảo đảm đúng và đủ, cụ thể là đúng theo quy trình bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo và người được bổ nhiệm phải đáp ứng đủ các tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định.
Chỉ thị 04/2024/CT-CA triển khai thi hành Luật Tổ chức Tòa án nhân dân do Tòa án nhân dân tối cao ban hành có hiệu lực từ ngày 14/09/2024.
Bản tin này chỉ nhằm mục đích thông tin về những quy định pháp luật mới ban hành, không dùng để tư vấn hay áp dụng cho những trường hợp cụ thể.
Bizlawyer hân hạnh được đồng hành cùng Quý Bạn đọc!
Thông báo về việc đăng ký lại chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh do người đại diện theo pháp luật của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên ký (Phụ lục IV)
Quyết định chuyển đổi, trong đó bao gồm thông tin về chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh được đăng ký lại (Phụ lục I)
Bản sao Giấy tờ pháp lý của cá nhân người đứng đầu chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên;
Bản sao Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh của công ty nhà nước, công ty con chưa chuyển đổi hoặc các giấy tờ có giá trị pháp lý tương đương.
Thủ tục đăng ký lại chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh của công ty nhà nước:
Nếu công ty nhà nước hoặc công ty con chưa chuyển đổi có chi nhánh, văn phòng đại diện, hoặc địa điểm kinh doanh, thì sau khi chuyển đổi, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên phải đăng ký lại các đơn vị này theo quy định tại Nghị định 89/2024/NĐ-CP.
Trong vòng 15 ngày kể từ khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên phải nộp hồ sơ đăng ký lại chi nhánh, văn phòng đại diện, hoặc địa điểm kinh doanh tại Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh nơi các đơn vị này đang hoạt động, theo quy định tại Điều 13 Nghị định 89/2024/NĐ-CP.
Cơ quan đăng ký kinh doanh có 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ để xem xét tính hợp lệ và cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động cho chi nhánh, văn phòng đại diện, và cập nhật thông tin về địa điểm kinh doanh trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.
Nếu doanh nghiệp có nhu cầu, Cơ quan đăng ký kinh doanh sẽ cấp Giấy chứng nhận đăng ký địa điểm kinh doanh. Trong trường hợp từ chối cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh hoặc văn phòng đại diện, Cơ quan đăng ký kinh doanh phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho doanh nghiệp.
Nghị định 89/2024/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/09/2024.
Bản tin này chỉ nhằm mục đích thông tin về những quy định pháp luật mới ban hành, không dùng để tư vấn hay áp dụng cho những trường hợp cụ thể.
Bizlawyer hân hạnh được đồng hành cùng Quý Bạn đọc!