Nhiều ngân hàng tăng mạnh lãi suất huy động
Với mong muốn bổ sung thêm nguồn vốn trung, dài hạn để phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh cuối năm, đồng thời giảm...
Bùng nổ nhượng quyền thương hiệu vào Việt Nam
Hoạt động nhượng quyền đang được giới kinh doanh vận dụng để đưa các thương hiệu nước ngoài vào thị trường Việt Nam. Ngoài lĩnh...
6 ngành kinh tế phát triển mũi nhọn khu vực miền Trung
Có 6 lĩnh vực kinh tế biển, ven biển đang được các tỉnh miền Trung tập trung phát triển và đã đạt được những kết...
91.9% doanh nghiệp lạc quan về hoạt động sản xuất 6 tháng cuối năm
Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có tỷ lệ doanh nghiệp dự báo về khối lượng sản xuất khả...
Việt Nam chuyển dần từ nhập siêu sang xuất siêu với CPTPP
Với hầu hết các hiệp định thương mại (FTA) đã ký, Việt Nam thường nhập siêu, thì nay, khi thực hiện CPTTP, trong 7 tháng...
Giải đáp pháp luật
LOẠI BỎ ĐIỆN BÁN LẺ KHỎI DANH MỤC HÀNG HÓA, DỊCH VỤ BÌNH ỔN GIÁ
Trả lời

Theo Luật Giá 2023, Điện bán lẻ không còn nằm trong danh mục hàng hóa, dịch vụ bình ổn giá nhưng được đưa vào danh mục hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá.

Luật Giá năm 2023 được ban hành với nhiều thay đổi căn bản, kỳ vọng sẽ khuyến khích cạnh tranh về giá; đẩy mạnh phân cấp trong quản lý giá theo nguyên tắc quản lý giá theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước, trong đó bao gồm việc ban hành 02 danh mục hàng hóa, dịch vụ đó là Danh mục hàng hóa, dịch vụ bình ổn giá và Danh mục hàng hóa, dịch vụ do nhà nước định giá

Sửa đổi, bổ sung danh mục hàng hóa, dịch vụ bình ổn giá

Danh mục hàng hóa, dịch vụ bình ổn giá theo Luật Giá 2023, so với Luật Giá 2012, đã bổ sung thêm 2 mặt hàng là Phân DAP và Thức ăn chăn nuôi, thức ăn thủy sản. Ở chiều ngược lại, Muối ăn và Điện bán lẻ không còn nằm trong danh mục hàng hóa, dịch vụ bình ổn giá.

Như vậy, danh mục này theo Luật Giá 2023 sẽ bao gồm 9 hàng hóa, dịch vụ sau: Xăng, dầu thành phẩm; Khí dầu mỏ hóa lỏng (LPG); Sữa dành cho trẻ em dưới 6 tuổi; Thóc tẻ, gạo tẻ; Phân đạm, phân DAP, phân NPK; Thức ăn chăn nuôi; thức ăn thủy sản; Vắc – xin phòng bệnh cho gia súc, gia cầm; Thuốc bảo vệ thực vật; Thuốc thuộc danh mục thuốc thiết yếu sử dụng tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

Phân cấp định giá đối với danh mục hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá

So với Luật Giá 2012, Phụ lục số 02 ban hành kèm theo Luật Giá 2023 đã phân tách cụ thể trách nhiệm của các cơ quan chuyên môn cấp trung ương và địa phương trong định giá hàng hóa. Theo đó, đối với hàng hóa, dịch vụ sử dụng nguồn vốn trung ương hoặc do trung ương quản lý, cơ quan chuyên môn cấp Bộ là đơn vị định giá còn đối với các hàng hóa, dịch vụ sử dụng nguồn vốn địa phương hoặc do địa phương quản lý, trách nhiệm định giá thuộc về Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Ngoài ra, đối với một số dịch vụ cá biệt như dịch vụ kiểm dịch y tế, y tế dự phòng tại cơ sở y tế công lập; nước sạch hay sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi đối với công trình thủy lợi sử dụng vốn nhà nước, việc định giá cần có sự kết hợp của cơ quan chuyên môn cấp Bộ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Về danh mục hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá, Luật Giá 2023 đã bổ sung một số hàng hóa, dịch vụ như Vận chuyển khí thiên nhiên bằng đường ống cho sản xuất điện, Kiểm định kỹ thuật máy móc, thiết bị, vật tư và các chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động… Đồng thời, Luật này cũng loại bỏ Thuốc lá điếu sản xuất trong nước, Dịch vụ quy hoạch ra khỏi danh mục do Nhà nước định giá.

