Ngày 09/9/2019, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã công bố 03 án lệ theo Quyết định số 293/QĐ-CA, trong đó có án lệ số 28/2019/AL về tội “Giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh”. Án lệ được áp dụng trong xét xử từ ngày 10/10/2019.
Một số nội dung đáng chú ý của án lệ số 28/2019/AL:
Tình huống án lệ: Bị hại đã thực hiện một chuỗi hành vi trái pháp luật tấn công bị cáo liên tục, kéo dài làm cho bị cáo bị ức chế tâm lý, kích động về tinh thần. Trong trạng thái bị mất khả năng tự chủ, bị cáo dùng dao đâm bị hại nhằm thoát khỏi sự tấn công. Bị cáo không nhận thức hết được tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi mà mình đã thực hiện. Hậu quả dẫn đến bị hại chết;
Bản án không thống nhất của Tòa án các cấp:
Bản ản hình sự sơ thẩm số 14/2017/HSST ngày 09/5/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt bị cáo 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh”
Bản án hình sự phúc thẩm số 200/2017/HSPT ngày 10/8/2017 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đã sửa bản án sơ thẩm về trách nhiệm hình sự, xử phạt bị cáo 07 (bảy) năm tù về tội “Giết người”.
Nhận định của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao:
Bị hại là người gây sự, tấn công bị cáo trước;
Hành vi tấn công của bị hại diễn ra liên tục với mức độ tăng dần
Hành vi của bị hại là trái pháp luật, xâm phạm sự an toàn về thân thể của bị cáo;
Trong trạng thái bị kích động dẫn đến mất khả năng tự chủ, không nhận thức hết được tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi của mình, bị cáo dùng dao đâm vào ngực bị hại là nhằm thoát khỏi sự tấn công;
Tòa án cấp phúc thẩm nhận định bị cáo bị kích động về tinh thần, nhưng chưa đến mức bị kích động mạnh, là chưa xem xét khách quan, toàn diện nguyên nhân, quá trình diễn biến của sự việc cũng như mức độ nghiêm trọng, liên tục của hành vi trái pháp luật của người bị hại, từ đó chuyển tội danh từ “Giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” sang “Giết người” đối với bị cáo là không đúng.
Việc công bố án lệ số 28/2019/AL của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã tạo nền tảng pháp lý quan trọng, thống nhất cách xác định tội danh đối với tội “Giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh”, góp phần đảm bảo công tác xét xử của Tòa án được công bằng, đúng người, đúng tội.
Ngày 30/8/2019, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 71/2019/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hóa chất và vật liệu nổ công nghiệp. Nghị định số 71/2019/NĐ-CP (sau đây gọi tắt là “Nghị định”) có hiệu lực từ ngày 15/10/2019. Nghị đinh này làm hết hiệu lực 02 Nghị định trước đó là: Nghị định số 163/2013/NĐ-CP và Nghị định số 115/2016/NĐ-CP.
Những điểm mới nổi bật của Nghị định:
Loại bỏ “phân bón” ra khỏi phạm vi điều chỉnh của Nghị định.
Chi tiết hơn đối tượng chịu sự điều chỉnh của Nghị định thay vì chỉ quy định chung chung là các tổ chức, cá nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài như các Nghị định trước đó. Đồng thời ghi nhận thêm đối tượng mới là Hộ kinh doanh sẽ được áp dụng như các quy định như đối với cá nhân.
Bổ sung thêm một số biện pháp khắc phục hậu quả mới như: Buộc hủy bỏ kết quả kiểm tra huấn luyện an toàn hóa chất của tổ chức, cá nhân hoạt động hóa chất; Buộc tái chế sản phẩm điện, điện tử sản xuất trong nước có hàm lượng hóa chất độc hại vượt quá giới hạn hàm lượng cho phép; Buộc tái chế chế phẩm diệt côn trùng, diệt khuẩn dùng trong lĩnh vực gia dụng và y tế còn có khả năng tái chế….
Số lượng các hành vi vi phạm trong lĩnh vực hóa chất nhiều hơn, cụ thể hơn và chi tiết hơn so với các Nghị định trước đó. Cụ thể: Đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực hóa chất được quy định tại 48 điều khoản, trong khi đó tại Nghị định cũ chỉ bao gồm 5 điều khoản (tăng 44 điều khoản).
Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính: Thống nhất tất cả những chủ thể có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đang nằm rải rác tại 2 Nghị định trước đó, cụ thể bao gồm: Chủ tịch ủy ban nhân dân các cấp; Thanh tra; Công an nhân dân; Hải quan; Quản lý thị trường; Bộ đội biên phòng; Cảnh sát biển Việt Nam.
Những giá trị mà Nghị định số 71/2019/NĐ-CP đem lại:
Gom tất cả các quy định trước đây điều chỉnh về vấn quản lý và xử phạt trong lĩnh vực hóa chất và vật liệu nổ công nghiệp nằm rời rạc tại các Nghị định và các Nghị định sửa đổi bổ sung gộp về một văn bản thống nhất.
Các quy định tại Nghị định được quy định theo hướng rõ ràng, có hệ thống hơn so với các Nghị định trước đó, điều này tạo điều kiện thuận lợi và dễ dàng hơn cho việc tra cứu, nắm bắt nội dung của văn bản, tăng hiệu quả áp dụng đồng thời cho thấy sự tiến bộ trong kỹ thuật lập pháp của nhà nước.
