Nhiều ngân hàng tăng mạnh lãi suất huy động
Với mong muốn bổ sung thêm nguồn vốn trung, dài hạn để phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh cuối năm, đồng thời giảm...
Bùng nổ nhượng quyền thương hiệu vào Việt Nam
Hoạt động nhượng quyền đang được giới kinh doanh vận dụng để đưa các thương hiệu nước ngoài vào thị trường Việt Nam. Ngoài lĩnh...
6 ngành kinh tế phát triển mũi nhọn khu vực miền Trung
Có 6 lĩnh vực kinh tế biển, ven biển đang được các tỉnh miền Trung tập trung phát triển và đã đạt được những kết...
91.9% doanh nghiệp lạc quan về hoạt động sản xuất 6 tháng cuối năm
Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có tỷ lệ doanh nghiệp dự báo về khối lượng sản xuất khả...
Việt Nam chuyển dần từ nhập siêu sang xuất siêu với CPTPP
Với hầu hết các hiệp định thương mại (FTA) đã ký, Việt Nam thường nhập siêu, thì nay, khi thực hiện CPTTP, trong 7 tháng...
Giải đáp pháp luật
Bản Tin Pháp Luật Số 30/2019
Trả lời

Hướng dẫn giám sát và đáp ứng với bệnh, dịch bệnh truyền nhiễm
Trả lời

Ngày 17/07/2019, Bộ Y tế ban hành Thông tư số 17/2019/TT-BYT về hướng dẫn giám sát và đáp ứng với bệnh, dịch bệnh truyền nhiễm do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành. Thông tư ngày có hiệu lực kể từ ngày 01/09/2019.
Theo đó, tại Điều 6 của Thông tư số 17/2019/TT-BYT có quy định về nội dung giám sát, cụ thể:
1. Đối với người mắc bệnh truyền nhiễm, người mang mầm bệnh truyền nhiễm, người bị nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm, các nội dung giám sát gồm:
a) Họ và tên, tuổi, giới, nghề nghiệp, điện thoại liên lạc, địa chỉ nơi sinh sống, nơi học tập, làm việc; địa điểm và thời gian mắc, khởi phát bệnh; diễn biến bệnh, triệu chứng, chẩn đoán và quá trình điều trị, cơ sở y tế chăm sóc, điều trị trước khi mắc bệnh; thông tin về xét nghiệm khẳng định tác nhân gây bệnh phù hợp; tiền sử sản khoa, tiền sử tiêm chủng vắc xin phòng bệnh và tình trạng miễn dịch, tiền sử đi lại trong và ngoài nước, các thông tin về tiền sử phơi nhiễm, tiếp xúc và yếu tố dịch tễ liên quan;
b) Điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội tại địa điểm giám sát
2. Đối với tác nhân gây bệnh truyền nhiễm: chủng, loài, nhóm, týp, phân týp, gen, kiểu gen, các đặc tính sinh học về tính kháng thuốc, biến đổi về hình thể, gen và phương thức lây truyền.
3. Đối với trung gian truyền bệnh
a) Động vật: số lượng, mối liên hệ với con người và các đặc điểm khác theo yêu cầu. Riêng đối với côn trùng cần giám sát thêm: đặc điểm sinh vật học, thành phần loài, các chỉ số giám sát, tính nhạy cảm với hóa chất;
b) Thực phẩm: nguyên liệu, nguồn gốc, phương thức chế biến, bảo quản, vận chuyển và phân phối;
c) Môi trường: đất, nước, không khí;
d) Các vật khác mang tác nhân gây bệnh truyền nhiễm.
4. Căn cứ vào bệnh, dịch bệnh truyền nhiễm, đối tượng giám sát, yêu cầu của các loại hình giám sát, đơn vị chịu trách nhiệm giám sát lựa chọn các nội dung giám sát phù hợp.
Và cũng theo Điều 6 của Thông tư Số: 17/2019/TT-BYT nêu trên thì quy trình giám sát được thực hiện theo các bước sau:
1. Thu thập số liệu, thông tin.
2. Phân tích số liệu, phiên giải và đánh giá kết quả.
3. Đánh giá nguy cơ, nhận định tình hình bệnh, dịch bệnh truyền nhiễm.
4. Đề xuất biện pháp can thiệp.
5. Báo cáo và chia sẻ thông tin.
Theo đó, việc ban hành Thông tư số 17/2019/TT-BYT là cơ sở pháp lý nhằm hướng dẫn các cơ quan có thẩm quyền chủ động thực hiện việc giám sát và đáp ứng bệnh, dịch bệnh truyền nhiễm. Điều này góp phần ứng phó trước tình trạng diễn biến phức tạp của các bệnh, dịch bệnh truyền nhiễm.

