Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 đặt ra những điều kiện khắt khe đối với việc hành nghề môi giới bất động sản, trong đó có việc chấm dứt hoạt động môi giới bất động sản tự do và buộc cá nhân hoạt động trong lĩnh vực này phải hoạt động cho doanh nghiệp, hưởng thù lao, hoa hồng từ doanh nghiệp.
Phải thành lập doanh nghiệp hành nghề môi giới bất động sản
Điều 61 Luật Kinh doanh bất động sản 2023 quy định tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ môi giới bất động sản phải thành lập doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ bất động sản và đáp ứng các điều kiện sau: Có quy chế hoạt động dịch vụ; Có cơ sở vật chất, kỹ thuật đáp ứng yêu cầu hoạt động; Có tối thiểu 01 cá nhân có chứng chỉ môi giới bất động sản và Phải gửi thông tin doanh nghiệp tới cơ quan quản lý nhà nước về kinh doanh bất động sản cấp tỉnh nơi thành lập doanh nghiệp để phục vụ việc quản lý trước khi được hoạt động.
Đôi với cá nhân hành nghề môi giới bất động sản, cần đáp ứng 02 tiêu chí sau, đó là có chứng chỉ hành nghề môi giới bất động sản và phải hành nghề trong một doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ sàn giao dịch bất động sản hoặc một doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ môi giới bất động sản.
So với các quy định tại Mục 2 Chương VII Luật Kinh doanh bất động sản 2014, Luật Kinh doanh bất động sản 2023 đã bổ sung thêm hàng loạt quy định liên quan tới điều kiện hoạt động của doanh nghiệp kinh doanh bất động sản cũng như bãi bỏ quy định cho phép cá nhân hành nghề môi giới bất động sản tự do.
Quy định này được kỳ vọng sẽ siết chặt việc quản lý đối với “cò đất”, đảm bảo trật tự tại các dự án cũng như đảm bảo tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của những người có nhu cầu mua, thuê mua bất động sản tại các dự án.
Không được nhận “hoa hồng” môi giới bằng tiền mặt:
Khoản 2, Điều 48 Luật Kinh doanh bất động sản 2023 quy định chủ đầu tư dự án, doanh nghiệp kinh doanh bất động sản, dịch vụ bất động sản nhận tiền thanh toán theo hợp đồng kinh doanh bất động sản, hợp đồng kinh doanh dịch vụ bất động sản từ khách hàng thông qua tài khoản mở tại ngân hàng hoạt động hợp pháp tại Việt Nam.
Khoản 1, Điều 63 Luật Kinh doanh bất động sản 2023 quy định cá nhân hành nghề môi giới bất động sản được hưởng thù lao, hoa hồng từ doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ sàn giao dịch bất động sản hoặc môi giới bất động sản.
Như vậy, có thể thấy mọi thù lao, hoa hồng môi giới bất động sản của người hành nghề môi giới theo Luật mới sẽ phải nhận qua doanh nghiệp và thông qua hình thức chuyển khoản, không được nhận bằng tiền mặt.
Luật Kinh doanh bất động sản 2023 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 8 năm 2024.
Bản tin này chỉ nhằm mục đích thông tin về những quy định pháp luật mới ban hành, không dùng để tư vấn hay áp dụng cho những trường hợp cụ thể.
Bizlawyer hân hạnh được đồng hành cùng Quý Bạn đọc!
Luật Kinh doanh bất động sản 2023 đặt ra những quy định siết chặt quản lý các giao dịch bất động sản, trong đó có thể kể tới quy định về việc các giao dịch này phải thanh toán thông qua tài khoản mở tại các tổ chức tín dụng.
Chấm dứt giao dịch bất động sản bằng tiền mặt
Theo Điều 48 Luật Kinh doanh bất động sản 2023, việc thanh toán trong giao dịch bất động sản, dự án bất động sản do các bên thỏa thuận trong hợp đồng và tuân thủ quy định của pháp luật. Chủ đầu tư, doanh nghiệp kinh doanh bất động sản, kinh doanh dịch vụ bất động sản nhận tiền thanh toán theo hợp đồng kinh doanh bất động sản, hợp đồng kinh doanh dịch vụ bất động sản từ khách hàng thông qua tài khoản mở tại tổ chức tín dụng trong nước hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài đang hoạt động hợp pháp tại Việt Nam.
