Nguyên tắc xác định giá phát điện của nhà máy điện cần phải được xây dựng trên cơ sở các khoản chi phí hợp lý, hợp lệ của chủ đầu tư đảm bảo toàn bộ đời sống kinh tế dự án để duy trì tính ổn định và phát triển lâu dài của dự án.
Bộ Công thương mới đây đã ban hành Thông tư số 07/2024/TT-BCT về quy định phương pháp xác định giá phát điện, hợp đồng mua bán điện. Thông tư áp dụng đối với nhà máy điện hoạt động tại Việt Nam đấu nối với hệ thống điện quốc gia; các tổ chức, cá nhân khác có liên quan.
Về nguyên tắc xây dựng Giá phát điện của nhà máy điện, cần tuân thủ 2 nguyên tắc chính là dựa trên các khoản chi phí hợp lý, hợp lệ của Chủ đầu tư trong toàn bộ đời sống kinh tế dự án và Tỷ suất sinh lợi nội tại về tài chính (IRR) không vượt quá 12%.
Về cấu thành trong giá phát điện, giá phát điện cần đảm bảo 2 yếu tố cấu thành sau:
Giá hợp đồng mua bán điện, là giá do Bên bán (Đơn vị phát điện sở hữu nhà máy điện) và Bên mua (Tập đoàn Điện lực Việt Nam hoặc đơn vị đại diện theo phân cấp, Tổng công ty Điện lực miền Bắc, Tổng công ty Điện lực miền Trung, Tổng công ty Điện lực miền Nam, Tổng công ty Điện lực Thành phố Hà Nội, Tổng công ty Điện lực Thành phố Hồ Chí Minh, các khách hàng sử dụng điện lớn, các đơn vị mua buôn điện khác theo quy định của thị trường điện) thỏa thuận và được xây dựng theo phương pháp quy định tại Điều 4 Thông tư này;
Giá đấu nối đặc thù (nếu có), do Bên bán và Bên mua thỏa thuận và được xác định theo phương pháp quy định tại Điều 8 Thông tư này.
Ngoài ra, các chi phí chưa bao gồm trong giá phát điện gồm có Thuế giá trị gia tăng, thuế tài nguyên nước; Tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước; Tiền dịch vụ môi trường rừng; Phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn và đối với nước thải công nghiệp (áp dụng đối với nhà máy nhiệt điện) và Các khoản thuế, phí, các khoản thu bằng tiền khác theo quy định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền (trừ các khoản thuế, phí đã được tính trong phương án giá phát điện).
Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 6 năm 2024.
Bản tin này chỉ nhằm mục đích thông tin về những quy định pháp luật mới ban hành, không dùng để tư vấn hay áp dụng cho những trường hợp cụ thể.
Bizlawyer hân hạnh được đồng hành cùng Quý Bạn đọc!
Quy định chuẩn chuyên môn và nghiệp vụ của nhà giáo giáo dục nghề nghiệp được Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định tại Thông tư số 05/2024/TT-BLĐTBXH ngày 10/5/2024.
Thông tư số 05/2024/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã quy định cụ thể về chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ của nhà giáo giáo dục nghề nghiệp, trong đó phân cấp cụ thể theo các bậc là giáo viên giảng dạy trình độ cao đẳng, trình độ trung cấp và trình độ sơ cấp.
Đối với giáo viên giảng dạy trình độ cao đẳng, về trình độ đào tạo, những người này phải có các chứng chỉ kỹ năng nghề như nghệ nhân, kỹ sư, cử nhân, hoặc các bằng cấp tương đương trong các ngành nghệ thuật, thể dục thể thao, công nghệ thông tin, kế toán, ngôn ngữ hay các chứng chỉ khác bao gồm chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia bậc 3 hay chứng nhận giải thưởng quốc gia, quốc tế.
Về trình độ nghiệp vụ sư phạm, họ phải có bằng cử nhân trong ngành đào tạo giáo viên hoặc các chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm tương ứng. Về năng lực sử dụng ngoại ngữ và năng lực ứng dụng công nghệ thông tin, năng lực của giáo viên trong các lĩnh vực này cần phải đảm bảo theo yêu cầu thực tế về vị trí việc làm của họ.
Ngoài ra, giáo viên giảng dạy cao đẳng phải tham gia thực tập và các khóa đào tạo, bồi dưỡng hàng năm để nâng cao trình độ chuyên môn, cập nhật kiến thức mới và cải thiện phương pháp giảng dạy.