Không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp quy định tại Điều 216 của Bộ luật Hình sự
Trả lời

Ngày 15/8/2019, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 05/2019/NQ-HĐTP. Nghị quyết này có hiệu lực từ ngày 1/9/2019.
Theo đó, việc trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp xảy ra trước ngày 1/1/2018 sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp quy định tại Điều 216 của Bộ luật hình sự, thay vào đó, Nghị quyết đưa ra hướng giải quyết như sau:
– Trường hợp chưa xử phạt vi phạm hành chính và chưa hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính thì cơ quan có thẩm quyền xem xét xử phạt vi phạm hành chính.
– Trường hợp đã xử phạt vi phạm hành chính mà cá nhân, tổ chức bị xử phạt cố tình trốn tránh, trì hoãn việc thi hành thì thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều 74 của Luật Xử lý vi phạm hành chính. Việc thi hành, cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính này thực hiện theo pháp luật về thi hành, cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
– Trường hợp gây thiệt hại cho người lao động, cơ quan bảo hiểm xã hội hoặc tổ chức, cá nhân khác thì người bị thiệt hại có thể khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đối với người vi phạm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Theo Điều 216 của Bộ luật hình sự, hình phạt tiền cho tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp của doanh nghiệp dao động từ 200.000.000 VNĐ đến 3.000.000.000 VNĐ.
Như vậy. Nghị quyết 05/2019/NQ-HĐTP đã đưa ra hướng giải quyết cụ thể cho hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế, góp phần giúp các doanh nghiệp dự báo được mức độ vi phạm và hậu quả pháp lý khi thực hiện hành vi vi phạm.

Quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam.
Trả lời

Ngày 26/6/2019, Thống đốc NHNN đã ký ban hành Thông tư số 06/2019/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam, thay thế Thông tư số 19/2014/TT-NHNN ngày 11/08/2014 của Thống đốc NHNH.
Vài nét về Thông tư 06/2019/TT-NHNN:
Thông tư 06/2019/TT-NHNN được ban hành nhằm hướng dẫn các nội dung liên quan đến quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam phù hợp với quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối tại pháp lệnh ngoại hối (sửa đổi, bổ sung), Nghị định 70/2014/NĐ-CP ngày 17/7/2014 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Ngoại hối (đã sửa đổi, sửa đổi bổ sung) và pháp luật về đầu tư tại Luật Đầu tư 2014, cụ thể như sau:
Thông tư quy định rõ khái niệm doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, làm cơ sở để xác định đối tượng mở tài khoản vốn đầu tư trực tiếp.
Thông tư quy định cụ thể các nội dung thu, chi trên tài khoản vốn đầu tư trực tiếp bằng ngoại tệ và tài khoản vốn đầu tư trực tiếp bằng đồng Việt Nam.
Thông tư quy định các nội dung liên quan đến việc thanh toán giá trị chuyển nhượng vốn đầu tư, dự án đầu tư bao gồm tài khoản sử dụng, đồng tiền định giá, thanh toán trong giao dịch chuyển nhượng.
Ngoài những nội dung trên, Thông tư cũng quy định cụ thể trách nhiệm của tổ chức tín dụng được phép, doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và nhà đầu tư nước ngoài nhằm tạo cơ sở pháp lý và nâng cao trách nhiệm của tổ chức, cá nhân liên quan trong việc tuân thủ quy định về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam..
Những giá trị của Thông tư số 06/2019/TT-NHNN đem lại:
Tăng cường công tác quản lý ngoại hối nhằm đảm bảo ổn định thị trường, tăng quy mô dự trữ ngoại hối, thu hút ngoại tệ từ nguồn FDI.
Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về quản lý ngoại hối, tạo điều kiện thuận lợi và bảo đảm lợi ích hợp pháp cho tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động ngoại hối, phù hợp với yêu cầu thực tiễn, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế.
Tạo hành lang pháp lý rõ ràng trong hoạt động quản lý các dòng vốn đầu tư trực tiếp vào và ra khỏi lãnh thổ Việt Nam.
Khuyến khích kiều hối, thu hút ngoại tệ vào hệ thống ngân hàng, hạn chế sử dụng ngoại hối trong nước, góp phần ổn định thị trường ngoại tệ.