Trước đó, Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 quy định việc thanh toán trong giao dịch bất động sản do các bên thỏa thuận trong hợp đồng và phải tuân thủ quy định của pháp luật về thanh toán.
Theo quy định mới, chủ đầu tư dự án, doanh nghiệp kinh doanh bất động sản, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ bất động sản phải nhận tiền thanh toán thông qua tài khoản ngân hàng. Đối với các trường hợp cá nhân kinh doanh bất động sản quy mô nhỏ thì không bắt buộc phải thành lập doanh nghiệp và không bắt buộc phải nhận thanh toán thông qua ngân hàng.
Luật Kinh doanh bất động sản 2023 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 8 năm 2024.
Bản tin này chỉ nhằm mục đích thông tin về những quy định pháp luật mới ban hành, không dùng để tư vấn hay áp dụng cho những trường hợp cụ thể.
Bizlawyer hân hạnh được đồng hành cùng Quý Bạn đọc!
Hạn mức đặt cọc nhà ở hình thành trong tương lai
Theo khoản 5 Điều 23 Luật Kinh doanh bất động sản 2023, chủ đầu tư dự án bất động sản chỉ được thu tiền đặt cọc không quá 5% giá bán, cho thuê mua đối với nhà ở, công trình xây dựng đã đủ điều kiện kinh doanh. Thỏa thuận đặt cọc phải ghi rõ giá bán, cho thuê mua nhà ở, công trình xây dựng và phần diện tích sàn xây dựng trong công trình xây dựng.
Hiện nay, Luật Kinh doanh Bất động sản 2014 không quy định cụ thể về hạn mức đặt cọc mà cho phép các bên tự quyết định dựa trên sự thỏa thuận. Do đó, việc Luật Kinh doanh bất động sản 2023 đưa ra hạn mức 5% là quy định mới được nhiều người kỳ vọng sẽ bảo vệ quyền lợi của người mua nhà, hạn chế những rủi ro pháp lý nhất định từ việc đặt cọc trước như trì hoãn thực hiện nghĩa vụ của chủ đầu tư.
Quy định mới về lộ trình thanh toán bất động sản hình thành trong tương lai
Một điểm mới được kỳ vọng sẽ bảo vệ quyền lợi của người mua nhà được quy định tại Luật Kinh doanh bất động sản 2023 là sự thay đổi về lộ trình thanh toán đối với việc thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai.
Cụ thể, theo Khoản 2 Điều 25 Luật Kinh doanh bất động sản 2023, hạn mức thanh toán lần đầu đối với việc thuê mua nhà ở, công trình xây dựng, phần diện tích sàn xây dựng trong công trình hình thành trong tương lai là 30%, bao gồm cả tiền đặt cọc.
Đối với những lần thanh toán tiếp theo, việc thanh toán phải phù hợp với tiến độ xây dựng tới khi bàn giao sản phẩm và phải đảm bảo tổng số tiền thanh toán trước cho bên cho thuê mua không quá 50% giá trị hợp đồng thuê mua nhà ở, công trình xây dựng, phần diện tích sàn xây dựng trong công trình xây dựng. Số tiền còn lại được tính thành tiền thuê để trả cho bên cho thuê mua trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận của hợp đồng.
So với Luật Kinh doanh bất động sản 2014, việc thanh toán trước khi mua bán, thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai đã được điều chỉnh, giảm từ mức 70% xuống còn 50% giá trị hợp đồng.
Quy định mới này được kỳ vọng tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người thuê mua, tránh những rủi ro về tài chính và pháp lý trong việc đặt cọc và mua bán nhà ở hình thành trong tương lai.
Luật Kinh doanh bất động sản 2023 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 8 năm 2024.
Bản tin này chỉ nhằm mục đích thông tin về những quy định pháp luật mới ban hành, không dùng để tư vấn hay áp dụng cho những trường hợp cụ thể.
Bizlawyer hân hạnh được đồng hành cùng Quý Bạn đọc!
Chế tài xử lý ra sao?