Đối với nhà giáo dạy trình độ trung cấp, về trình độ, nhà giáo trình độ trung cấp cần đáp ứng theo quy định của Luật Giáo dục nghề nghiệp và cần có các chứng chỉ kỹ năng dạy nghề để dạy thực hành như Danh hiệu nghệ sĩ ưu tú, thầy thuốc ưu tú, nhà giáo ưu tú; Bác sĩ chuyên khoa cấp I trở lên; Kỹ sư; Cử nhân hoặc tương đương; Bằng tốt nghiệp và chứng chỉ khác; Chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia; Chứng chỉ quốc tế; Chứng nhận giải thưởng hay các văn bằng, chứng chỉ khác.
Về trình độ nghiệp vụ sư phạm, giáo viên phải có bằng cử nhân trong ngành đào tạo giáo viên hoặc các chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy nghề, dạy trình độ trung cấp.
Về năng lực sử dụng ngoại ngữ, ứng dụng công nghệ thông tin và học tập, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ, các yêu cầu theo quy định tại Thông tư này tương tự yêu cầu đối với giáo viên giảng dạy cao đẳng.
Đối với nhà giáo dạy trình độ sơ cấp, ngoài trình độ đào tạo theo quy định của Luật Giáo dục nghề nghiệp; họ cần sở hữu các chứng chỉ như Chứng chỉ tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp hoặc trung cấp nghề trở lên; Chứng nhận nghệ nhân cấp tỉnh, chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia bậc 1, hoặc bậc thợ 3/7 hay 2/6 trở lên; Giấy phép lái xe hạng tương ứng hoặc cao hơn hạng xe đào tạo, không thấp hơn B2, và phải đáp ứng yêu cầu về thời gian cấp phép và tập huấn; Chứng chỉ kỹ năng nghề theo quy định tại khoản 2 Điều 5 và khoản 2 Điều 10 của Thông tư này; Văn bằng, chứng chỉ khác theo quy định pháp luật.
Về trình độ nghiệp vụ sư phạm, giáo viên giảng dạy trình độ sơ cấp phải có bằng cử nhân ngành giáo viên, cao đẳng sư phạm, hoặc cao đẳng sư phạm kỹ thuật; dạy nghề trình độ sơ cấp, chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm sơ cấp, hoặc bồi dưỡng sư phạm bậc 1 trở lên; Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy nghề.
Về năng lực sử dụng ngoại ngữ và ứng dụng công nghệ thông tin, năng lực của giáo viên trong các lĩnh vực này cần phải đảm bảo theo yêu cầu thực tế về vị trí việc làm của họ.
Về việc học tập, bồi dưỡng nâng cao, giáo viên trình độ sơ cấp phải thực tập tại doanh nghiệp hàng năm theo quy định; Tự học và bồi dưỡng nâng cao trình độ, cập nhật kiến thức, kỹ năng nghề, công nghệ mới, chuyển đổi số và phương pháp giảng dạy.
Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 25 tháng 6 năm 2024.
Bản tin này chỉ nhằm mục đích thông tin về những quy định pháp luật mới ban hành, không dùng để tư vấn hay áp dụng cho những trường hợp cụ thể.
Bizlawyer hân hạnh được đồng hành cùng Quý Bạn đọc!
Thông tư số 05/2024/TT-BGTVT sửa đổi và bổ sung quy định về một số trường hợp bị thu hồi giấy phép lái xe, trong đó đáng chú ý là việc chủ sở hữu sẽ bị thu hồi bằng lái nếu để người khác mượn giấy phép lái xe của mình.
Ngày 31/3, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải (GTVT) đã ban hành Thông tư số 05/2024/TT-BGTVT sửa đổi Thông tư liên quan đến lĩnh vực vận tải đường bộ, dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ, phương tiện và người lái. Trong đó, những quy định mới về việc cấp, đổi và thu hồi giấy phép lái xe từ ngày 01/6 được nhiều người quan tâm.
Người học lái xe cần chuẩn bị những hồ sơ gì?
Theo Thông tư số 05, người học lái xe cơ giới đường bộ cần chuẩn bị những tài liệu để đưa vào hồ sơ như sau:
Đối với người học lái xe lần đầu, hồ sơ nộp trực tiếp tại cơ sở đào tạo gồm: Đơn đề nghị học, sát hạch để cấp giấy phép lái xe; Bản sao thẻ tạm trú, thẻ thường trú, chứng minh thư ngoại giao hoặc chứng minh thư công vụ đối với người nước ngoài và Giấy khám sức khoẻ của người lái xe do cơ sở y tế có thẩm quyền cấp theo quy định.
