Nhiều ngân hàng tăng mạnh lãi suất huy động
Với mong muốn bổ sung thêm nguồn vốn trung, dài hạn để phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh cuối năm, đồng thời giảm...
Bùng nổ nhượng quyền thương hiệu vào Việt Nam
Hoạt động nhượng quyền đang được giới kinh doanh vận dụng để đưa các thương hiệu nước ngoài vào thị trường Việt Nam. Ngoài lĩnh...
6 ngành kinh tế phát triển mũi nhọn khu vực miền Trung
Có 6 lĩnh vực kinh tế biển, ven biển đang được các tỉnh miền Trung tập trung phát triển và đã đạt được những kết...
91.9% doanh nghiệp lạc quan về hoạt động sản xuất 6 tháng cuối năm
Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có tỷ lệ doanh nghiệp dự báo về khối lượng sản xuất khả...
Việt Nam chuyển dần từ nhập siêu sang xuất siêu với CPTPP
Với hầu hết các hiệp định thương mại (FTA) đã ký, Việt Nam thường nhập siêu, thì nay, khi thực hiện CPTTP, trong 7 tháng...
Giải đáp pháp luật
Điều kiện chuyển đổi từ đất trong lúa sang đất trồng cây hàng năm
Trả lời

Ngày 11/07/2019, Chính phủ ban hành Nghị định 62/2019/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 35/2015/NĐ-CP về quản lý, sử dụng đất trồng lúa. Nghị định này có hiệu lực từ ngày 01/09/2019.
Theo đó, điều kiện chuyển đổi từ đất trồng lúa sang trồng cây hàng năm là một trong những nội dung được điều chỉnh tại Nghị định 62/2019/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 35/2015/NĐ-CP về quản lý và sử dụng đất trồng lúa.
Nghị định mới quy định rõ ràng về các điều kiện chuyển đổi từ trồng lúa sang trồng cây hàng năm, cây lâu năm hoặc trồng lúa kết hợp nuôi trồng thủy sản, cụ thể như sau:
Không làm mất đi các điều kiện phù hợp để trồng lúa trở lại; không gây ô nhiễm, thoái hóa đất trồng lúa; không làm hư hỏng công trình giao thông, công trình thủy lợi phục vụ trồng lúa;
Phù hợp với kế hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ trồng lúa sang trồng cây hàng năm, cây lâu năm hoặc trồng lúa kết hợp nuôi trồng thủy sản trên đất trồng lúa của cấp xã, đảm bảo công khai, minh bạch;
Trường hợp trồng lúa kết hợp nuôi trồng thủy sản, cho phép sử dụng tối đa 20% diện tích đất trồng lúa để hạ thấp mặt bằng cho nuôi trồng thủy sản; độ sâu của mặt bằng hạ thấp không quá 120 cm khi cần thiết phải phục hồi lại được mặt bằng để trồng lúa trở lại;
Chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ trồng lúa sang trồng cây lâu năm phải theo vùng, để hình thành các vùng sản xuất tập trung và khai thác hiệu quả cơ sở hạ tầng sẵn có; phù hợp với định hướng hoàn thiện cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp của địa phương;
Nghị định số 62/2019/NĐ-CP áp dụng đối với đất trồng lúa, trên cơ sở chuyển đổi cơ cấu đất đai, việc điều chỉnh quy định về đất trồng lúa là cần thiết nhằm mục đích tập trung phát triển ở những vùng nhất định, hình thành vùng sản xuất tập trung hướng đến mục tiêu phát triển nông nghiệp của từng địa phương nói riêng và cả nước nói chung.

Hướng dẫn quản lý, sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa sử dụng dịch vụ tư vấn thuộc mạng lưới tư vấn viên
Trả lời