Điều chỉnh các biện pháp bình ổn giá

Theo Luật Giá 2023, các biện pháp bình ổn giá bao gồm: Điều hòa cung cầu bao gồm: điều hòa sản xuất hàng hóa trong nước, hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; Điều hòa hàng hóa giữa các vùng, các địa phương trong nước thông qua việc tổ chức lưu thông hàng hóa; mua vào hoặc bán ra hàng dự trữ quốc gia, hàng dự trữ lưu thông; Các biện pháp về tài chính, tiền tệ phù hợp với quy định của pháp luật và Định giá cụ thể, giá tối đa, giá tối thiểu hoặc khung giá phù hợp với tính chất của từng loại hàng hóa, dịch vụ.

Đối với Danh mục hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá, Luật Giá 2023 đã quy định cụ thể các hàng hóa, dịch vụ, bổ sung một số hàng hóa, dịch vụ như dịch vụ vận chuyển khí thiên nhiên bằng đường ống cho sản xuất điện, dịch vụ kiểm định kỹ thuật máy móc, thiết bị, vật tư và các chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động…, đồng thời đưa ra khỏi danh mục sản phẩm thuốc lá điếu sản xuất trong nước, dịch vụ quy hoạch.

Để đảm bảo tính linh hoạt, kịp thời, phù hợp với tình hình thực tiễn, Luật Giá 2023 cũng đã quy định trường hợp cần thiết phải điều chỉnh Danh mục hàng hóa, dịch vụ bình ổn giá và Danh mục hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá, trên cơ sở đề nghị của các Bộ, cơ quan ngang Bộ quản lý ngành, lĩnh vực, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Bộ Tài chính trình Chính phủ để trình Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định. Quy định này đã thực sự nâng cao hiệu lực hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực giá, từ đó, góp phần thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh của các tổ chức, cá nhân.

Luật Giá năm 2023 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2024.

Bản tin này chỉ nhằm mục đích thông tin về những quy định pháp luật mới ban hành, không dùng để tư vấn hay áp dụng cho những trường hợp cụ thể.

Bizlawyer hân hạnh được đồng hành cùng Quý Bạn đọc!

MỘT SỐ THAY ĐỔI VỀ QUY ĐỊNH MUA, BÁN VÀ XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA CÔNG TY QUẢN LÝ TÀI SẢN CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG
Trả lời

Kể từ ngày 01/07/2024, các khoản nợ xấu được phép giao dịch và phương án thực hiện mua bán nợ xấu theo giá thị trường sẽ có sự thay đổi theo Thông tư 03/2024/TT-NHNN

 

Ngày 16/5/2024, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành Thông tư 03/2024/TT-NHNN sửa đổi Thông tư 19/2013/TT-NHNN quy định về mua, bán và xử lý nợ xấu của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (“VAMC”). Theo đó, một số thay đổi cần chú ý như sau:

 

Thứ nhất, thay đổi định nghĩa về “khoản nợ xấu”. Theo đó, khoản nợ xấu kể từ ngày 01/7/2024 là 1) Nợ xấu của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài bao gồm khoản nợ xấu đang hạch toán trong bảng cân đối kế toán theo quy định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về phân loại tài sản có, khoản nợ xấu đã sử dụng dự phòng rủi ro để xử lý nhưng chưa thu hồi được nợ và đang theo dõi ngoài bảng cân đối kế toán và 2) Nợ xấu mà Công ty Quản lý tài sản đã mua của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài nhưng chưa thu hồi được nợ.”

 

Thứ hai, việc Công ty Quản lý tài sản mua nợ xấu của tổ chức tín dụng liên doanh, tổ chức tín dụng 100% vốn nước ngoài, chi nhánh ngân hàng nước ngoài chỉ được thực hiện theo giá trị thị trường.

 

Thứ ba, mở rộng khả năng tiếp tục cấp tín dụng cho các khách hàng vay có khoản nợ xấu. Theo đó, Khách hàng vay có khoản nợ xấu bán cho Công ty Quản lý tài sản và có phương án sản xuất, kinh doanh, dự án đầu tư có hiệu quả được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tiếp tục xem xét, cấp tín dụng theo thỏa thuận và quy định của pháp luật.