Đối với người học lái xe nâng hạng, hồ sơ nộp trực tiếp tại cơ sở đào tạo và chụp ảnh trực tiếp lưu giữ trong cơ sở dữ liệu giấy phép lái xe. Hồ sơ bao gồm: Đơn đề nghị học, sát hạch để cấp giấy phép lái xe; Bản sao thẻ tạm trú, thẻ thường trú, chứng minh thư ngoại giao hoặc chứng minh thư công vụ đối với người nước ngoài; Giấy khám sức khoẻ của người lái xe do cơ sở y tế có thẩm quyền cấp theo quy định; Bản sao bằng tốt nghiệp trung học cơ sở hoặc bằng cấp tương đương trở lên đối với trường hợp nâng hạng giấy phép lái xe lên các hạng D, E (xuất trình bản chính khi kiểm tra hồ sơ dự sát hạch) và Bản khai thời gian hành nghề và số km lái xe an toàn theo mẫu quy định tại Phụ lục 8 ban hành kèm theo Thông tư 12/2017/TT-BGTVT .
Đối với người dân tộc thiểu số không biết đọc, viết tiếng Việt học lái xe mô tô hạng A1, hạng A4, hồ sơ nộp trực tiếp tại cơ sở đào tạo, bao gồm: Giấy khám sức khoẻ của người lái xe do cơ sở y tế có thẩm quyền cấp theo quy định.
Quy định mới về thủ tục đổi Giấy phép lái xe (GPLX)
Về thủ tục đổi GPLX, hồ sơ đổi GPLX do ngành GTVT cấp sẽ bao gồm các tài liệu sau: Đơn đề nghị đổi giấy phép lái xe theo mẫu; Giấy khám sức khỏe của người lái xe do cơ sở y tế có thẩm quyền cấp theo quy định (trừ trường hợp hạng A1, A2, A3); Bản sao giấy phép lái xe và hộ chiếu còn thời hạn sử dụng (đối với người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài).
So với quy định hiện hành, hồ sơ đổi GPLX từ ngày 01/6 sẽ thay đổi mẫu đơn đề nghị đổi GPLX, đồng thời không còn yêu cầu bản sao CMND/CCCD hoặc hộ chiếu còn thời hạn có ghi số giấy CMND/CCCD (đối với người Việt Nam).
Trình tự xin đổi GPLX được quy định như sau:
Sở GTVT kiểm tra hồ sơ khi tiếp nhận; trường hợp hồ sơ không đúng theo quy định, phải thông báo những nội dung cần bổ sung, sửa đổi cho cá nhân trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ;
Cá nhân nộp hồ sơ phải hoàn thành nghĩa vụ nộp lệ phí cấp GPLX theo quy định và nộp phí sử dụng dịch vụ khác theo nhu cầu của cá nhân;
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đúng theo quy định, Sở GTVT thực hiện việc đổi GPLX. Trường hợp không đổi GPLX thì phải trả lời và nêu rõ lý do;
Cơ quan cấp GPLX lưu trữ bản chính hồ sơ đổi GPLX của ngành Giao thông vận tải cấp (trừ trường hợp đổi GPLX qua hệ thống dịch vụ công trực tuyến); bản sao hồ sơ đổi GPLX hoặc bằng lái xe của nước ngoài, giấy phép lái xe do ngành Công an cấp, giấy phép lái xe quân sự do Bộ Quốc phòng cấp trong thời hạn 02 năm kể từ ngày cấp giấy phép lái xe. Cắt góc GPLX cũ (trừ GPLX do nước ngoài cấp), giao cho người lái xe bảo quản (trường hợp đổi GPLX trực tuyến toàn trình, người lái xe chịu trách nhiệm gửi GPLX cũ đến cơ quan cấp GPLX để hủy theo quy định);
Trường hợp người lái xe có nhu cầu đổi GPLX xuống hạng thấp hơn, phải khai rõ tại Đơn đề nghị đổi (cấp lại) GPLX theo mẫu quy định.
Cho người khác mượn có thể bị thu hồi GPLX
Ngoài ra, Thông tư này cũng quy định 6 trường hợp có thể bị thu hồi GPLX, trong đó bổ sung việc chủ sở hữu bằng lái để người khác sử dụng GPLX của mình. Các trường hợp được quy định như sau:
Thứ nhất, người lái xe có hành vi gian dối để được cấp giấy phép lái xe;
Thứ hai, người lái xe tẩy, xoá, làm sai lệch các thông tin trên giấy phép lái xe;
Thứ ba, để người khác sử dụng giấy phép lái xe của mình;
Thứ tư, cơ quan có thẩm quyền cấp cho người không đủ điều kiện;
Thứ năm, có sai sót một trong các thông tin về họ tên, ngày sinh, quốc tịch, nơi cư trú, hạng giấy phép lái xe, giá trị cấp, ngày trúng tuyển, người ký;
Thứ sáu, thông qua việc khám sức khỏe Cơ quan có thẩm quyền xác định trong cơ thể người lái xe có chất ma túy.
Bản tin này chỉ nhằm mục đích thông tin về những quy định pháp luật mới ban hành, không dùng để tư vấn hay áp dụng cho những trường hợp cụ thể.
Bizlawyer hân hạnh được đồng hành cùng Quý Bạn đọc!