Theo dõi sự việc, luật sư Võ Nguyễn Bảo Trâm (Phó Giám đốc Công ty Luật Bizlawyer & Partners) cho biết theo quy định của pháp luật, mọi công dân có quyền bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự, nhân phẩm. Mọi hành vi xâm hại trái pháp luật, gây tổn hại nghiêm trọng tới danh dự, nhân phẩm của người khác sẽ bị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
Theo quy định tại Điều 8 Luật An ninh mạng 2018 và Nghị định số 72/2013/NĐ-CP của Chính phủ, người sử dụng mạng xã hội bị nghiêm cấm thực hiện hành vi thông tin sai sự thật, xâm phạm tới quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác và phải chịu trách nhiệm về nội dung thông tin do mình lưu trữ, cung cấp, truyền đưa trên mạng xã hội. Trong trường hợp vi phạm các nguyên tắc về sử dụng mạng xã hội, tùy thuộc mức độ và tính chất nghiêm trọng của hành vi, người vi phạm có thể bị áp dụng các chế tài khác nhau theo quy định của pháp luật.
Về chế tài hành chính, khoản 1 Điều 101 Nghị định số 15/2020/NĐ-CP của Chính phủ quy định mức phạt đối với tổ chức có hành vi cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, sai sự thật, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân trên mạng xã hội là phạt tiền 10-20 triệu đồng. Đối với cá nhân, mức phạt bằng 1/2 khung hình phạt trên, tức 5-10 triệu đồng.
“Đối với các tổ chức, cá nhân có danh dự, uy tín bị xâm phạm mà cụ thể có thể nhắc tới là chị D. và Công ty Samsung, nếu có đủ chứng cứ chứng minh hành vi lợi dụng mạng xã hội của người khác để lan truyền thông tin sai sự thật, tổ chức, cá nhân có quyền làm đơn trình báo, tường trình sự việc tới các cơ quan bảo vệ pháp luật nhằm yêu cầu xác minh, giải quyết, xử lý nghiêm các cá nhân vi phạm.
Dưới góc độ hình sự, nếu cơ quan công an xác định hành vi có dấu hiệu nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự người khác; đã gây thiệt hại từ 100 triệu đồng trở lên hoặc gây dư luận xấu, làm giảm uy tín của cơ quan, tổ chức, cá nhân, việc xử lý hình sự về tội Vu khống (Điều 156) hoặc tội Đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông (Điều 288) có thể được xem xét, đánh giá”, luật sư Trâm bình luận.
Đối với hành vi truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy, trách nhiệm hình sự sẽ được đề cập nếu thuộc các trường hợp như văn hóa phẩm là dữ liệu được số hóa có dung lượng 1GB trở lên; là ảnh có số lượng từ 100 ảnh trở lên; Sách in, báo in hoặc vật phẩm khác có số lượng từ 50 đơn vị trở lên hay phổ biến cho từ 10 người trở lên. Theo Điều 326 Bộ luật Hình sự 2015, mức phạt cơ bản của hành vi này là phạt tiền 10-100 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.

Bồi thường dân sự như thế nào?
Về trách nhiệm dân sự, các cá nhân đăng tải thông tin sai sự thật còn có trách nhiệm bồi thường cho chị D. và Samsung thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm. Căn cứ Điều 592 Bộ luật Dân sự 2015, thiệt hại do danh dự, nhân phẩm bị xâm phạm bao gồm Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại; Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút và Thiệt hại khác do luật quy định.
Tuy nhiên, để yêu cầu các cá nhân bồi thường, cá nhân, tổ chức có quyền lợi bị xâm phạm cần cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh cho những thiệt hại đã xảy ra bởi hành vi vi phạm pháp luật nêu trên.
Đồng thời, họ có thể yêu cầu các cá nhân, các trang tin, hội nhóm đăng sai sự thật xóa, gỡ bỏ các thông tin sai sự thật trên không gian mạng và đăng báo xin lỗi, cải chính công khai những nội dung này nhằm khôi phục danh dự, nhân phẩm, uy tín của người bị thiệt hại.
Về trách nhiệm pháp lý, ngoài cá nhân đăng bài, cơ quan chức năng cũng sẽ xem xét trách nhiệm của quản trị viên các hội nhóm trong việc quản lý, kiểm duyệt nội dung thông tin. Trên thực tế, đã xảy ra trường hợp quản trị viên của diễn đàn bị khởi tố vì phê duyệt đăng tải nội dung sai sự thật. Do đó, quản trị viên của các hội nhóm có thông tin sai sự thật hoàn toàn có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý trong trường hợp này.