 

Thứ tư, VAMC sẽ công khai niêm yết thông tin các khoản nợ xấu lên website để thuận tiện giao dịch. Theo đó, VAMC sẽ có nghĩa vụ đăng và niêm yết thông tin khoản nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu đã mua trên Sàn giao dịch nợ và website của Công ty Quản lý tài sản. Việc đăng và niêm yết thông tin phải phù hợp với quy định của pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân.

 

Thứ năm, bổ sung về điều kiện của các khoản nợ xấu mà VAMC được mua với giá thị trường. Theo đó, ngoài các điều kiện trước đây, VAMC còn phải: 1) Xác định giá trị thị trường của khoản nợ xấu, kể cả tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu đó; 2) Đánh giá hiệu quả kinh tế, rủi ro và khả năng thu hồi vốn mua khoản nợ xấu; 3) Phân tích, đánh giá thực trạng và triển vọng khoản nợ xấu, khách hàng vay, bên bảo đảm, bên có nghĩa vụ trả nợ và các điều kiện thỏa thuận mua nợ với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài bán nợ và 4) Dự kiến các biện pháp khả thi xử lý nợ, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu.

 

Thứ sáu, đối với tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu, công ty quản lý tài sản bán tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu với giá bán có thể cao hơn hoặc thấp hơn dư nợ gốc của khoản nợ xấu.

 

Bản tin này chỉ nhằm mục đích thông tin về những quy định pháp luật mới ban hành, không dùng để tư vấn hay áp dụng cho những trường hợp cụ thể.

Bizlawyer hân hạnh được đồng hành cùng Quý Bạn đọc!

Quy định mới về thực hiện dự án đầu tư có sử dụng đất và lựa chọn Nhà đầu tư qua mạng theo phương thức đấu thầu kể từ ngày 26/07/2024
Trả lời

Ngày 12/6/2024, Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành Thông tư 10/2024/TT-BKHĐT. Theo đó, Thông tư đã sửa đổi, bãi bỏ một số quy định tại các Thông tư 09/2021/TT-BKHĐT về thực hiện Dự án đầu tư có sử dụng đất và Thông tư số 10/2022/TT-BKHĐT lựa chọn nhà đầu tư trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia

Đối với quy định về việc thực hiện Dự án đầu tư có sử dụng đất:

Đối với dự án thuộc thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư của Thủ tướng Chính phủ thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là cơ quan tổ chức đấu thầu; Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với cơ quan có liên quan xác định yêu cầu sơ bộ về năng lực, kinh nghiệm của nhà đầu tư; Đối với dự án thực hiện tại khu kinh tế thì Ban quản lý khu kinh tế tổ chức xác định, phê duyệt yêu cầu sơ bộ về năng lực, kinh nghiệm của nhà đầu tư.

Đối với dự án thuộc thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thì Sở Kế hoạch và Đầu tư hoặc Ban Quản lý khu kinh tế (đối với dự án thực hiện tại khu kinh tế) là cơ quan tổ chức đấu thầu. Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với cơ quan có liên quan xác định yêu cầu sơ bộ về năng lực, kinh nghiệm của nhà đầu tư. Đối với dự án thực hiện tại khu kinh tế thì Ban quản lý khu kinh tế tổ chức xác định, phê duyệt yêu cầu sơ bộ về năng lực, kinh nghiệm của nhà đầu tư.

 

Trường hợp chỉ có một nhà đầu tư đáp ứng yêu cầu sơ bộ về năng lực, kinh nghiệm thì nhà đầu tư đó nộp hồ sơ đề nghị chấp thuận nhà đầu tư theo quy định tại khoản 3 Điều 29 Luật Đầu tư và điểm a khoản 2 Điều 30 Nghị định số 31/2021/NĐ-CP mà không phải xác định giá sàn nộp ngân sách nhà nước theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Thông tư này. Như vậy, nếu trường hợp chỉ có môt nhà đầu tư đủ điều kiện thì sẽ thực hiện thủ tục theo Luật Đầu tư (không phải Luật Đấu thầu).