Theo Nghị định số 41/2024/NĐ-CP của Chính phủ, kể từ ngày 01/6/2024, các loại Giấy phép trong hoạt động kinh doanh vận tải, đào tạo lái xe ô tô nếu không đủ điều kiện hoặc thuộc trường hợp theo quy định tại Nghị định này sẽ bị thu hồi.
Ngày 16/4/2024, Chính phủ ban hành Nghị định 41/2024/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định liên quan đến quản lý hoạt động vận tải bằng xe ô tô, dịch vụ đào tạo lái xe ô tô và dịch vụ sát hạch lái xe. Quy định mới này đã bổ sung thêm một số trường hợp thu hồi các Giấy phép trong hoạt động kinh doanh vận tải, đào tạo lái xe. Cụ thể, sau khi cập nhật và tổng hợp, các trường hợp tiến hành thu hồi với các loại Giấy phép trên như sau :
Giấy chứng nhận giáo viên thực hành lái xe bị thu hồi trong các trường hợp sau:
Có hành vi gian lận để được tham dự tập huấn và kiểm tra để được Giấy chứng nhận giáo viên dạy thực hành lái xe;
Cấp cho người không đủ một trong các tiêu chuẩn quy định tại Điều 8 Nghị định này;
Do cơ quan hoặc người không có thẩm quyền cấp;
Bị tẩy xóa, sửa chữa;
Cho cơ sở đào tạo khác thuê, mượn để sử dụng nhưng không tham gia giảng dạy; hoặc cho tổ chức, cá nhân khác thuê, mượn để sử dụng.
Giấy phép xe tập lái bị thu hồi trong các trường hợp sau:
Cấp cho xe tập lái không đáp ứng một trong điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 3 và khoản 2 Điều 6 Nghị định này;
Bị tẩy xóa, sửa chữa;
Để cho tổ chức, cá nhân khác sử dụng vào mục đích đào tạo lái xe;
Cơ sở đào tạo lái xe giải thể hoặc bị thu hồi Giấy phép đào tạo;
Theo đề nghị của cơ sở đào tạo;
Xe tập lái có lắp đặt và sử dụng từ 2 thiết bị DAT trở lên để gian lận trong quá trình đào tạo thực hành lái xe.
Các trường hợp thu hồi giấy phép đào tạo lái xe ô tô của tổ chức đào tạo lái xe:
Có hành vi gian lận để được thành lập hoặc cấp giấy phép đào tạo lái xe ô tô;
Không triển khai hoạt động đào tạo lái xe ô tô sau thời hạn 24 tháng, kể từ ngày được cấp giấy phép đào tạo lái xe ô tô;
Bị đình chỉ tuyển sinh đào tạo lái xe ô tô từ 02 lần trở lên trong thời gian 18 tháng;
Giấy phép được cấp không đúng với thẩm quyền;
Tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung trên giấy phép được cấp;
Cho thuê, mượn giấy phép.
Cơ sở đào tạo lái xe giải thể theo quy định của pháp luật;
Cơ sở đào tạo lái xe không tổ chức hoạt động đào tạo lái xe sau thời hạn 24 tháng liên tục kể từ ngày có văn bản thông báo tạm dừng hoạt động mà không đáp ứng được các điều kiện kinh doanh dịch vụ đào tạo lái xe ô tô;
Cơ sở đào tạo lái xe không tổ chức hoạt động đào tạo lái xe trong thời gian 24 tháng liên tục;
Các trường hợp thu hồi Giấy phép kinh doanh của Đơn vị kinh doanh vận tải bao gồm:
Cung cấp bản sao không đúng với bản chính hoặc thông tin sai lệch trong hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép kinh doanh;
Không kinh doanh vận tải toàn bộ các loại hình ghi trên Giấy phép kinh doanh trong thời hạn từ 06 tháng trở lên, kể từ ngày được cấp Giấy phép kinh doanh hoặc ngừng kinh doanh vận tải toàn bộ các loại hình ghi trên Giấy phép kinh doanh trong thời gian 06 tháng liên tục trở lên;
Chấm dứt hoạt động theo quy định của pháp luật hoặc theo đề nghị của đơn vị kinh doanh vận tải
Sửa chữa hoặc làm sai lệch dữ liệu hình ảnh từ camera lắp trên xe trước, trong và sau khi truyền dữ liệu.
Không chấp hành quyết định thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định về kinh doanh, điều kiện kinh doanh vận tải bằng xe ô tô của cơ quan có thẩm quyền;
Trong thời gian 01 tháng, có từ 30% trở lên số phương tiện của đơn vị bị xử lý vi phạm thu hồi, bị tước phù hiệu, biển hiệu.