Ban hành nghị định quy định việc sử dụng tài sản công để thanh toán cho nhà đầu tư khi thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình theo hình thức hợp đồng xây dựng – chuyển giao
Trả lời

Ngày 15/8/2019, Chính phủ đã ban hành Nghị định 69/2019/NĐ-CP quy định việc sử dụng tài sản công để thanh toán cho các nhà đầu tư khi thực hiện dự án đầu tư xây dựng chuyển giao công trình theo hình thức hợp đồng xây dựng – chuyển giao (Hợp đồng BT). Nghị định có hiệu lực từ ngày 01/10/2019.
Một số nội dung đáng chú ý trong nghị định:
Các loại tài sản công được phép sử dụng để thanh toán cho Nhà đầu tư bao gồm (Khoản 2 Điều 1):
Quỹ đất;
Đất, nhà và tài sản khác gắn liền với đất của cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân, cơ quan Đảng cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức khác được thành lập theo quy định của pháp luật về hội (cơ quan, tổ chức, đơn vị);
Tài sản kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công công cộng;
Các loại tài sản công khác theo quy định của Luật quản lý, sử dụng tài sản công.
Việc xác định giá trị đối với từng loại tài sản công
Quỹ đất: Giá trị quỹ đất thanh toán là tiền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất nộp một lần cho cả thời gian thuê (Khoản 1 Điều 6);
Đất, nhà và tài sản khác gắn liền với đất của cơ quan, tổ chức, đơn vị: Giá trị quyền sử dụng đất và giá trị tài sản trên đất (Khoản 1 Điều 9);
Tài sản kết cấu hạ tầng: Giá trị quyền khai thác tài sản kết cấu hạ tầng (Khoản 1 Điều 11);
Các loại tài sản công khác: Thực hiện theo quy định về quản lý, sử dụng tài sản công và các quy định khác liên quan (Điều 13).
Đối với các Hợp đồng BT được ký kết trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành việc thanh toán cho Nhà đầu tư được tiếp tục thực hiện theo nội dung Hợp đồng BT đã ký kết hoặc áp dụng các quy định của pháp luật liên quan để thực hiện (Điều 17).
Việc ban hành nghị định 69/2019/NĐ-CP đã tạo ra cơ sở pháp lý quan trọng trong việc thực hiện các Hợp đồng xây dựng – chuyển giao (Build – Transfer), là tiền đề để khuyến khích các Nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào hoạt động đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng của quốc gia cũng như thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.

Quy định mới về quan trắc công trình trong quá trình xây dựng
Trả lời

Ngày 16/08/2019, Bộ Xây Dựng đã ban hành Thông tư số 04/2019/TT-BXD sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Thông tư số 26/2016/TT-BXD ngày 26/10/2016 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng. Thông tư 04/2019/TT-BXD có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2019.
Theo đó, tại khoản 5, Điều 1 Thông tư 04/2019/TT-BXD bổ sung Điều 15a, Điều 15b vào sau Điều 15 Thông tư số 26/2016/TT- BXD, về việc quan trắc xây dựng công trình trong quá trình thi công xây dựng được thực hiện trong các trường hợp sau:
Thực hiện theo quy định của thiết kế xây dựng, chỉ dẫn kỹ thuật, biện pháp thi công đã được phê duyệt;
Thực hiện khi công trình có biểu hiện bất thường cần phải được quan trắc phục vụ việc đánh giá, xác định nguyên nhân để có biện pháp xử lý và ngăn ngừa sự cố công trình trong quá trình thi công xây dựng.
Nhà thầu thi công xây dựng công trình có trách nhiệm thực hiện công tác quan trắc trong các trường hợp trên và theo quy định của hợp đồng xây dựng với trách nhiệm như sau:
Lập đề cương quan trắc trình chủ đầu tư chấp nhận;
Tổ chức thực hiện quan trắc theo đề cương được chấp thuận; lập báo cáo và đánh giá kết quả quan trắc
Ngoài ra, chủ đầu tư có thể lựa chọn nhà thầu độc lập với nhà thầu thi công xây dựng để thực hiện một số công tác quan trắc trong quá trình thi công xây dựng công trình.
Việc ban hành Thông tư 04/2019/TT-BXD nhằm bổ sung quy định liên quan đến quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng, tạo ra sự quản lý chặt chẽ của cơ quan nhà nước trong việc giám sát chất lượng công trình, đồng thời nâng cao trách nhiệm của nhà thầu cũng như chủ đầu tư.