Đối với việc nộp hồ sơ dự thầu qua mạng:

Từ ngày 26/7/2024, các quy trình nộp hồ sơ dự thầu online sẽ quy định như sau:

  1. Nhà đầu tư nhập thông tin theo yêu cầu của E-KSQT, E-HSMST, E-YCSBNLKN trên Hệ thống theo định dạng webform, đính kèm file để tạo thành bộ E-HSQT, E-HSDST, E-HSĐKTHDA và nộp trên Hệ thống;
  2. Trường hợp liên danh, thành viên đứng đầu liên danh hoặc thành viên được phân công trong thỏa thuận liên danh nộp E-HSQT, E-HSDST, E-HSĐKTHDA và đồng thời đính kèm thỏa thuận liên danh lên Hệ thống;
  3. Hệ thống thông báo cho nhà đầu tư tình trạng nộp E-HSQT, E-HSDST, E-HSĐKTHDA (thành công hoặc không thành công) qua địa chỉ email mà nhà đầu tư đã đăng ký. Các thông tin được ghi nhận trên Hệ thống để làm căn cứ giải quyết kiến nghị, tranh chấp (nếu có) gồm: thông tin về bên gửi, bên nhận, thời điểm gửi, trạng thái gửi, số file đính kèm lên Hệ thống khi nhà đầu tư nộp E-HSQT, E-HSDST, E-HSĐKTHDA của nhà đầu tư;
  4. Hết thời hạn nộp E-HSQT, E-HSDST, E-HSĐKTHDA, bên mời thầu, Đơn vị chuẩn bị dự án hoặc Cơ quan, Đơn vị chủ trì tiếp nhận hồ sơ đề xuất dự án PPP, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Ban Quản lý khu kinh tế đối với dự án đầu tư có sử dụng đất truy cập vào Hệ thống và tiến hành đánh giá E-HSQT (trường hợp E-KSQT được lập theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 4 Thông tư 10/2022/TT-BKHĐT), E-HSĐKTHDA của các nhà đầu tư đã nộp.
CẤM BÁN SẢN PHẨM BẢO HIỂM KHÔNG BẮT BUỘC VỚI VIỆC CUNG ỨNG SẢN PHẨM, DỊCH VỤ NGÂN HÀNG
Trả lời

Luật Các tổ chức tín dụng (TCTD) năm 2024 được Quốc hội thông qua ngày 18/01/2024 và chính thức có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2024. Nội dung Luật có nhiều điểm mới tích cực, được đánh giá sẽ góp phần đảm bảo hoạt động tài chính của các TCTD phát triển lành mạnh, ổn định.

 

TCTD đóng vai trò quan trọng trong việc khơi thông, vận hành nền kinh tế. Do đó, các quy định liên quan đến các TCTD luôn được chú trọng, quan tâm và hoàn thiện. Luật các TCTD 2024, kể từ ngày 01/7/2024, sẽ thay thế hiệu lực của Luật các TCTD 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017. Một số quy định mới đáng chú ý như sau:

 

Thứ nhất, Luật Các TCTD năm 2024 cấm bán bảo hiểm không bắt buộc với cung ứng dịch vụ ngân hàng dưới mọi hình thức.  

 

Thứ hai, Luật Các TCTD năm 2024 mở rộng chủ thể phải cung cấp, công bố và công khai thông tin nhằm kiểm soát và tránh tình trạng thao túng, sở hữu chéo. Tại khoản 2 Điều 49 của Luật quy định: Cổ đông sở hữu từ 01% vốn điều lệ trở lên của TCTD phải cung cấp cho TCTD các thông tin: a) Họ và tên; số định danh cá nhân; quốc tịch, số hộ chiếu, ngày và nơi cấp của cổ đông là người nước ngoài; số Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp/giấy tờ pháp lý tương đương của cổ đông là tổ chức; ngày cấp, nơi cấp của giấy tờ này; b) Thông tin về người có liên quan theo quy định pháp luật; c) Số lượng, tỉ lệ sở hữu cổ phần của mình tại TCTD đó; d) Số lượng, tỉ lệ sở hữu cổ phần của người có liên quan tại TCTD đó.

 

Thứ ba, Luật Các TCTD năm 2024 giảm tỉ lệ sở hữu cổ phần tối đa của cổ đông trong các TCTD. Cụ thể, một cổ đông là tổ chức không được sở hữu cổ phần vượt quá 10% vốn điều lệ của một TCTD; Cổ đông và người có liên quan của cổ đông đó không được sở hữu cổ phần vượt quá 15% vốn điều lệ của một TCTD. Cổ đông lớn của một TCTD và người có liên quan của cổ đông đó không được sở hữu cổ phần từ 05% vốn điều lệ trở lên của một TCTD khác. 