Ngoài ra, theo Điều khoản chuyển tiếp tại Điều 4 Nghị định số 41/2024/NĐ-CP quy định:
Giấy chứng nhận giáo viên dạy thực hành lái xe, Giấy phép xe tập lái, Giấy phép đào tạo lái xe ô tô, Giấy chứng nhận trung tâm sát hạch lái xe đủ điều kiện hoạt động do cơ quan có thẩm quyền cấp trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành, tiếp tục sử dụng cho đến khi hết thời hạn.
Bản tin này chỉ nhằm mục đích thông tin về những quy định pháp luật mới ban hành, không dùng để tư vấn hay áp dụng cho những trường hợp cụ thể.
Bizlawyer hân hạnh được đồng hành cùng Quý Bạn đọc!
Nhằm thúc đẩy dịch vụ công trực tuyến và cung cấp dịch vụ thanh toán nghĩa vụ tài chính về đất đai thuận tiện cho doanh nghiệp, Tổng cục Thuế phối hợp các đơn vị lên quan đã ban hành Công văn số 1288/TCT-DNNCN về triển khai nộp nghĩa vụ tài chính về đất đai cho doanh nghiệp qua Cổng Dịch vụ Công quốc gia.
Theo Công văn số 128/TCT-DNNCN, phạm vi triển khai dịch vụ thanh toán nghĩa vụ tài chính áp dụng đối với doanh nghiệp Nhà nước (NNT) nộp các nghĩa vụ tài chính về đất đai qua Cổng Dịch vụ Công quốc gia và trao đổi dữ liệu từ Tổng cục Thuế tới Cổng Dịch vụ Công quốc gia để xử lý thủ tục hành chính cho NNT.
Hướng dẫn này áp dụng cho doanh nghiệp Nhà nước (NNT) có tài khoản trên Cổng DVCQG để nộp nghĩa vụ tài chính (NVTC) về đất đai qua cơ chế một cửa liên thông. Chỉ áp dụng thanh toán trực tuyến cho NVTC về đất đai chưa hết hạn. Quy trình xử lý hồ sơ NVTC đảm bảo thanh toán trực tuyến trên Cổng DVCQG và cập nhật thông tin chính xác.
Trong Công văn hướng dẫn chi tiết và các bước thanh toán:
Bước 1: Truy cập Cổng DVCQG, đăng nhập tài khoản doanh nghiệp, chọn Thanh toán trực tuyến và chọn Nộp thuế, lệ phí trước bạ về đất đai, tài sản.
Bước 2: Nhập thông tin tra cứu nghĩa vụ tài chính về đất đai bằng mã hồ sơ được cung cấp.
Bước 3: Cổng DVCQG kết nối tới hệ thống Thuế điện tử (eTax).
Bước 4: Hiển thị thông tin khoản nộp trên giấy nộp tiền vào Ngân sách nhà nước Mẫu số C1-02/NS.
Bước 5: Kiểm tra thông tin trên giấy nộp tiền và hoàn thành quy trình nộp.
Bước 6: Xác nhận nộp thành công và nhận thông báo về việc hoàn thành nộp tiền vào ngân sách nhà nước.
Các bước tra cứu giao dịch:
Bước 1: Click ‘Thông tin doanh nghiệp’ trên Cổng DVCQG.
Bước 2: Chọn ‘Lịch sử thanh toán’ để tiếp tục.
Bước 3: Nhập tham số tra cứu và nhấn biểu tượng tìm kiếm.
Bước 4: Chọn ‘Biên lai’ để xem chi tiết các chứng từ và tải về dưới định dạng XML hoặc PDF.
Bắt đầu triển khai đợt 1 vào tháng 3/2024 và tiếp tục được rộng rãi triển khai lần 2 trong tháng 4 và tháng 5/2024.
Bản tin này chỉ nhằm mục đích thông tin về những quy định pháp luật mới ban hành, không dùng để tư vấn hay áp dụng cho những trường hợp cụ thể.
Bizlawyer hân hạnh được đồng hành cùng Quý Bạn đọc!
Ngày 10/4/2024, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải ban hành Thông tư số 10/2024/TT-BGTVT sửa đổi, bổ sung một số điều của các Thông tư quy định về quản lý tuyến vận tải thủy từ bờ ra đảo trong vùng biển Việt Nam.
Theo quy định tại Điều 1 Thông tư số 10/2024/TT-BGTVT, thủ tục đăng ký vận tải hành khách cố định trên tuyến vận tải thủy từ bờ ra đảo, quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo thông tư này, được thay đổi như sau:
Về phương thức, tổ chức, cá nhân có thể gửi hồ sơ đăng ký trực tiếp, qua hệ thống bưu chính, dịch vụ công trực tuyến hoặc hình thức phù hợp khác đến Sở Giao thông vận tải nơi quản lý tuyến đường thủy. So với quy định cũ, Thông tư này đã bổ sung hình thức nộp hồ sơ qua hệ thống dịch vụ công trực tuyến hoặc hình thức phù hợp khác. Đồng thời, thay đổi nơi nhận hồ sơ là Sở Giao thông vận tải thay vì là Cảng vụ hàng hải khu vực, cơ quan, đơn vị chức năng được UBND cấp tỉnh giao nhiệm vụ trong trường hợp được phân cấp.