Nhằm đáp ứng xu thế chuyển đổi hạ tầng viễn thông thành hạ tầng số và tạo ra môi trường pháp lý rõ ràng, bình đẳng cho doanh nghiệp, Luật Viễn thông 2023 đã điều chỉnh điều kiện cấp giấy phép đối với nghiệp vụ viễn thông.
Cụ thể, theo Điều 38 Luật này, giấy phép lắp đặt cáp viễn thông trên biển chỉ được cấp cho tổ chức Việt Nam hoặc nước ngoài khi đáp ứng đủ 5 điều kiện, cam kết sau: Tuân thủ pháp luật Việt Nam; Không gây ô nhiễm môi trường biển; Chỉ thực hiện khảo sát, lắp đặt, bảo dưỡng, sửa chữa, thu hồi tuyến cáp viễn thông; Có đề án lắp đặt cáp phù hợp với quy hoạch hạ tầng thông tin và truyền thông, quy định pháp luật về quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và các quy định pháp luật khác liên quan; Chịu sự kiểm tra, kiểm soát, hướng dẫn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi khảo sát, lắp đặt, bảo dưỡng, sửa chữa, thu hồi tuyến cáp trong vùng biển Việt Nam và chịu mọi chi phí cho các hoạt động này.
Giấy phép thiết lập mạng viễn thông dùng riêng được cấp cho tổ chức khi đáp ứng đủ các điều kiện: Cam kết thiết lập mạng viễn thông dùng riêng chỉ để cung cấp dịch vụ cho các thành viên của mạng, không vì mục đích sinh lợi; Có phương án kỹ thuật, nghiệp vụ phù hợp với quy hoạch hạ tầng thông tin và truyền thông, các quy định của Luật Viễn thông 2023 về tài nguyên viễn thông, kết nối, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật viễn thông; Có biện pháp bảo đảm an toàn cơ sở hạ tầng viễn thông, an toàn thông tin mạng và an ninh mạng.
Giấy phép thử nghiệm mạng và dịch vụ viễn thông được cấp cho doanh nghiệp viễn thông khi đáp ứng đủ các điều kiện: Dịch vụ được đề nghị thử nghiệm là dịch vụ viễn thông chưa được quy định trong giấy phép viễn thông đã được cấp hoặc dịch vụ viễn thông có sử dụng tài nguyên viễn thông ngoài phạm vi tài nguyên đã được phân bổ; Phạm vi và quy mô thử nghiệm được giới hạn để đánh giá công nghệ, thị trường trước khi kinh doanh chính thức; Phương án thử nghiệm phù hợp với quy định của pháp luật về kết nối, giá dịch vụ, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật viễn thông.
Giấy phép thiết lập mạng viễn thông theo điểm d khoản 3 Điều 33 của Luật Viễn thông 2023 được cấp cho tổ chức khi đáp ứng đủ các điều kiện: Cam kết thiết lập mạng viễn thông chỉ để cung cấp dịch vụ không vì mục đích sinh lợi; Có phương án kỹ thuật phù hợp với quy hoạch hạ tầng thông tin và truyền thông, các quy định của Luật Viễn thông 2023 về tài nguyên viễn thông, kết nối, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, chất lượng dịch vụ viễn thông, bảo đảm an toàn cơ sở hạ tầng viễn thông, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng dịch vụ viễn thông và các quy định pháp luật khác liên quan.
Luật này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 07 năm 2024.
Bản tin này chỉ nhằm mục đích thông tin về những quy định pháp luật mới ban hành, không dùng để tư vấn hay áp dụng cho những trường hợp cụ thể.
Bizlawyer hân hạnh được đồng hành cùng Quý Bạn đọc!
Nghị định 52/2024/NĐ-CP đã thay đổi khái niệm trong quy định liên quan đến ví điện tử và thẻ trả trước để đáp ứng nhu cầu thực tiễn và tạo điều kiện thuận lợi cho các giao dịch điện tử, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
Theo Điều 6 Nghị định 52/2024/NĐ-CP, khái niệm về ví điện tử, thẻ trả trước và điều kiện để cung ứng, phát hành ví điện tử, thẻ trả trước được quy định như sau:
Ví điện tử và thẻ trả trước nói chung là các phương tiện lưu trữ tiền điện tử, được phát hành và cung ứng bởi ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Việc cung ứng, phát hành và sử dụng ví điện tử, thẻ trả trước phải tuân thủ theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
Đối với các tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán cung cấp dịch vụ ví điện tử mà không phải là ngân hàng, cần đảm bảo rằng tổng số dư trên tất cả các tài khoản đảm bảo thanh toán cho dịch vụ ví điện tử tại ngân hàng hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được thấp hơn tổng số dư của tất cả các ví điện tử đã phát hành cho khách hàng. Ngoài ra, các tổ chức này chỉ cho phép sử dụng dịch vụ đối với các ví điện tử có liên kết với tài khoản thanh toán hoặc thẻ ghi nợ của chính khách hàng.