 

Đối với các cổ đông đang sở hữu cổ phần vượt tỉ lệ so với quy định mới, kể từ ngày Luật Các TCTD năm 2024 có hiệu lực thi hành, cổ đông và người có liên quan sở hữu cổ phần vượt tỉ lệ sở hữu cổ phần quy định mới được tiếp tục duy trì cổ phần nhưng không được tăng thêm cổ phần cho đến khi tuân thủ quy định về tỉ lệ sở hữu cổ phần theo quy định của Luật Các TCTD năm 2024, trừ trường hợp nhận cổ tức bằng cổ phiếu.

 

Thứ tư, Luật Các TCTD năm 2024 bổ sung quy định về xét duyệt cấp tín dụng. Theo đó, TCTD phải có tối thiểu thông tin về mục đích sử dụng vốn hợp pháp, khả năng tài chính của khách hàng trước khi quyết định cấp tín dụng đối với các khoản cấp tín dụng có mức giá trị nhỏ gồm :a) Khoản cho vay phục vụ nhu cầu đời sống, khoản cấp tín dụng qua thẻ của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; b) Khoản cho thuê tài chính, khoản cho vay tiêu dùng, khoản cấp tín dụng qua thẻ của TCTD phi ngân hàng; c) Khoản cho vay phục vụ nhu cầu đời sống của quỹ tín dụng nhân dân; d) Khoản cho vay của tổ chức tài chính vi mô.

Thứ năm, Luật Các TCTD năm 2024 quy định về can thiệp sớm các TCTD yếu kém. Theo đó, Luật đã bổ sung một chương quy định dành cho việc can thiệp sớm các TCTD.

 

Thứ sáu, Luật Các TCTD năm 2024 giảm dần giới hạn cấp tín dụng. Mức tín dụng được quy định sẽ giảm dần qua từng năm, bắt đầu từ năm 2026. Quy định này một mặt làm giảm nguy cơ sở hữu chéo ngân hàng, một mặt lại ảnh hưởng đến việc tiếp cận nguồn vốn của doanh nghiệp. Do đó, từ thời điểm sau khi Luật Các TCTD năm 2024 bắt đầu có hiệu lực đến năm 2026 (thời điểm bắt đầu áp dụng việc giảm dần mức cấp tín dụng), các doanh nghiệp cần có những phương án đầu tư, kinh doanh giảm dần việc phụ thuộc mức cấp tín dụng của TCTD, đảm bảo ổn định hoạt động sản xuất kinh doanh lâu dài của mình.

 

Thứ bảy Luật Các TCTD năm 2024 bổ sung các quy định về xử lý nợ xấu và tài sản bảo đảm.

 

Bản tin này chỉ nhằm mục đích thông tin về những quy định pháp luật mới ban hành, không dùng để tư vấn hay áp dụng cho những trường hợp cụ thể.

Bizlawyer hân hạnh được đồng hành cùng Quý Bạn đọc!

GIẢM MẠNH NHIỀU KHOẢN PHÍ, LỆ PHÍ ĐỂ HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP
Trả lời

Theo Thông tư số 43/2024/TT-BTC ngày 28/6/2024 của Bộ Tài chính, từ ngày 01/7/2024 đến hết ngày 31/12/2024, mức thu nhiều khoản phí, lệ phí sẽ được giảm mạnh nhằm tiếp tục tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp.

Nhằm tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 43/2024/TT-BTC quy định về mức thu một số khoản phí, lệ phí. Cụ thể như sau: 

Đối với lệ phí cấp giấy phép thành lập và hoạt động của ngân hàng, mức thu tới hết tháng 12/2024 sẽ chỉ còn bằng 50% mức thu lệ phí quy định theo Thông tư số 150/2016/TT-BTC của Bộ Tài chính. Tương tự, đối với lệ phí cấp thẻ căn cước; cấp giấy phép thành lập và hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng; lệ phí nộp đơn đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ; lệ phí cấp chứng chỉ hành nghề đại diện sở hữu công nghiệp, công bố, đăng bạ đại diện sở hữu công nghiệp; phí thẩm định nội dung tài liệu không kinh doanh để cấp giấy phép xuất bản, mức giảm cũng là 50%. 

Ngoài ra, Thông tư số 43 còn giảm 10-30% đối với nhiều khoản phí, lệ phí khác như: Phí thẩm định cấp chứng chỉ, giấy phép, giấy chứng nhận trong hoạt động hàng không dân dụng; cấp giấy phép ra vào khu vực hạn chế tại cảng hàng không, sân bay; lệ phí ra, vào cảng hàng không, sân bay đối với chuyến bay của nước ngoài đến các cảng hàng không.