Ngày 21/8/2019, Bộ Chính trị ban hành Thông tư 54/2019/TT-BTC về hướng dẫn quản lý, sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa sử dụng dịch vụ tư vấn thuộc mạng lưới tư vấn viên có hiệu lực ngày 10/10/2019.
Theo đó, Thông tư 54/2019/TT-BTC có nội dung nổi bật như sau:
DNNVV sử dụng dịch vụ tư vấn thuộc mạng lưới tư vấn viên được ngân sách nhà nước hỗ trợ theo mức: Doanh nghiệp siêu nhỏ được hỗ trợ 100% giá trị hợp đồng tư vấn, nhưng không quá 03 triệu đồng một năm; Doanh nghiệp nhỏ được giảm tối đa 30% giá trị hợp đồng tư vấn, nhưng không quá 05 triệu đồng một năm; Doanh nghiệp vừa được giảm tối đa 10% giá trị hợp đồng tư vấn, nhưng không quá 10 triệu đồng một năm;
Trường hợp trong năm DNNVV đã sử dụng dịch vụ tư vấn thuộc mạng lưới tư vấn viên và được ngân sách nhà nước hỗ trợ nhưng giá trị hỗ trợ chưa vượt quá mức quy định nêu trên, DNNVV chỉ được hỗ trợ phần còn lại và phải báo cáo rõ nội dung này trong hồ sơ gửi đơn vị hỗ trợ DNNVV để xem xét, ra quyết định phê duyệt hỗ trợ tư vấn.
Như vậy, Thông tư 54/2019/TT-BTC đã hướng dẫn chi tiết việc quản lý, sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa sử dụng dịch vụ tư vấn thuộc mạng lưới tư vấn viên .

Quy định mới về tiền cấp quyền khai thác khoáng sản
Trả lời

Ngày 31/07/2019 vừa qua, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 67/2019/NĐ-CP quy định về phương pháp tính và mức thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản. Nghị định này có hiệu lực từ ngày 15/09/2019.
Theo đó, kể từ thời điểm ngày 15/09/2019, thời điểm Nghị định này có hiệu lực, mức thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản sẽ được xác định theo hệ số R được xác định là phần trăm giá trị quặng nguyên khoáng trong khu vực được phép khai thác. Hệ số R này được Nghị định 63/2019 quy định cụ thể hơn so với Nghị định 203/2013/NĐ-CP trước đây.
Nghị định cũng có quy định về phương thức và thời điểm nộp tiền cấp quyền khai thác khoáng sản. Căn cứ vào số tiền phải nộp và thời hạn được cấp phép khai thác, số tiền này có thể được nộp một lần cho cả thời gian cấp phép hoặc nộp nhiều lần. Thời điểm nộp tiền được chia làm hai kỳ ngày 31/05 và 31/10 hàng năm.
Ngoài ra, nghị định cũng có quy định về các trường hợp được hoàn lại khoản tiền cấp tiền khai thác khoảng sản mà Doanh nghiệp đã nộp.
Như vậy, với việc ban hành Nghị định 67/2019/NĐ-CP, Chính phủ đã có hành động nhằm siết chặt quản lý đối với lĩnh vực khai thác khoáng sản, đưa ra các quy định cụ thể, chi tiết hơn nhằm tránh thất thoát các khoản thu ngân sách Nhà Nước trong hoạt động khoáng sản.

Quy tắc xuất xứ hàng hóa trong hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện giữa hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á và nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
Trả lời