Về dịch vụ ví điện tử, khoản 16 Điều 3 Nghị định này có quy định cụ thể như sau: “Dịch vụ ví điện tử là dịch vụ do ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, và các tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán cung cấp cho khách hàng để nạp tiền vào ví điện tử, rút tiền ra khỏi ví điện tử và thực hiện các giao dịch thanh toán”.
So với quy định tại Nghị định số 101/2012/NĐ-CP về dịch vụ ví điện tử, Nghị định số 52/2024/NĐ-CP đã đưa ra những khái niệm và quy định rõ ràng hơn về khái niệm ví điện tử và dịch vụ ví điện tử, từ đó giúp cho việc quản lý thực hiện đối với các loại hình này được dễ dàng, thuận lợi hơn.
Nghị định có hiệu lực từ ngày 01 tháng 07 năm 2024.
Bản tin này chỉ nhằm mục đích thông tin về những quy định pháp luật mới ban hành, không dùng để tư vấn hay áp dụng cho những trường hợp cụ thể.
Bizlawyer hân hạnh được đồng hành cùng Quý Bạn đọc!
Luật Giao dịch điện tử 2005 quy định các hành vi bị nghiêm cấm trong giao dịch điện tử. Tuy nhiên, để bắt kịp xu hướng phát triển thanh toán không dùng tiền mặt hiện nay, ngày 22/06/2023, Quốc hội ban hành Luật Giao dịch điện tử số 20/2023/QH15 với sự điều chỉnh chi tiết các hành vi bị nghiêm cấm như sau:
Theo Điều 6 Luật Giao dịch điện tử 2023, 08 hành vi bị nghiêm cấm trong giao dịch điện tử được quy định bao gồm:
Lợi dụng giao dịch điện tử xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Cản trở hoặc ngăn chặn trái pháp luật quá trình tạo ra, gửi, nhận, lưu trữ thông điệp dữ liệu hoặc có hành vi khác nhằm phá hoại hệ thống thông tin phục vụ giao dịch điện tử.
Thu thập, cung cấp, sử dụng, tiết lộ, hiển thị, phát tán, kinh doanh trái pháp luật thông điệp dữ liệu.
Giả mạo, làm sai lệch hoặc xóa, hủy, sao chép, di chuyển trái pháp luật một phần hoặc toàn bộ thông điệp dữ liệu.
Tạo ra thông điệp dữ liệu nhằm thực hiện hành vi trái pháp luật.
Gian lận, giả mạo, chiếm đoạt hoặc sử dụng trái pháp luật tài khoản giao dịch điện tử, chứng thư điện tử, chứng thư chữ ký điện tử, chữ ký điện tử.
Cản trở việc lựa chọn thực hiện giao dịch điện tử.
Hành vi khác bị nghiêm cấm theo quy định của luật.
Luật này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 07 năm 2024.
Bản tin này chỉ nhằm mục đích thông tin về những quy định pháp luật mới ban hành, không dùng để tư vấn hay áp dụng cho những trường hợp cụ thể.
Bizlawyer hân hạnh được đồng hành cùng Quý Bạn đọc!
Thông tư số 23/2024/TT-BTC quy định sửa đổi, bổ sung một số điều của các Thông tư hướng dẫn về quản lý và kiểm tra hoạt động dịch vụ kế toán quy định các trường hợp bị đình chỉ hành nghề dịch vụ kế toán
Đến nay, sau hơn 3 thập kỷ phát triển, thị trường dịch vụ kế toán – kiểm toán tại Việt Nam đã có những bước phát triển tích cực. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại trường hợp doanh nghiệp và kế toán viên chưa tuân thủ đầy đủ các chuẩn mực kế toán và các quy định pháp luật có liên quan. Do đó, cần phải có cơ chế điều chỉnh, chấn chỉnh kịp thời.