Về tài liệu, tổ chức, cá nhân đăng ký cần cung cấp những tài liệu sau:
Bản đăng ký hoạt động vận tải hành khách theo mẫu quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Thông tư này;
Bản chính hoặc bản điện tử hoặc bản sao điện tử hoặc bản sao điện tử có chứng thực ý kiến thống nhất bằng văn bản hoặc hợp đồng với tổ chức quản lý cảng, bến cho phương tiện vào đón, trả hành khách;
Xuất trình bản chính để kiểm tra (trong trường hợp gửi trực tiếp) hoặc bản điện tử hoặc bản sao điện tử hoặc bản sao điện tử có chứng thực (trong trường hợp gửi qua đường bưu chính, qua hệ thống dịch vụ công trực tuyến hoặc theo hình thức phù hợp khác), bao gồm: Giấy chứng nhận đăng ký phương tiện; Giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện còn hiệu lực và phù hợp với tuyến hoạt động.
Về trình tự thực hiện, sau khi tiếp nhận hồ sơ, Sở Giao thông vận tải sẽ kiểm tra và xử lý hồ sơ như sau:
Trường hợp hồ sơ nộp trực tiếp: Nếu hồ sơ không hợp lệ theo quy định thì trả lại ngay và hướng dẫn tổ chức, cá nhân hoàn thiện hồ sơ. Nếu hồ sơ hợp lệ theo quy định, chậm nhất không quá 03 ngày làm việc, kể từ khi nhận đủ hồ sơ, Sở Giao thông vận tải gửi xin ý kiến bằng văn bản của Cảng vụ hàng hải khu vực, Cảng vụ đường thủy nội địa trực thuộc Cục Đường thủy nội địa Việt Nam (sau đây gọi là Cảng vụ) nơi có tuyến vận tải thủy từ bờ ra đảo đi qua. Cảng vụ có trách nhiệm trả lời bằng văn bản trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản;
Trường hợp hồ sơ nhận qua hệ thống bưu chính, qua hệ thống dịch vụ công trực tuyến hoặc hình thức phù hợp khác: Nếu hồ sơ không hợp lệ theo quy định, trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Sở Giao thông vận tải phải có văn bản gửi tổ chức, cá nhân yêu cầu bổ sung, hoàn thiện hồ sơ. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày ra văn bản thông báo, nếu tổ chức, cá nhân không hoàn thiện, bổ sung hồ sơ thì Sở Giao thông vận tải kết thúc việc giải quyết hồ sơ. Tổ chức, cá nhân muốn tiếp tục làm thủ tục đăng ký vận tải hành khách cố định phải thực hiện lại từ đầu theo quy định.
Nếu hồ sơ hợp lệ theo quy định, chậm nhất không quá 03 ngày làm việc, kể từ khi nhận đủ hồ sơ, Sở Giao thông vận tải gửi xin ý kiến bằng văn bản của Cảng vụ nơi có tuyến vận tải thủy từ bờ ra đảo đi qua. Cảng vụ có trách nhiệm trả lời bằng văn bản trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản;
Chậm nhất không quá 03 ngày làm việc, kể từ khi nhận được văn bản trả lời của cơ quan, đơn vị quy định tại khoản 2 Điều này, Sở Giao thông vận tải xem xét, có văn bản chấp thuận theo mẫu quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Thông tư này gửi trực tiếp hoặc qua hệ thống bưu chính hoặc gửi trực tuyến qua hệ thống dịch vụ công trực tuyến cho tổ chức, cá nhân vận tải khách cố định trên tuyến. Trường hợp không chấp thuận, có văn bản trả lời nêu rõ lý do.
Bản tin này chỉ nhằm mục đích thông tin về những quy định pháp luật mới ban hành, không dùng để tư vấn hay áp dụng cho những trường hợp cụ thể.
Bizlawyer hân hạnh được đồng hành cùng Quý Bạn đọc!
So với quy định cũ, Nghị định số 38/2024/NĐ-CP bổ sung thêm chế tài và quy định cụ thể hơn về mức xử phạt đối với các vi phạm hành chính trong lĩnh vực đánh bắt, khai thác thủy hải sản.