Ngày 30/07/2019, Bộ trưởng Bộ Công Thương ban hành Thông tư quy định Quy tắc xuất xứ hàng hóa trong Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện giữa Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á và nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Thông tư này có hiệu lực từ ngày 12/09/2019.
Theo đó, Thông tư này quy định quy tắc xuất xứ đối với hàng hóa như sau: hàng hóa được coi là có xuất xứ nếu đáp ứng được quy tắc:
Có xuất xứ thuần túy hoặc được sản xuất toàn bộ tại một Nước thành viên
Được sản xuất tại một Nước thành viên chỉ từ nguyên liệu có xuất xứ của một hay nhiều Nước thành viên.
Được sản xuất từ nguyên liệu không có xuất xứ tại một Nước thành viên với điều kiện hàng hóa đó đáp ứng các quy định:
Hàng hóa có hàm lượng giá trị khu vực (RVC) không thấp hơn 40% trị giá FOB và công đoạn sản xuất cuối cùng được thực hiện tại một Nước thành viên
Hàng hóa sử dụng nguyên liệu không có xuất xứ trải qua quá trình chuyển đổi mã số hàng hóa ở cấp độ 4 số (CTH) ( áp dụng đối với hàng hóa thuộc các Chương 25, 26, 28, 29, 31 và 39; từ Chương 42 đến Chương 49; từ Chương 57 đến Chương 59; các Chương 61, 62, 64; từ Chương 66 đến Chương 71; từ Chương 73 đến Chương 83; các Chương 86 và 88; từ Chương 91 đến Chương 97 của Hệ thống hài hòa mô tả và mã hóa hàng hóa)
Ngoài ra, xuất xứ hàng hóa áp dụng quy tắc De minimis: hàng hóa không đáp ứng tiêu chí chuyển đổi mã số hàng hóa (CTC) vẫn được coi là có xuất xứ nếu:
Trị giá của tất cả nguyên liệu không có xuất xứ không đáp ứng tiêu chí CTC được sử dụng để sản xuất ra hàng hóa không vượt quá 10% trị giá FOB của hàng hóa (áp dụng đối với hàng hóa không thuộc từ Chương 50 đến Chương 63 của Hệ thống hài hòa mô tả và mã hóa hàng hóa);
Trọng lượng của tất cả nguyên liệu không có xuất xứ không đáp ứng tiêu chí CTC được sử dụng để sản xuất ra hàng hóa không vượt quá 10% tổng trọng lượng hàng hóa; hoặc trị giá của tất cả nguyên liệu không có xuất xứ không đáp ứng tiêu chí CTC được sử dụng để sản xuất ra hàng hóa không vượt quá 10% trị giá FOB của hàng hóa (áp dụng đối với hàng hóa thuộc từ Chương 50 đến Chương 63 của Hệ thống hài hòa mô tả và mã hóa hàng hóa).
Thông tư số 12/2019/TT-BCT áp dụng đối với cơ quan, tổ chức cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O) và thương nhân, cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia các hoạt động có liên quan đến xuất xứ hàng hóa.

05 trường hợp DN nhỏ và vừa được xem xét xử lý rủi ro tín dụng
Trả lời

Ngày 26/08/2019 Thông tư 57/2019/TT-BTC hướng dẫn cơ chế xử lý rủi ro của Quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Thông tư 57/2019/TT-BTC có hiệu lực thi hành từ ngày 15/10/2019.
Theo đó, doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ được xem xét xử lý rủi ro trong 05 trường hợp sau:
Khách hàng bị thiệt hại về tài chính, tài sản gây ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh, dẫn đến không trả được nợ (gốc, lãi) đúng hạn theo Hợp đồng nhận nợ bắt buộc đã ký do các nguyên nhân như:
Thiên tai, mất mùa, dịch bệnh, hỏa hoạn;
Rủi ro chính trị, chiến tranh.
Khách hàng bị phá sản theo quy định hiện hành;
Khách hàng không trả được nợ (gốc, lãi) đúng hạn theo Hợp đồng nhận nợ bắt buộc đã ký do:
Nhà nước thay đổi chính sách làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng;
Gặp rủi ro do nguyên nhân khách quan khác ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng.
Khách hàng có khoản nợ xấu (từ nhóm 3 đến nhóm 5) theo kết quả phân loại nợ quy định tại Khoản 1 Điều 36 Nghị định 34/2018/NĐ-CP của Chính phủ.
Quy định nêu trên giúp làm xác định rõ hơn các trường hợp doanh nghiệp nhỏ và vừa được hỗ trợ xử lý rủi ro tín dụng, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển.

Sửa đổi, bổ sung một số nội dung về trình tư, thủ tục thanh tra chuyên ngành ngân hàng
Trả lời