Ngày 12/4/2024, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 23/2024/TT-BTC (“Thông tư số 23”) sửa đổi, bổ sung một số điều của các Thông tư hướng dẫn về quản lý và kiểm tra hoạt động dịch vụ kế toán bao gồm các thay đổi nổi bật dưới đây:
Theo đó, kế toán viên hành nghề bị đình chỉ hành nghề dịch vụ kế toán theo quy định của pháp luật trong các trường hợp sau:
Thứ nhất, thực hiện các hoạt động thuộc các trường hợp: Có sai phạm về chuyên môn hoặc vi phạm chuẩn mực kế toán, chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán gây hậu quả nghiêm trọng hoặc có khả năng thực tế gây hậu quả nghiêm trọng; Không chấp hành quy định của cơ quan có thẩm quyền về việc kiểm tra, thanh tra liên quan đến hoạt động hành nghề kế toán; Không thực hiện trách nhiệm quy định tại Điều 67 Luật Kế toán 2015.
Thứ hai, kế toán viên hành nghề không có đủ số giờ cập nhật kiến thức hàng năm theo quy định của Bộ Tài chính;
Thứ ba, kế toán viên hành nghề vi phạm các trách nhiệm sau: Sử dụng Giấy chứng nhận đăng ký hành nghề dịch vụ kế toán đã bị hết hiệu lực hoặc không còn giá trị trong các hoạt động nghề nghiệp kế toán; Không cung cấp thông tin định kỳ hoặc đột xuất liên quan đến hoạt động hành nghề dịch vụ kế toán của mình theo yêu cầu của Bộ Tài chính; Không chấp hành các quy định về thanh tra, kiểm tra việc đăng ký hành nghề dịch vụ kế toán của Bộ Tài chính.
Và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
Quy định về kiểm tra các đơn vị kinh doanh dịch vụ kế toán
Theo Thông tư này, Doanh thu dịch vụ kế toán bao gồm doanh thu từ các dịch vụ sau: dịch vụ làm kế toán; dịch vụ làm kế toán trưởng; dịch vụ lập, trình bày báo cáo tài chính và dịch vụ tư vấn kế toán theo báo cáo tình hình hoạt động hàng năm.
Về hoạt động kiểm tra, đối với doanh nghiệp kế toán có doanh thu từ dịch vụ kế toán trung bình trong 3 năm liền kề từ 20 tỷ đồng/năm trở lên, hoạt động kiểm tra trực tiếp sẽ thực hiện 3 năm/lần. Đối với các đơn vị không thuộc đối tượng trên, hoạt động kiểm tra trực tiếp sẽ được thực hiện ít nhất 5 năm/lần. Việc xác định đối tượng kiểm tra căn cứ vào doanh thu dịch vụ kế toán trung bình/năm trong 3 năm trước liền kề tính đến thời điểm kiểm tra.
Hàng năm, căn cứ vào thời hạn kiểm tra trực tiếp định kỳ hoạt động kinh doanh dịch vụ kế toán, Bộ Tài chính rà soát, lập kế hoạch kiểm tra, tổng hợp danh sách đơn vị kinh doanh dịch vụ kế toán thuộc đối tượng kiểm tra trực tiếp hoạt động kinh doanh dịch vụ kế toán trong năm và thông báo cho từng đối tượng được kiểm tra chậm nhất là 10 ngày trước ngày bắt đầu cuộc kiểm tra.
Thông tư số 23/2024/TT-BTC sửa đổi, bổ sung một số điều của các thông tư hướng dẫn về quản lý và kiểm tra hoạt động dịch vụ kế toán có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2024.
Bản tin này chỉ nhằm mục đích thông tin về những quy định pháp luật mới ban hành, không dùng để tư vấn hay áp dụng cho những trường hợp cụ thể.
Bizlawyer hân hạnh được đồng hành cùng Quý Bạn đọc!
Đối với 7 đối tượng thuộc nhóm người tiêu dùng dễ bị tổn thương, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2023 đã có quy định về trách nhiệm cụ thể của tổ chức, cá nhân kinh doanh trong mối quan hệ với nhóm người tiêu dùng này.
Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 nói riêng và quy định bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng dễ bị tổn thương xây dựng trên nguyên tắc kế thừa, phát huy và hoàn thiện những quy định còn phù hợp với thực tiễn tại Luật năm 2010. Trong đó, những quy định về nhóm người tiêu dùng dễ bị tổn thương cũng như trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh đối với nhóm đối tượng này nói riêng và với người tiêu dùng nói chung là những quy định được chú trọng trong Luật này.
Những nhóm người tiêu dùng dễ bị tổn thương
Theo đó, 7 nhóm người tiêu dùng thuộc nhóm dễ bị tổn thương bao gồm: Người cao tuổi; Người khuyết tật; Trẻ em; Người dân tộc thiểu số; Người sống ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật; Phụ nữ đang mang thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi; Người bị bệnh hiểm nghèo và Thành viên hộ nghèo theo quy định của pháp luật.
Để bảo vệ quyền lợi nhóm người tiêu dùng trên, Luật này đã quy định một số trách nhiệm cụ thể của tổ chức, cá nhân kinh doanh, trong đó đáng chú ý là trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tranh chấp theo quy định phù hợp với từng đối tượng dễ bị tổn thương, đơn cử như phải bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng dễ bị tổn thương trong trường hợp chậm, từ chối ưu tiên hoặc từ chối tiếp nhận, xử lý yêu cầu của người tiêu dùng; không được từ chối giải quyết yêu cầu được bảo vệ của người tiêu dùng dễ bị tổn thương hay không được kỳ thị, phân biệt đối xử, lợi dụng yếu tố dễ bị tổn thương để xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng…
Những hành vi bị nghiêm cấm của tổ chức, cá nhân kinh doanh
Khoản 1, Điều 10 Luật này cũng quy định những hành vi bị nghiêm cấm trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của tổ chức, cá nhân kinh doanh như sau:
Lừa dối hoặc gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng thông qua việc cung cấp thông tin sai lệch, không đầy đủ, không chính xác về sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ; về uy tín, khả năng kinh doanh, khả năng cung cấp sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ; về nội dung, đặc điểm giao dịch giữa người tiêu dùng với tổ chức, cá nhân kinh doanh; về hình ảnh, giấy tờ, tài liệu chứng nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ hoặc tổ chức, cá nhân kinh doanh;
Quấy rối người tiêu dùng thông qua tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp trái với ý muốn của người tiêu dùng để giới thiệu về sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, đề nghị giao kết hợp đồng hoặc có hành vi khác gây cản trở công việc, sinh hoạt bình thường của người tiêu dùng;
Ép buộc người tiêu dùng mua sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ trái với ý muốn thông qua hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc hành vi khác có tính chất tương tự;
Ép buộc người tiêu dùng thanh toán cho sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đã cung cấp mà không có thỏa thuận trước với người tiêu dùng;
Không đền bù, trả lại tiền hoặc đổi lại sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng do nhầm lẫn của tổ chức, cá nhân kinh doanh;
Không đền bù, trả lại tiền hoặc đổi lại sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng do sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ không đúng với đăng ký, thông báo, công bố, niêm yết, quảng cáo, giới thiệu, giao kết, cam kết của tổ chức, cá nhân kinh doanh;
Đánh tráo, gian lận sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ khi giao hàng, cung cấp dịch vụ cho người tiêu dùng;
Không thông báo trước, không công khai cho người tiêu dùng việc tài trợ cho người có ảnh hưởng dưới mọi hình thức để sử dụng hình ảnh, lời khuyên, khuyến nghị của người này nhằm xúc tiến thương mại hoặc khuyến khích người tiêu dùng mua, sử dụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ;
Ngăn cản người tiêu dùng kiểm tra về sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;
Yêu cầu người tiêu dùng phải mua thêm sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ như là điều kiện bắt buộc để giao kết hợp đồng trái với ý muốn của người tiêu dùng;
Quy định điều khoản không được phép tại Điều 25 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2023 trong hợp đồng giao kết với người tiêu dùng, hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung;
Thu thập, lưu trữ, sử dụng, chỉnh sửa, cập nhật, hủy bỏ thông tin của người tiêu dùng trái quy định của pháp luật.
Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2024.
Bản tin này chỉ nhằm mục đích thông tin về những quy định pháp luật mới ban hành, không dùng để tư vấn hay áp dụng cho những trường hợp cụ thể.
Bizlawyer hân hạnh được đồng hành cùng Quý Bạn đọc!