Ngày 05/4/2024, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 38/2024/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thủy sản, thay thế Nghị định số 42/2019/NĐ-CP ngày 16/5/2019 của Chính phủ. So với văn bản cũ, Nghị định 38 đã bổ sung, đồng thời quy định cụ thể, chi tiết hơn về các chế tài xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực khai thác thủy hải sản, đặc biệt đối với hành vi sử dụng điện hoặc hóa chất, chất cấm trong việc đánh bắt.
Cụ thể, khoản 2, Điều 28 Nghị định 38 quy định đối với hành vi sử dụng công cụ kích điện hoặc sử dụng trực tiếp dòng điện từ máy phát điện trên tàu cá để khai thác thủy sản, người vi phạm sẽ bị xử phạt như sau: Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với trường hợp tàu cá có chiều dài lớn nhất dưới 06 mét; Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với trường hợp tàu cá có chiều dài lớn nhất từ 06 mét đến dưới 12 mét; Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với trường hợp tàu cá có chiều dài lớn nhất từ 12 mét đến dưới 15 mét; Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với trường hợp tàu cá có chiều dài lớn nhất từ 15 mét trở lên.
Ngoài ra, đối với hành vi sử dụng dòng điện trực tiếp từ điện lưới để khai thác thủy sản mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, mức xử phạt áp dụng là phạt tiền 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
So với quy định cũ, Nghị định 38 đã bổ sung mức xử phạt đối với trường hợp tàu cá có chiều dài dưới 06 mét sử dụng dòng điện từ máy phát điện để khai thác thủy sản. Quy định mới này giúp hoàn thiện khung chế tài, tạo điều kiện cho cơ quan chức năng có thể quản lý, xử lý nghiêm đối với những hành vi vi phạm.
Tương tự, Điều 29 Nghị định này cũng bóc tách, quy định chi tiết hơn về chế tài đối với hành vi tàng trữ, sử dụng chất cấm, hóa chất cấm, chất độc, chất nổ, thực vật có độc tố để khai thác thủy sản. Theo đó, Đối với hành vi tàng trữ chất cấm, hóa chất cấm, chất độc, thực vật có độc tố trên tàu cá, tùy thuộc kích thước tàu cá, mức phạt tiền có thể áp dụng sẽ dao động ở mức thấp nhất từ 3.000.000-5.000.000 đồng (Chiều dài tàu dưới 06 mét) tới mức cao nhất là 15.000.000-20.000.000 đồng (Chiều dài tàu từ 24 mét trở lên).
Đối với trường hợp tái phạm hoặc vi phạm hành chính nhiều lần, mức phạt tiền cũng sẽ dao động ở mức thấp nhất từ 5.000.000-10.000.000 đồng (Chiều dài tàu dưới 06 mét) tới mức cao nhất là 20.000.000-25.000.000 đồng (Chiều dài tàu từ 24 mét trở lên).
So với Nghị định 42/2019/NĐ-CP, Nghị định 38 vừa quy định cụ thể, chi tiết các mức xử phạt đối với từng loại tàu cá vi phạm, vừa nâng mức xử phạt đối với hành vi tàng trữ chất cấm, hóa chất cấm, chất độc, thực vật có độc tố trên tàu cá. Quy định này được kỳ vọng sẽ tăng tính răn đe, giảm thiểu vi phạm hành chính trong lĩnh vực khai thác thủy hải sản.
Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 20/5/2024.
Bản tin này chỉ nhằm mục đích thông tin về những quy định pháp luật mới ban hành, không dùng để tư vấn hay áp dụng cho những trường hợp cụ thể.
Bizlawyer hân hạnh được đồng hành cùng Quý bạn đọc!
So với quy định cũ, Nghị định 37/2024/NĐ-CP quy định chi tiết, chặt chẽ hơn về các điều kiện, tiêu chuẩn để có thể cấp phép cho tàu cá được khai thác ngoài vùng biển Việt Nam.
Với lợi thế đường biển dài cùng nguồn thủy hải sản phong phú, đánh bắt và khai thác thủy sản là một trong những ngành nghề đem lại nguồn thu nhập ổn định tại Việt Nam. Không dừng lại ở lãnh hải trong nước, ngư dân đang hướng tới việc khai thác, đánh bắt ở ngoài vùng biển Việt Nam. Bởi vậy, việc đưa ra các điều kiện chặt chẽ để tàu cá khai thác ngoài vùng biển Việt Nam là rất cần thiết.
Ngày 04/4/2024, Nghị định số 37/2024/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 26/2019/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thủy sản được ban hành, trong đó nội dung về việc điều chỉnh, bổ sung điều kiện tàu cá được hoạt động, khai thác ngoài vùng biển Việt Nam là vấn đề được nhiều người quan tâm.
