Ngày 26/06/2019, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành Thông tư số 06/2019/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam. Thông tư này có hiệu lực từ ngày 06/09/2019.
Theo đó, Thông tư số 06/2019/TT-NHNN đã có nhiều quy định mới rõ ràng hơn so với Thông tư số 19/2014/TT-NHNN trước đó:
1. Theo Điều 11 Thông tư 19/2014/TT-NHNN, hoạt động thực hiện góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài không cư trú tại Việt Nam được coi là hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài trong trường hợp doanh nghiệp mục tiêu được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Do đó, trước đây rất nhiều ngân hàng đã từ chối mở tài khoản vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cho nhà đầu tư nước ngoài vì nhà đầu tư nước ngoài không thuộc trường hợp được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Để khắc phục nhược điểm này, Thông tư 06/2019/TT-NHNN đã quy định theo hướng hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài ngoài được chứng minh bằng Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư có thể chứng minh bằng Thông báo đáp ứng điều kiện góp vốn, mua cổ phần, hợp đồng BCC, hợp đồng PPP, Giấy phép thành lập hoặc hoạt động.
2. Không quy định về việc sử dụng tài khoản vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài để thu, chi tiền rút vốn đầu tư từ các khoản vay trong nước ngắn hạn, trung hạn và dài hạn của doanh nghiệp mục tiêu.
3. Quy định rõ ràng về đồng tiền định giá, thanh toán giá trị chuyển nhượng vốn đầu tư, dự án đầu tư. Theo đó:
– Giữa hai người không cư trú: được phép thực hiện bằng ngoại tệ
– Giữa hai người cư trú, giữa người cư trú và người không cư trú: phải thực hiện bằng đồng Việt Nam
4. Quy định rõ chỉ có hoạt động thanh toán, chuyển nhượng cổ phần tại doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giữa người cư trú và người không cư trú mới phải thực hiện thông qua tài khoản vốn đầu tư trực tiếp.
Như vậy, Thông tư số 06/2019/TT-NHNN đã có những quy định mới rõ ràng hơn so với Thông tư 19/2014/TT-NHNN, góp phần xóa bỏ các tranh cãi không đáng có trước đây và đảm bảo hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài của nhà đầu tư diễn ra thuận lợi hơn.
Ngày 13/6/2019, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 51/2019/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động khoa học và công nghệ, chuyển giao công nghệ. Nghị định có hiệu lực kể từ ngày 01/08/2019.
Theo đó, Chính phủ vẫn giữ nguyên mức phạt tiền tối đa trong hoạt động khoa học và công nghệ, chuyển giao công nghệ đối với cá nhân là 50 triệu đồng, với tổ chức là 100 triệu đồng. Tuy nhiên, với mức phạt mới sẽ tăng lên với mỗi hành vi vi phạm cụ thể. Đối với trường hợp có hành vi gian lận, lừa dối để nhận được hỗ trợ, ưu đãi của Nhà nước theo quy định của pháp luật về chuyển giao công nghệ tương ứng, mức phạt tiền tối đa lên tới 40 triệu đồng, tăng thêm 10 triệu đồng so với quy định hiện hành.
Trường hợp cá nhân có hành vi chuyển giao công nghệ từ Việt Nam ra nước ngoài hoặc từ nước ngoài vào Việt Nam thuộc Danh mục công nghệ cấm chuyển giao sẽ bị phạt mức tối đa là 50 triệu đồng.
Đối với các hành vi vi phạm xảy ra trước thời điểm 01/08/2019 mà sau đó mới bị phát hiện hoặc đang xem xét, giải quyết thì áp dụng các quy định có lợi cho tổ chức, cá nhân.
Quy định mới của Chính phủ đã nâng cao trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân khi có hành vi vi phạm hành trong hoạt động khoa học công nghệ, chuyển giao công nghệ, nâng cao hơn nữa việc xây dựng môi trường lành mạnh trong lĩnh vực này.
Ngày 19/7/2019, Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành Thông tư 06/2019/TT-BTTTT sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2015/TT-BTTTT ngày 18 tháng 8 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông quy định về quản lý và sử dụng tài nguyên internet.
Thông tư 06/2019/TT-BTTTT có nhiều nội dung mới được bổ sung. Trong đó, nổi bật là nội dung bổ sung thêm 03 trường hợp tên miền “.vn” bị tạm ngừng hoạt động sau đây:
Không xác định được chủ thể do mạo danh đăng ký tên miền;
Tên miền có thông tin đăng ký không chính xác;
Chủ thể tên miền là tổ chức đã giải thể hoặc không còn tồn tại.