Ngày 31/7/2019, Ngân hàng nhà nước Việt Nam đã ban hành Thông tư 10/2019/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số nội dung về trình tự, thủ tục thanh tra chuyên ngành ngân hàng được quy định trong Thông tư số 36/2016/TT-NHNN. Thông tư có hiệu lực từ ngày 16/9/2019.
Một số nội dung đáng chú ý trong Thông tư:
Bổ sung thêm Ngân hàng nhà nước chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh và Ngân hàng nhà nước chi nhánh Hà Nội vào đối tượng áp dụng của quy định về thanh tra chuyên ngành ngân hàng nhà nước (Khoản 1 Điều 1);
Sửa đổi, bổ sung quyền của Chánh Thanh tra ngân hàng nhà nước trong hoạt động thanh tra chuyên ngành:
Bổ sung thẩm quyền của Chánh Thanh tra: ra quyết định thanh tra đối với các đối tượng thanh tra ngân hàng thuộc phạm vi quản lý của Ngân hàng nhà nước. Được gom các cuộc thanh tra công tác phòng, chống tham nhũng, các cuộc thanh tra chuyên ngành lớn, phức tạp, các cuộc thanh tra lại hoặc khi xét thấy cần thiết (Khoản 3 Điều 1);
Sửa đổi về thẩm quyền được ra quyết định thanh tra lại của Chánh Thanh tra. Theo đó, Chánh Thanh tra không có quyền quyết định thanh tra lại với những vụ việc đã được Cục trưởng Cục thanh tra, giám sát ngân hàng kết luận (Khoản 3 Điều 1)
Sửa đổi về tiêu chuẩn của Trưởng đoàn thanh tra (Khoản 4 Điều 1).
Phải từ Trưởng phòng hoặc Thanh tra viên chính hoặc tương đương trở lên với những vụ việc phải được Thống đốc Ngân hàng nhà nước hoặc Chánh Thanh tra, giám sát ngân hàng cử Trưởng đoàn thanh tra.
Phải từ Phó Trưởng phòng hoặc Thanh tra viên trở lên với những vụ việc phải được Giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh, Cục trưởng Cục thanh tra, giám sát ngân hàng, Chánh Thanh tra, giám sát Ngân hàng Nhà nước chi nhánh cử Trưởng đoàn thanh tra.
Bổ sung nghĩa vụ của Trưởng đoàn thanh tra trong trường hợp tạm dừng việc thanh tra. Theo đó, trong trường hợp tạm dừng, Trưởng đoàn thanh tra phải ra văn bản thông báo gửi đối tượng thanh tra và báo cáo với người ra quyết định thanh tra (Khoản 5 Điều 1).
Việc ban hành Thông tư 10/2019/TT-NHNN đã khắc phục những điểm còn thiếu sót, chưa phù hợp của Thông tư 36/2016/TT-NHNN. Làm vững chắc cơ sở pháp lý khi tiến hành thanh tra chuyên ngành ngân hàng nhà nước cũng như quy định rõ trách nhiệm đối với các cá nhân, tổ chức khi thực thi nhiệm vụ.