Sau ngày 31/12/2024, mức thu đối với các khoản phí, lệ phí nêu trên sẽ quay lại thực hiện theo quy định tại các thông tư gốc, Thông tư số 63/2023/TT-BTC và các Thông tư sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế (nếu có).

Bản tin này chỉ nhằm mục đích thông tin về những quy định pháp luật mới ban hành, không dùng để tư vấn hay áp dụng cho những trường hợp cụ thể.

PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH HỖ TRỢ NGƯỜI LAO ĐỘNG LÀM VIỆC Ở NƯỚC NGOÀI
Trả lời

Nhằm thực hiện và triển khai một cách hiệu quả Quyết định 90/QĐ-TTg về chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025 của Thủ tướng Chính phủ. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã ban hành Thông tư 03/2024/TT-BLĐTBXH vào ngày 18/04/2024 về thực hiện hỗ trợ người lao động đi làm việc nước ngoài.

Theo Thông tư số 03/2024/TT-BLĐTBXH, đối tượng hỗ trợ bao gồm người lao động có nhu cầu đi làm việc ở nước ngoài, cư trú trên địa bàn các huyện nghèo, xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo. Trong đó, ưu tiên người lao động thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo.

Các khoản hỗ trợ bao gồm Tiền đào tạo và bồi dưỡng kỹ năng; Tiền ăn, sinh hoạt phí và tiền ở trong thời gian đào tạo; Cung cấp đồ dùng cá nhân thiết yếu; Chi phí khám sức khỏe, hộ chiếu, thị thực và lý lịch tư pháp; Giới thiệu và tư vấn; Chi phí đào tạo nâng cao trình độ ngoại ngữ. Tất cả những nguyên tắc đều phải bảo đảm hiệu quả, công khai, minh bạch, dân chủ, bình đẳng giới. Mức hỗ trợ được áp dụng theo các quy định khác nhau của Điều 69 Thông tư số 55/2023/TT-BTC, tùy thuộc các nhóm đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ. 

Về phương thức hỗ trợ, hoạt động đào tạo và bổ sung kỹ năng được thực hiện thông qua đấu thầu, đặt hàng và giao nhiệm vụ. Người lao động được hỗ trợ sẽ nhận hỗ trợ trực tiếp dựa trên hóa đơn hoặc biên lai chi phí đào tạo và các thủ tục liên quan. 

Cơ quan Lao động – Thương binh và Xã hội sẽ giới thiệu và tư vấn cho người lao động ở các vùng khó khăn đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, theo quy định tại Thông tư số 55/2023/TT-BTC còn Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội sẽ thực hiện hoạt động đào tạo ngoại ngữ qua đấu thầu, đặt hàng và giao nhiệm vụ.

Thông tư này có hiệu lực từ ngày 05/06/2024

Bản tin này chỉ nhằm mục đích thông tin về những quy định pháp luật mới ban hành, không dùng để tư vấn hay áp dụng cho những trường hợp cụ thể.

Bizlawyer hân hạnh được đồng hành cùng Quý Bạn đọc!

TRÁCH NHIỆM CỦA TỔ CHỨC, CÁ NHÂN TRONG HOẠT ĐỘNG THỰC HIỆN TRUY XUẤT NGUỒN VÀ CUNG CẤP DỊCH VỤ, GIẢI PHÁP TRUY XUẤT NGUỒN GỐC SẢN PHẨM, HÀNG HÓA
Trả lời

 

Truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa là một giải pháp giúp người dùng tìm hiểu về thông tin nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm mà họ đã mua, truy ngược từ sản phẩm đang được bày bán trên kệ hàng về nơi sản xuất ban đầu, rà soát từng công đoạn trong chế biến và phân phối.Việc truy xuất nguồn gốc sản phẩm có vai trò hết sức quan trọng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh trước tình hình sản phẩm hàng giả, hàng nhái, kém chất lượng ngày càng tràn lan như hiện nay. 

Ngày 28/3/2024, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Thông tư số 02/2024/TT-BKHCN quy định về quản lý truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa, trong đó bao gồm cả nội dung quy định về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân thực hiện truy xuất nguồn gốc và cung cấp dịch vụ, giải pháp truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa.

Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân thực hiện truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa

Theo Điều 10 Thông tư 02 tổ chức, cá nhân thực hiện truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa có trách nhiệm được quy định như sau:

Tuân thủ các quy định về truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa tại Thông tư 02/2024/TT-BKHCN

Thực hiện công bố hệ thống truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa phù hợp theo tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực tương ứng.