Đối với các trường hợp nêu ở trên, thủ tục tạm ngừng hoạt động tên miền được thực hiện như sau:
Sau 30 (ba mươi) ngày kể từ ngày Trung tâm Internet Việt Nam hoặc Nhà đăng ký yêu cầu cập nhật, bổ sung thông tin mà chủ thể đăng ký tên miền không thực hiện, tên miền bị tạm ngừng hoạt động trên hệ thống máy chủ tên miền quốc gia. Nhà đăng ký gửi thông báo về việc tạm ngừng hoạt động tên miền đến chủ thể tên miền trong thời hạn 02 (hai) ngày làm việc, kể từ khi tên miền tạm ngừng hoạt động;
Trong thời gian 30 (ba mươi) ngày kể từ ngày tạm ngừng hoạt động tên miền, nếu chủ thể đăng ký tên miền cập nhật, bổ sung hoặc hoàn thiện thông tin, tên miền được gỡ bỏ trạng thái tạm ngừng hoạt động.
Thông tư 06/2019/TT-BTTTT sẽ có hiệu lực từ ngày 15/9/2019. Việc bổ sung thêm 03 trường hợp tạm ngừng hoạt động tên miền “.vn” góp phần nâng cao hiệu quả công tác giám sát, quản lý của cơ quan quản lý nhà nước về thông tin và truyền thông liên quan đến việc sử dụng tài nguyên Internet.
Ngày 10/06/2019, Bộ Y tế ban hành Thông tư số 09/2019/TT-BYT hướng dẫn thẩm định điều kiện ký hợp đồng khám chữa bệnh bảo hiểm y tế ban đầu, chuyên thực hiện dịch vụ cận lâm sàng và một số trường hợp thanh toán trực tiếp chi phí trong khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế do Bộ trưởng Bộ y tế ban hành này 10/06/2019 có hiệu lực kể từ ngày 1/8/2019.
Theo đó, từ ngày 1/8/2019, sẽ có thêm ba trường hợp người có thẻ bảo hiểm y tế được thanh toán trực tiếp chi phí khám, chữa bệnh. Vậy căn cứ Theo Công văn 141/BHXH-CSYT và Điều 4 Thông tư 09/2019/TT-BYT, hiện tại có 06 trường hợp người tham gia BHYT được thanh toán trực tiếp chi phí khám, chữa bệnh. Cụ thể:
– Khám, chữa bệnh tại cơ sở không ký hợp đồng khám, chữa bệnh BHYT:
+ Cấp cứu;
+ Khám, chữa bệnh ngoại trú, nội trú tại cơ sở khám, chữa bệnh tuyến huyện và tương đương;
+ Khám, chữa bệnh nội trú tại cơ sở khám, chữa bệnh tuyến tỉnh và tương đương;
+ Khám, chữa bệnh nội trú tại cơ sở khám, chữa bệnh tuyến trung ương và tương đương;
– Khám, chữa bệnh tại nơi đăng ký khám, chữa bệnh ban đầu ghi trên thẻ BHYT không đúng quy định (không xuất trình được thẻ BHYT có ảnh hoặc thẻ BHYT chưa có ảnh nhưng không xuất trình được giấy tờ chứng minh nhân thân);
– Chi phí cùng chi trả trong năm khi khám, chữa bệnh đúng tuyến của người tham gia BHYT 5 năm liên tục trở lên lớn hơn 06 tháng lương cơ sở (8,94 triệu đồng) nhưng chưa được hưởng quyền lợi ngay tại cơ sở khám, chữa bệnh;
– Dữ liệu thẻ BHYT không được cung cấp hoặc cung cấp không chính xác về thông tin;
– Không xuất trình được thẻ BHYT trước khi ra viện, chuyển viện trong ngày do cấp cứu, mất ý thức, tử vong hoặc bị mất thẻ nhưng chưa được cấp lại.
Như vậy, kể từ 01/8/2019, người mất thẻ BHYT vẫn được thanh toán trực tiếp tiền khám, chữa bệnh như những trường hợp khác.
Ngày 12/07/2019, Bộ Tài Chính đã ban hành Thông tư số 43/2019/TT-BTC quy định Chi phí đầu tư được xác định là chi phí hợp lý khi khấu trừ đối với chi phí phục vụ cho công nhân làm việc tại khu công nghiệp, khu kinh tế, Thong tư 43/2019/TT-BTC có hiệu lực kể từ ngày 26/08/2019.