Cụ thể, khoản 23, Điều 1 Nghị định số 37/2024/NĐ-CP quy định về các điều kiện tàu cá cần đáp ứng như sau:
Thứ nhất, Tàu cá có chiều dài lớn nhất từ 15 mét trở lên phải lắp đặt thiết bị giám sát hành trình tự động truyền thông tin, dữ liệu qua hệ thống thông tin vệ tinh, không thuộc danh sách tàu cá vi phạm quy định khai thác bất hợp pháp;
Thứ hai, Tàu cá phải trang bị, lắp đặt thiết bị thông tin liên lạc, hàng hải trên tàu bao gồm: Máy thu phát vô tuyến điện thoại sóng cực ngắn (VHF) có bộ phận gọi chọn số và thu trực canh (DSC) trên kênh 70 hoặc 16; máy thu phát vô tuyến điện (MF/HF); máy thu tự động thông báo hàng hải và thời tiết (NAVTEX), phao chỉ báo vị trí khẩn cấp (EPIRB);
Thứ ba, Tàu cá cần có mã số của Tổ chức Hàng hải quốc tế (IMO) theo quy định trong trường hợp tàu cá đi khai thác tại vùng biển thuộc quyền của quản lý của tổ chức nghề cá khu vực hoặc tại vùng biển của quốc gia, vùng lãnh thổ khác có yêu cầu;
Thứ tư, cần có giám sát viên theo quy định của Tổ chức quản lý nghề cá khu vực hoặc quốc gia ven biển;
Thứ năm, Thuyền viên và người làm việc trên tàu cá phải có Giấy chứng nhận hoàn thành lớp bồi dưỡng quản lý nghề cá tại vùng biển quốc tế do Cơ quan quản lý nhà nước về thủy sản thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cấp đối với trường hợp cấp giấy phép đi khai thác tại vùng biển do Tổ chức quản lý nghề cá khu vực quản lý
So với quy định tại Điều 46 Nghị định số 26/2019/NĐ-CP, Nghị định 37 đã có những quy định chặt chẽ, cụ thể hơn so với trước đây về điều kiện tàu cá được hoạt động, khai thác thủy sản ngoài vùng biển Việt Nam. Điều này đã tạo ra hành lang pháp lý vững chắc để kiểm soát các tàu cá hoạt động ngoài lãnh hải Việt Nam.
Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 19/5/2024.
Bản tin này chỉ nhằm mục đích thông tin về những quy định pháp luật mới ban hành, không dùng để tư vấn hay áp dụng cho những trường hợp cụ thể.
Bizlawyer hân hạnh được đồng hành cùng Quý bạn đọc!
Ngày 12/4/2024, UBND thành phố Hà Nội đã ban hành Quyết định số 27/2024/QĐ-UBND về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hà Nội, ban hành kèm theo Quyết định số 10/2017/QĐ-UBND của UBND thành phố Hà Nội
Quyết định này sửa đổi và bổ sung một số điều của Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở tại thành phố Hà Nội. Cụ thể:
Thứ nhất, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ở hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam được bồi thường mà không còn đất ở, nhà ở nào khác trong địa bàn thu hồi. Cụ thể, trong các trường hợp bị thu hồi toàn bộ đất ở hoặc đất ở còn lại không đủ điều kiện để ở, bồi thường được thực hiện bằng đất ở hoặc nhà ở.
Thứ hai, đối với các quận, bồi thường được thực hiện bằng căn hộ chung cư tái định cư, với diện tích phù hợp không cao hơn 02 lần diện tích đất ở bị thu hồi và không thấp hơn suất tái định cư tối thiểu quy định. Phần diện tích vượt quá giới hạn này hoặc lớn hơn 30m² phải mua theo giá bán nhà do cơ quan nhà nước quy định.
Thứ ba, trong các dự án đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước, bồi thường bằng giao đất tái định cư, với điều kiện quỹ đất tái định cư đủ quy mô và diện tích. Trường hợp không đủ, Ủy ban nhân dân Thành phố sẽ xem xét từng dự án, từng trường hợp cụ thể, và bồi thường bằng đất theo quy định.
Thứ tư, đối với các huyện, thị xã, bồi thường được thực hiện bằng đất ở, với điều kiện không vượt quá suất tái định cư tối thiểu và không vượt quá hạn mức giao đất ở tối đa tại địa phương.
Thứ năm, khi một thửa đất ở bị thu hồi và có nhiều hộ gia đình sử dụng chung, mỗi hộ sẽ được giao một suất tái định cư. Diện tích đất được cung cấp không vượt quá diện tích đất ở bị thu hồi. Trong trường hợp diện tích đất cung cấp vượt quá, hộ cần trả tiền sử dụng đất, tính theo giá đất hiện hành và hệ số điều chỉnh.
Bản tin này chỉ nhằm mục đích thông tin về những quy định pháp luật mới ban hành, không dùng để tư vấn hay áp dụng cho những trường hợp cụ thể.
Bizlawyer hân hạnh được đồng hành cùng Quý Bạn đọc!