Chịu sự thanh tra, kiểm tra, giám sát của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa theo quy định của pháp luật.

Trường hợp kết nối thông tin lên Cổng thông tin truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa quốc gia thì dữ liệu truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa quy định tại khoản 5 Điều 6 Thông tư 02/2024/TT-BKHCN được cập nhật kịp thời theo từng công đoạn sản xuất, kinh doanh vào Cổng thông tin truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa quốc gia; tổ chức, cá nhân phối hợp với Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng để thực hiện, bảo đảm duy trì dữ liệu trên Cổng thông tin truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa quốc gia.

Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ, giải pháp truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa

Theo Điều 11 Thông tư 02/2024/TT-BKHCN quy định trách nhiệm của tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ, giải pháp truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa như sau:

Cung cấp dịch vụ, giải pháp truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa đáp ứng yêu cầu quy định tại Thông tư 02/2024/TT-BKHCN.

Chịu trách nhiệm trước pháp luật về dịch vụ, giải pháp cung cấp cho tổ chức, cá nhân liên quan đến truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa. Trường hợp tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ, giải pháp truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa có nhu cầu kết nối với Cổng thông tin truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa quốc gia thì phối hợp với Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng để thực hiện, bảo đảm duy trì dữ liệu trên Cổng thông tin truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa quốc gia.

Chịu sự thanh tra, kiểm tra, giám sát của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa theo quy định của pháp luật.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 6 năm 2024.

Bản tin này chỉ nhằm mục đích thông tin về những quy định pháp luật mới ban hành, không dùng để tư vấn hay áp dụng cho những trường hợp cụ thể.

Bizlawyer hân hạnh được đồng hành cùng Quý Bạn đọc!

XE CƠ GIỚI ĐƯỢC MIỄN KIỂM ĐỊNH LẦN ĐẦU KHI NÀO?
Trả lời

Theo Thông tư số 11/2024/TT-BGTVT của Bộ Giao thông vận tải (GTVT), xe cơ giới thuộc trường hợp theo quy định tại Thông tư số 16/2021/TT-BGTVT sẽ được miễn kiểm định lần đầu. Mức giá lập hồ sơ miễn kiểm định lần đầu là 46.000 đồng/xe. 

Ngày 26/4/2024, Bộ trưởng Bộ GTVT đã ban hành Thông tư số 11/2024/TT-BGTVT quy định về giá dịch vụ lập hồ sơ phương tiện đối với xe cơ giới được miễn kiểm định lần đầu và dịch vụ in lại Giấy chứng nhận kiểm định và Tem kiểm định đối với xe cơ giới. 

Theo khoản 3 Thông tư này, xe cơ giới được miễn kiểm định lần đầu là xe cơ giới thuộc trường hợp miễn kiểm định lần đầu theo Thông tư số 16/2021/TT-BGTVT, trong đó đáp ứng các điều kiện bao gồm: Đã được cấp Phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng đối với xe sản xuất, lắp ráp; Giấy chứng nhận chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường xe cơ giới nhập khẩu hoặc Thông báo miễn kiểm tra chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường xe cơ giới nhập khẩu và có năm sản xuất đến năm nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận kiểm định dưới 02 năm (năm sản xuất cộng 01 năm), có đủ hồ sơ hợp lệ theo quy định của pháp luật. 

Về việc lập hồ sơ phương tiện và kiểm định, chủ xe cần xuất trình những giấy tờ sau: 

Thứ nhất, Giấy tờ về đăng ký xe; Bản chính Giấy biên nhận giữ bản chính Giấy đăng ký xe đang thế chấp của tổ chức tín dụng; Bản sao giấy đăng ký xe có xác nhận của tổ chức cho thuê tài chính hoặc Giấy hẹn cấp Giấy đăng ký xe

Thứ hai, Bản sao Phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng đối với xe cơ giới sản xuất, lắp ráp trong nước (trừ xe cơ giới thanh lý);

Thứ ba, Bản chính Giấy chứng nhận chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường xe cơ giới cải tạo đối với trường hợp xe cơ giới mới cải tạo;

Thứ tư, Bản cà số khung, số động cơ của xe đối với trường hợp xe cơ giới thuộc đối tượng miễn kiểm định quy định tại khoản 3 Điều 5 Thông tư 16/2021/TT-BGTVT, sửa đổi tại Thông tư 2/2023/TT-BGTVT;

Thứ năm, Khai báo thông tin các thông tin tương ứng quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư 16/2021/TT-BGTVT.