Theo đó, Thông tư 43/2019/TT-BTC quy định về chi phí đầu tư được xác định là chi phí hợp lý khi khấu trừ đối với chi phí phục vụ cho công nhân làm việc tại khu công nghiệp, khu kinh tế, cụ thể:
Các khoản chi phí đầu tư xây dựng, vận hành hoặc thuê nhà chung cư và các công trình kết cấu hạ tầng xã hội phục vụ cho công nhân làm việc tại khu công nghiệp, khu kinh tế của doanh nghiệp có dự án đầu tư trong Khu công nghiệp, Khu kinh tế được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp như sau:
Đối với giá trị tài sản cố định: Được tính vào giá trị công trình và trích khấu hao tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp nếu đáp ứng điều kiện là tài sản cố định theo quy định của Bộ Tài chính về chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định.
Đối với chi phí (trừ trường hợp nêu tại điểm a Khoản 1 Điều này): Được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp.
Ưu đãi đối với dự án đầu tư xây dựng nhà ở, công trình văn hóa, thể thao, công trình kết cấu hạ tầng xã hội phục vụ công nhân làm việc tại khu công nghiệp, khu kinh tế.
Dự án đầu tư xây dựng nhà ở, công trình văn hóa, thể thao, công trình kết cấu hạ tầng xã hội phục vụ công nhân làm việc tại khu công nghiệp, khu kinh tế được hưởng ưu đãi theo quy định pháp luật về xây dựng nhà ở xã hội và pháp luật có liên quan.
Như vậy, Thông tư số 43/2019/TT-BTC đã có có những quy định chi tiết, cụ thể hóa và giải thích nội hàm, hướng dẫn áp dụng quy định tại khoản 4 Điều 24 Nghị định số 88/2018/NĐ-CP của chính phủ về quản lý khu công nghiệp và khu chế xuất về Chi phí đầu tư xây dựng, vận hành hoặc thuê nhà chung cư và các công trình kết cấu hạ tầng xã hội phục vụ cho công nhân làm việc tại khu công nghiệp, khu kinh tế là chi phí hợp lý được khấu trừ để tính thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp có dự án đầu tư trong khu công nghiệp, khu kinh tế.
Ngày 26/6/2019, Ngân hàng nhà nước ban hành Thông tư số 06/2019/TT-NHNN quy định Hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam có hiệu lực ngày 06/9/2019.
Theo đó, Thông tư số 06/2019/TT-NHNN có nội dung nổi bật như sau:
Nhà đầu tư nước ngoài, nhà đầu tư Việt Nam được thực hiện góp vốn đầu tư bằng ngoại tệ, đồng Việt Nam theo mức vốn góp của nhà đầu tư tại Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, Giấy phép thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật chuyên ngành (đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thành lập và hoạt động theo pháp luật chuyên ngành), Thông báo về việc đáp ứng điều kiện góp vốn, mua cổ phần, mua lại phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài, hợp đồng PPP đã ký kết với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, tài liệu khác chứng minh việc góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài phù hợp với quy định của pháp luật.
Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhà đầu tư nước ngoài tham gia hợp đồng BCC, thực hiện dự án PPP trong trường hợp không thành lập doanh nghiệp dự án phải mở tài khoản vốn đầu tư trực tiếp bằng ngoại tệ tại 01 (một) ngân hàng được phép để thực hiện các giao dịch thu, chi hợp pháp bằng ngoại tệ liên quan đến hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam.
Trường hợp thực hiện các khoản vay nước ngoài mà đồng tiền đi vay không tương ứng với đồng tiền mà doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài sử dụng để mở tài khoản vốn đầu tư trực tiếp, doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được mở thêm tài khoản vay, trả nợ nước ngoài bằng loại đồng tiền đi vay tại ngân hàng được phép nơi đã mở tài khoản vốn đầu tư trực tiếp để thực hiện các giao dịch thu, chi hợp pháp liên quan đến khoản vay nước ngoài theo quy định của pháp luật về vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp.
Như vậy, Thông tư số 06/2019/TT-NHNN đã hướng dẫn chi tiết về việc góp vốn đầu tư, phương thức góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư vào Việt Nam.