Nguyên tắc quản lý chi phí đầu tư xây dựng và trách nhiệm quản lý của chủ đầu tư
Trả lời

Ngày 14/08/2019, Chính phủ ban hành Nghị định 68/2019/NĐ-CP về quản lý chi phí đầu tư xây dựng. Nghị định này có hiệu lực từ ngày 01/10/2019.
Theo đó, tại Điều 3 của Nghị định 68/2019/NĐ-CP quy định về nguyên tắc quản lý chi phí đầu tư xây dựng và trách nhiệm quản lý của chủ đầu tư được ghi nhận như sau:
Quản lý chi phí đầu tư xây dựng phải bảo đảm mục tiêu đầu tư, hiệu quả dự án đã được phê duyệt, phù hợp với trình tự đầu tư xây dựng theo quy định tại khoản 1 Điều 50 Luật xây dựng, nguồn vốn sử dụng và hình thức đầu tư của dự án, phương thức thực hiện của dự án. Chi phí đầu tư xây dựng phải được tính đúng, tính đủ cho từng dự án, công trình, gói thầu xây dựng, phù hợp với yêu cầu thiết kế, chỉ dẫn kỹ thuật, điều kiện xây dựng, kế hoạch thực hiện dự án, mặt bằng giá thị trường tại khu vực xây dựng công trình và các biến động giá dự kiến trong quá trình đầu tư xây dựng.
Chủ đầu tư chịu trách nhiệm quản lý chi phí đầu tư xây dựng từ giai đoạn chuẩn bị dự án đến khi kết thúc xây dựng đưa công trình của dự án vào khai thác sử dụng và quyết toán vốn đầu tư xây dựng trong phạm vi tổng mức đầu tư của dự án được phê duyệt gồm cả trường hợp tổng mức đầu tư được điều chỉnh theo quy định tại Điều 7 Nghị định này. Chủ đầu tư được thuê tổ chức, cá nhân tư vấn quản lý chi phí đủ điều kiện năng lực theo quy định tại Nghị định về quản lý dự án đầu tư xây dựng để lập, thẩm tra, kiểm soát và quản lý chi phí đầu tư xây dựng.
Nghị định 68/2019/NĐ-CP áp dụng đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến quản lý chi phí đầu tư xây dựng các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước và vốn nhà nước ngoài ngân sách, dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP).

Bản Tin Pháp Luật Số 29/2019
Trả lời

Quy định về quản lý thông tin hoạt động kiểm định an toàn lao động trong thi công xây dựng công trình do Bộ trưởng Bộ Xây dựng ban hành
Trả lời