Trích lập và xử lý các khoản dự phòng tại doanh nghiệp
Trả lời

Ngày 08/8/2019, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 48/2019/TT-BTC hướng dẫn việc trích lập và xử lý các khoản dự phòng tại doanh nghiệp. Thông tư 48/2019/TT-BTC (sau đây gọi tắt là “Thông tư”) có hiệu lực từ ngày 10/10/2019. Thông tư này làm hết hiệu lực 03 Thông tư trước đó là: Thông tư 228/2009/TT-BTC, Thông tư 34/2011/TT-BTC, Thông tư 89/2013/TT-BTC.
Tóm tắt một số điểm mới của Thông tư như sau:
Về việc trích lập dự phòng tổn thất các khoản Đầu tư tài chính:
Doanh nghiệp sẽ không được trích lập dự phòng rủi ro cho khoản đầu tư ra nước ngoài, chỉ được trích lập rủi ro đối với các khoản đầu tư tài chính trong nước. Cụ thể:
Tại Khoản 4 Điều 3 của Thông tư quy định: “Điều 3. Nguyên tắc chung trong trích lập các khoản dự phòng: …4. Doanh nghiệp không trích lập dự phòng rủi ro cho các khoản đầu tư ra nước ngoài.”
Tại Điểm a Khoản 1 Điều 5 của Thông tư quy định: “1. Các khoản đầu tư chứng khoán: a) Đối tượng lập dự phòng là các loại chứng khoán do các tổ chức kinh tế trong nước phát hành theo quy định của pháp luật chứng khoán mà doanh nghiệp đang sở hữu tại thời điểm lập báo cáo tài chính năm có đủ các điều kiện sau:- Là chứng khoán niêm yết hoặc đăng ký giao dịch trên thị trường chứng khoán trong nước mà doanh nghiệp đang đầu tư; – Là chứng khoán được tự do mua bán trên thị trường mà tại thời điểm lập báo cáo tài chính năm giá chứng khoán thực tế trên thị trường thấp hơn giá trị của khoản đầu tư chứng khoán đang hạch toán trên sổ kế toán.”
Về việc trích lập dự phòng nợ phải thu khó đòi:
Giống như quy định tại các văn bản trước đó, Thông tư vẫn quy định Biên bản đối chiếu công nợ là một trong những chứng từ để chứng minh cho số tiền là nợ chưa trả từ đó có cơ sở để doanh nghiệp trích lập quỹ dự phòng, tuy nhiên Thông tư này có bổ sung thêm: “trong trường hợp không có đối chiếu công nợ thì phải có văn bản đề nghị đối chiếu xác nhận công nợ hoặc văn bản đòi nợ do doanh nghiệp đã gửi (có dấu bưu điện hoặc xác nhận của đơn vị chuyển phát);” Đây là điểm mới, tháo gỡ lớn cho các trường hợp con nợ “không chịu” ký Biên bản đối chiếu công nợ với Doanh nghiệp khi mất khả năng thanh toán.
Ngoài ra, liên quan đến việc trích lập dự phòng nợ phải thu khó đòi, Thông tư đã quy định tách riêng doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ viễn thông, những doanh nghiệp này sẽ được áp dụng mức trích lập khác so với các doanh nghiệp thông thường.
Về việc trích lập dự phòng bảo hành sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ công trình xây dựng
Bổ sung loại hình “Dịch vụ” công trình xây dựng vào đối tượng được trích lập dự phòng, mà những văn bản trước đây chưa đề cập đến.
Từ những phân tích trên cho thấy Thông tư số 48/2019/TT-BTC đã đem lại những giá trị không hề nhỏ đối với Doanh nghiệp Việt Nam, giúp Doanh nghiệp Việt Nam tháo gỡ được rất nhiều khó khăn trong giải quyết các khoản thu có liên quan trực tiếp đến số thuế thu nhập doanh nghiệp phải đóng, đặc biệt đã có những quy định cụ thể hơn, khả thi hơn đối với quỹ dự phòng cho các khoản nợ phải thu khó đòi. Ngoài ra, Thông tư này cũng đã thống nhất lại toàn bộ những quy định trước đó hiện đang nằm rải rác tại nhiều văn bản khác nhau có liên quan đến trích quỹ dự phòng giảm giá hàng tồn kho, tổn thất các khoản đầu tư, nợ phải thu khó đòi và bảo hành sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, công trình xây dựng tại doanh nghiệp, điều này tạo điều kiện thuận lợi cho các Doanh nghiệp trong việc nắm bắt, hiểu rõ và vận dụng quy định này trên thực tế. Do đó, Thông tư này là cơ sở vững chắc để nhiều Doanh nghiệp có thể hạn chế được rủi ro và tối đa hóa lợi nhuận trong quá trình kinh doanh của mình.

Quyền nhập khẩu thuốc của nhà đầu tư nước ngoài
Trả lời

Ngày 30/6/2019, Việt Nam và Liên minh Châu Âu (EU) đã ký kết Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU. Dự kiến Hiệp định sẽ chính thức có hiệu lực sau khi cơ quan có thẩm quyền của hai bên phê chuẩn Hiệp định.
Tại Chương 2 của Hiệp định liên quan tới đối xử quốc gia và mở cửa thị trường đối với hàng hóa, Điều 2.15 quy định: “Việt Nam sẽ áp dụng và duy trì các văn kiện pháp lý phù hợp cho phép các công ty dược phẩm nước ngoài thành lập doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài để nhập khẩu dược phẩm mà đã có sự cho phép của cơ quan có thẩm quyền Việt Nam về việc tiếp thị, không làm ảnh hưởng tới Biểu cam kết của EU/VN/vn9 Việt Nam trong Phụ lục 8-B (Biểu cam kết cụ thể của Việt Nam), các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đó được phép bán dược phẩm được nhập khẩu hợp pháp cho các nhà phân phối hoặc nhà bán buôn mà có quyền phân phối dược phẩm tại Việt Nam”. Như vậy, nhà đầu tư nước ngoài từ EU có quyền thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam để nhập khẩu dược phẩm vào Việt Nam.
Theo quy định tại biểu cam kết dịch vụ của Việt Nam trong WTO cũng như EVFTA, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không được thực hiện quyền phân phối thuốc tại Việt Nam do nội dung phân phối dược phẩm được cả WTO lẫn EVFTA loại trừ ra khỏi phạm vi cam kết. Do đó, theo Điều 44.1(d) Luật dược 2016, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chỉ được nhập khẩu thuốc để bán cho các cơ sở phân phối thuốc.
Trước đây, Luật Dược 2005 không có quy định về việc doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được nhập khẩu thuốc. Ngoài ra theo Nghị định 102/2016/NĐ-CP, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chỉ được nhập khẩu thuốc khi có quyền phân phối thuốc, trong khi việc phân phối bị hạn chế đầu tư. Do đó theo Nghị định 102/2016/NĐ-CP và Luật Dược 2005, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không được nhập khẩu thuốc.
Tuy nhiên, hiện nay quy định về quyền nhập khẩu thuốc của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chỉ được quy định tại EVFTA mà các hiệp định thương mại tự do khác chưa hề có. Hơn nữa Luật Dược 2016 và văn bản hướng dẫn thi hành cũng chỉ quy định chung chung về cơ sở nhập khẩu không có quyền phân phối (hay nói cách khác là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện nhập khẩu). Vì thế, có thể thấy lĩnh vực nhập khẩu thuốc chỉ đang mở cửa đối với thị trường EU.