Ngày 24/6/2019, Chính phủ ban hành Nghị định 55/2019/NĐ-CP về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Theo đó, các doanh nghiệp nhỏ và vừa được hỗ trợ chi phí tư vấn pháp luật với các mức như sau:
Doanh nghiệp siêu nhỏ được hỗ trợ 100% chi phí tư vấn pháp luật theo văn bản thỏa thuận cung cấp dịch vụ tư vấn pháp luật giữa tư vấn viên pháp luật và doanh nghiệp, nhưng không quá 03 triệu đồng/năm;
Doanh nghiệp nhỏ được hỗ trợ tối đa 30% chi phí tư vấn pháp luật theo văn bản thỏa thuận cung cấp dịch vụ tư vấn pháp luật giữa tư vấn viên pháp luật và doanh nghiệp, nhưng không quá 05 triệu đồng/năm;
Doanh nghiệp vừa được hỗ trợ tối đa 10% chi phí tư vấn pháp luật theo văn bản thỏa thuận cung cấp dịch vụ tư vấn pháp luật giữa tư vấn viên pháp luật và doanh nghiệp, nhưng không quá 10 triệu đồng/năm;
Hộ kinh doanh chuyển đổi sang doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo, doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị được hỗ trợ chi phí tư vấn pháp luật theo quy định tại Chương IV của Nghị định số 39/2018/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa hoặc văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế Nghị định này.
Trường hợp được bộ, cơ quan ngang bộ có thẩm quyền đồng ý hỗ trợ thì doanh nghiệp nhỏ và vừa gửi hồ sơ đề nghị thanh toán chi phí tư vấn pháp luật vụ việc, vướng mắc được hỗ trợ. Hồ sơ thanh toán bao gồm:
Văn bản tư vấn pháp luật, gồm 01 bản đầy đủ và 01 bản đã loại bỏ các thông tin về bí mật kinh doanh của doanh nghiệp;
Văn bản đề nghị thanh toán chi phí tư vấn pháp luật có xác nhận của tư vấn viên và doanh nghiệp, trong đó có viện dẫn số và ngày của văn bản đồng ý hỗ trợ, tên người thụ hưởng và số tài khoản, ngân hàng của người thụ hưởng;
Hóa đơn tài chính.
Nghị định 55/2019/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 16/8/2019. Theo đó, chính sách hỗ trợ pháp lý nêu trên góp phần giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa nâng cao hiểu biết, ý thức và thói quen tuân thủ pháp luật, hạn chế rủi ro, vướng mắc pháp lý trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật.
Ngày 04/12/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 163/2018/NĐ-CP quy định về phát hành trái phiếu doanh nghiệp. Nghị định này có hiệu lực từ ngày 01/02/2019.
Theo đó, Nghị định quy định nhiều điểm mới quan trọng liên quan tới điều kiện phát hành trái phiếu của doanh nghiệp:
Doanh nghiệp có thời gian hoạt động tối thiểu từ 01 năm kể từ ngày được cấp lần đầu Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc Giấy phép có giá trị tương đương theo quy định của pháp luật.
Đảm bảo trái phiếu doanh nghiệp được phát hành cho dưới 100 nhà đầu tư, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp và không sử dụng phương tiện thông tin đại chúng hoặc Internet.
Doanh nghiệp có nhu cầu phát hành trái phiếu chỉ cần có báo cáo tài chính kiểm toán năm liền trước của năm phát hành được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán đủ điều kiện theo quy định mà không yêu cầu phải có kết quả kinh doanh có lãi của năm liền kề trước năm phát hành.
Doanh nghiệp muốn phát hành riêng lẻ trái phiếu phải có lịch sử thanh toán gốc và lãi trái phiếu đã phát hành trong 3 năm liên tiếp trước đó đầy đủ
Doanh nghiệp có nghĩa vụ công bố thông tin trước và sau phát hành, trước khi chuyển đổi, hoặc mua lại trước hạn trái phiếu
Trái phiếu là một trong các công cụ huy động vốn hiệu quả của các doanh nghiệp, nhất là trong bối cảnh hệ thống ngân hàng thương mại hiện nay đang thắt chắt cho vay tín dụng, chính vì vậy, sự ra đời của Nghị định này góp phần không nhỏ tạo ra hành lang pháp lý thông thoáng hơn cho các doanh nghiệp có nhu cầu huy động vốn thông qua trái phiếu, đồng thời vẫn bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư thông qua cơ chế công khai thông tin và lưu ký trái phiếu tại Sở Giao dịch chứng khoán.