Ngày 30/07/2019, Bộ xây dựng đã ban hành Thông tư số 03/2019/TT-BXD sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 04/2017/TT-BXD ngày 30/03/2017 của Bội trưởng Bộ xây dựng quy định về quản lý an toàn lao động trong thi công xây dựng công trình, Thông tư sẽ có hiệu lực kể từ ngày 15/09/2019.
Theo đó, Thông tư 03/2019/TT-BXD về quản lý thông tin hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động trong thi công xây dựng công trình cụ thể như sau:
Đăng tải thông tin của tổ chức được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động trên phần mềm trực tuyến quản lý hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động (sau đây viết tắt là phần mềm) gồm: tên, địa chỉ, mã số của tổ chức kiểm định kỹ thuật an toàn lao động; danh mục các loại máy, thiết bị, vật tư đã được cấp trong Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động; ngày cấp, ngày hết hiệu lực Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động; các lỗi vi phạm của tổ chức kiểm định (nếu có).
Đăng tải thông tin của các cá nhân được cấp Chứng chỉ kiểm định viên trên phần mềm gồm: họ và tên; mã số kiểm định viên; số Chứng minh nhân dân/thẻ Căn cước công dân; danh mục máy, thiết bị, vật tư đủ điều kiện hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động; ngày cấp, ngày hết hiệu lực của Chứng chỉ kiểm định viên; các lỗi vi phạm của kiểm định viên (nếu có).
Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động được quy định như sau:
Địa chỉ truy cập phần mềm: http://cucgiamdinh.gov.vn/CSDL-kiem-dinh-duoc-cong-bo.aspx
Cơ quan chuyên môn có trách nhiệm xây dựng, đăng tải, cập nhật thông tin của tổ chức, cá nhân nêu trên vào phần mềm; hướng dẫn các tổ chức, cá nhân hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động sử dụng phần mềm;
Các tổ chức, cá nhân hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động được quyền sử dụng phần mềm trong hoạt động của mình để quản lý, triển khai hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động đối với máy, thiết bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động sử dụng trong thi công xây dựng.
Như vậy, Thông tư số 03/2019/TT-BXD đã sửa đổi và bổ sung quy định tại Điều 16 Thông tư 04/2017/TT-BXD theo hướng chi tiết và cụ thể hóa hơn đối với hoạt động đăng tải thông tin trên trang thông tin điện tử của Bộ xây dựng để tăng tính minh bạch cũng như thuận tiện cho việc kiểm tra, báo cáo rà soát của cơ quan nhà nước cũng như các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực kiểm định kỹ thuật an toàn lao động.

Quy định mới về việc thực hiện Quy tắc xuất xứ trong Hiệp định khu vực thương mại tự do Asean – Hàn Quốc
Trả lời

Ngày 31/07/2019 vừa qua, Bộ Công Thương vừa chính thức ban hành Thông tư số 13/2019/TT-BCT để thay thế Thông tư 04/2015/TT-BCT và sửa đổi bổ sung một số điều của Thông tư 20/2014/TT-BCT quy định về thực hiện Quy tắc xuất xứ trong Hiệp định khu vực thương mại tự do Asean – Hàn Quốc.
Theo đó, kể từ ngày 13/09/2019, thời điểm Thông tư 13/2019/TT-BCT chính thức có hiệu lực, Thủ tục cấp và kiểm tra C/O – chứng nhận xuất xứ theo mẫu A/K của Việt Nam sẽ được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 31/2018/NĐ-CP ngày 08/03/2018. Đồng thời Phụ lục II về Quy tắc cụ thể mặt hàng hóa cũng được điều chỉnh để phù hợp với Quyết định thông qua danh mục chuyển đổi hàng hóa đối với quy tắc cụ thể mặt hàng tại Tiểu phụ lục 2 thuộc Phụ lục 3 Quy tắc xuất xứ của Hiệp định Thương mại hàng hóa thuộc Hiệp định Khung về hợp tác kinh tế toàn diện giữa Chính phủ của các nước thành viên thuộc Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á và Chính phủ nước Đại Hàn Dân Quốc do Ủy ban thực thi Hiệp định Thương mại tự do ASEAN-Hàn Quốc (AKFTA-IC) lần thứ 17 ban hành tháng 02 năm 2019 tại Seoul, Hàn Quốc. Từ ngày 01/09/2019 đến hết ngày 31/12/2019, mã HS thể hiện trên C/O sẽ theo phiên bản HS 2017 và có thể hiện mã HS 2012 tương ứng trong ngoặc.
Như vậy với việc ban hành Thông tư 13/2019/TT-BCT vừa qua, Chính phủ Việt Nam đã tiến thêm một bước nữa trong việc thực hiện các cam kết trong Hiệp định thương mại hàng hóa giữa các nước thành viên ASEAN với Hàn Quốc, góp phần đầy mạnh việc giao thương hàng hóa trong nội khối ASEAN cũng như giữa Việt Nam với Hàn Quốc.