Bản Tin Pháp Luật Số 31/2019
Trả lời

Quản lý hoat động của phương tiện phục vụ vui chơi, giải trí dưới nước
Trả lời

Ngày 05/6/2019, Chính phủ đã ban hành Nghị định 48/2019/NĐ-CP quản lý hoat động của phương tiện phục vụ vui chơi, giải trí dưới nước. Nghị định có hiệu lực từ ngày 15/08/2019.
Một số nội dung đáng chú ý trong nghị định:
Định nghĩa phương tiện phục vụ vui chơi, giải trí dưới nước. Theo đó, phương tiện phục vụ vui chơi, giải trí dưới nước được hiểu là tàu, thuyền hoặc cấu trúc nổi khác được dùng để phục vụ vui chơi, giải trí dưới nước có sức chở không quá 05 người và hoạt động trong vùng hoạt động được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp nhận hoặc công bố (Khoản 1 Điều 3);
Phân chia vùng hoạt động vui chơi, giải trí thành 02 vùng, bao gồm:
Vùng 1: Là vùng nước trên tuyến đường thủy nội địa, vùng nước cảng biển hoặc khu vực hàng hải;
Vùng 2: Là vùng nước khác không thuộc vùng 1, được đánh dấu, xác định vị trí bằng phao hoặc cờ hiệu có màu sắc dễ quan sát (Điều 5).
Quy định các điều kiện đối với phương tiện, người lái phương tiện khi tham gia hoạt động vui chơi, giải trí dưới nước. Trong đó, phương tiện phải thực hiện đăng kiểm theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Người lái phương tiện vui chơi, giải trí dưới nước phải đủ 15 tuổi trở lên, mặc áo phao trong suốt quá trình điều khiển, trong một số trường hợp người lái phương tiện phải có Giấy chứng nhận lái phương tiện hoặc được hướng dẫn về kỹ năng an toàn trước khi điều khiển phương tiện (Điều 6).
Nêu rõ trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân khai thác vùng hoạt động và cung cấp các dich vụ vui chơi, giải trí dưới nước. Đáng chú ý là yêu cầu các tổ chức, cá nhân này chỉ được phép tổ chức hoạt động vui chơi, giải trí dưới nước trong thời gian quy định và phải có phương án bảo đảm an ninh, an toàn, cứu hộ, cứu nạn và ngăn ngừa ô nhiễm môi trường (Điều 7).
Ban hành thủ tục chấp thuận, cho phép hoạt động vùng vui chơi giải trí dưới nước và thủ tục đăng ký phương tiện vui chơi giải trí dưới nước (Chương III và Chương IV)
Việc ban hành nghị định 48/2019/NĐ-CP đã cụ thể hóa các quy định về đảm bảo an toàn cho hoạt động du lịch, vui chơi giải trí dưới nước. Là tiền đề của hoạt động quản lý nhà nước, góp phần đảm bảo an toàn cho khách du lịch cũng như tạo ra sân chơi công bằng cho các doanh nghiệp hoạt động dịch vụ vui chơi, giải trí dưới nước.