Khi đưa xe cơ giới đến đơn vị đăng kiểm để kiểm định, chủ xe cần xuất trình các Giấy tờ liên quan tới đăng ký xe; Bản chính giấy chứng nhận chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường; Thông tin về tên đăng nhập, mật khẩu truy cập và địa chỉ trang thông tin điện tử quản lý thiết bị giám sát hành trình, camera đối với xe cơ giới thuộc đối tượng phải lắp thiết bị giám sát hành trình, camera và Khai báo về việc kinh doanh vận tải vào Phiếu theo dõi hồ sơ theo mẫu tại Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư 16/2021/TT-BGTVT.

Về chi phí, mức giá lập hồ sơ phương tiện đối với xe cơ giới được miễn kiểm định lần đầu là 46.000 đồng/xe; mức giá dịch vụ in lại Giấy chứng nhận kiểm định và Tem kiểm định đối với xe cơ giới là: 23.000 đồng/lần/xe.

 

Giá dịch vụ quy định tại khoản này đã bao gồm chi phí tổ chức thu Lệ phí cấp Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đối với xe cơ giới nhưng chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng theo quy định của pháp luật.

Bản tin này chỉ nhằm mục đích thông tin về những quy định pháp luật mới ban hành, không dùng để tư vấn hay áp dụng cho những trường hợp cụ thể.

Bizlawyer hân hạnh được đồng hành cùng Quý Bạn đọc!

BÃI BỎ QUY ĐỊNH VỀ ÁP DỤNG THUẾ SUẤT THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG TRONG MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP RIÊNG BIỆT ĐỐI VỚI MẶT HÀNG THỦY, HẢI SẢN
Trả lời

Từ ngày  08/06/2024, phương pháp tính thuế suất thuế Giá trị gia tăng đối với sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, hải sản sẽ được áp dụng một cách thống nhất tại các khâu nhập khẩu, gia công, kinh doanh thương mại.

 

Ngày 23/4, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 25/2024/TT-BTC về việc bãi bỏ Thông tư 83/2014/TT-BTC hướng dẫn thực hiện thuế Giá trị gia tăng theo Danh mục hàng hóa nhập khẩu Việt Nam. Theo đó, doanh nghiệp, hợp tác xã nộp thuế Giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ bán sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, hải sản chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường, thực phẩm tươi sống cho doanh nghiệp, hợp tác xã ở khâu kinh doanh thương mại thì không phải kê khai, tính nộp thuế Giá trị gia tăng;  

 

Trường hợp hộ, cá nhân kinh doanh, doanh nghiệp, hợp tác xã và tổ chức kinh tế khác nộp thuế Giá trị gia tăng theo phương pháp tính trực tiếp trên Giá trị gia tăng khi bán sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản, hải sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường, thực phẩm tươi sống ở khâu kinh doanh thương mại thì kê khai, tính nộp thuế Giá trị gia tăng theo tỷ lệ 1% trên doanh thu. 

 

Đối với những còn lại, được xác định là loại đã qua chế biến và thuộc đối tượng áp dụng mức thuế suất thuế Giá trị gia tăng 10% thống nhất ở khâu nhập khẩu, sản xuất, gia công hoặc kinh doanh thương mại. 

 

Hiện nay, pháp luật về thuế Giá trị gia tăng được áp dụng thống nhất tại các khâu nhập khẩu, sản xuất, gia công, kinh doanh thương mại. Đồng thời, chính sách thuế Giá trị gia tăng đã có quy định cụ thể về đối tượng chịu thuế, đối tượng không chịu thuế, thuế suất thuế Giá trị gia tăng đối với các loại hàng hóa, dịch vụ và điều kiện về hồ sơ, thủ tục để áp dụng các chính sách thuế Giá trị gia tăng. Do đó, Thông tư 83/2014/TT-BTC đã không còn phù hợp với chính sách  pháp luật hiện hành và sẽ được bãi bỏ kể từ ngày 08/6/2024.

Bản tin này chỉ nhằm mục đích thông tin về những quy định pháp luật mới ban hành, không dùng để tư vấn hay áp dụng cho những trường hợp cụ thể.

Bizlawyer hân hạnh được đồng hành cùng Quý Bạn đọc!