Quy định bổ sung nhiều quy định hơn để điều chỉnh các hành vi vi phạm trong lĩnh vực hóa chất và vật liệu nổ công nghiệp. Giúp tăng hiệu quả trong hoạt động quản lý nhà nước về lĩnh vực hóa chất và vật liệu nổ công nghiệp khi mà tình hình diễn biến của những vi phạm ngày càng nhiều và phức tạp, gây ra những thiệt hại vô cùng lớn cho xã hội từ việc vi phạm các quy định trong hoạt động bảo quản, sử dụng các hóa chất và vật liệu nổ công nghiệp không đảm bảo an toàn.
Ngày 03/09/2019, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Thông tư số 08/2019/TT-BVHTTDL quy định quy trình giám định tư pháp đối với sản phẩm văn hóa. Thông tư này có hiệu lực từ ngày 15/11/2019.
Theo đó, Thông tư này quy định quy trình giám định tư pháp để kết luận những vấn đề về chuyên môn văn hóa đối với sản phẩm văn hóa (trừ di vật, cổ vật và lĩnh vực quyền tác giả, quyền liên quan) theo trưng cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng hoặc theo yêu cầu của người yêu cầu giám định tư pháp. Cụ thể như sau:
Bước 1: Tiếp nhận yêu cầu, trưng cầu giám định
Người giám định tư pháp, tổ chức giám định tư pháp tiếp nhận trưng cầu, yêu cầu giám định kèm đối tượng giám định, tài liệu, đồ vật có liên quan (nếu có) để thực hiện giám định; trường hợp không đủ điều kiện giám định thì từ chối theo quy định của pháp luật.
Bước 2: Chuẩn bị thực hiện giám định
Người giám định tư pháp, tổ chức giám định tư pháp tiến hành nghiên cứu hồ sơ trưng cầu, yêu cầu và các quy định cụ thể của pháp luật có liên quan để chuẩn bị thực hiện giám định tư pháp (đồng thời lựa chọn giám định viên, phân công người chịu trách nhiệm và điều phối việc giám định). Khi cần làm rõ về nội dung và đối tượng giám định thì đề nghị người trưng cầu, yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan. Tổ chức giám định tiến hành giám định đối tượng bằng hình thức giám định tập thể (số lượng người giám định phải từ 03 người trở lên). Trường hợp cần thiết, người giám định tổ chức lấy kết quả xét nghiệm hoặc kết luận chuyên môn khác trước khi đưa ra đánh giá.
Bước 3: Thực hiện giám định
Người giám định tư pháp xem xét đối tượng giám định và các tài liệu liên quan để đưa ra nhận định chuyên môn về đối tượng giám định trên cơ sở: xem xét tổng thể nội dung sản phẩm văn hóa; xem xét các đặc điểm về hình dáng, kích thước, màu sắc, trang trí và các đặc điểm khác có liên quan của sản phẩm văn hóa.
Đối với đối tượng giám định không thể di chuyển hoặc khó di chuyển, người giám định phải tổ chức xem xét tại nơi lưu giữ của người yêu cầu, trưng cầu. Trường hợp này,việc tổ chức giám định phải được lập thành biên bản và được lưu trong hồ sơ giám định.
Bước 4: Đưa ra kết luận giám định
Căn cứ kết quả giám định tư pháp, kết quả xét nghiệm hoặc kết luận chuyên môn khác (nếu có), quy định của pháp luật có liên quan hoặc các chuẩn mực chung về văn hóa, người giám định tư pháp kết luận về đối tượng giám định.
Bước 5: Bàn giao kết luận giám định
Khi việc thực hiện giám định tư pháp hoàn thành, người giám định, tổ chức giám định tư pháp phải bàn giao Kết luận giám định cho người trưng cầu, yêu cầu giám định.
Bước 6: Lập hồ sơ, lưu giữ hồ sơ giám định
Người giám định, tổ chức giám định tư pháp có trách nhiệm lập hồ sơ giám định tư pháp đối với sản phẩm văn hóa theo quy định pháp luật.
Ngày 26/08/2019, Bộ Tài Chính ban hành Thông tư số 57/2019/TT-BTC quy định về việc hướng dẫn cơ chế xử lý rủi ro của Quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 15/10/2019.
Theo đó, tại Điều 13 Thông tư 57/2019/TT-BTC quy định về việc xử lý tài sản bảo đảm đối với các khoản nợ của bên được bảo lãnh tại Quỹ bảo lãnh tín dụng, cụ thể:
Quỹ bảo lãnh tín dụng được xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ khi:
a) Đối tượng xem xét là khách hàng gặp rủi ro do một trong các trường hợp xem xét rủi ro, cụ thể như sau:
Khách hàng bị thiệt hại về tài chính, tài sản do thiên tai, mất mùa, dịch bệnh, hỏa hoạn, rủi ro chính trị, chiến tranh gây ra ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh, dẫn đến khách hàng không trả được nợ (gốc, lãi) đúng hạn theo Hợp đồng nhận nợ bắt buộc đã ký.
Khách hàng bị phá sản theo quy định của pháp luật hiện hành.
Nhà nước thay đổi chính sách làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng, dẫn đến khách hàng không trả được nợ (gốc, lãi) đúng hạn theo Hợp đồng nhận nợ bắt buộc đã ký.
Khách hàng gặp rủi ro do nguyên nhân khách quan khác ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh, dẫn đến khách hàng không trả được nợ (gốc, lãi) đúng hạn theo Hợp đồng nhận nợ bắt buộc đã ký.
Khách hàng có khoản nợ xấu (từ nhóm 3 đến nhóm 5) theo kết quả phân loại nợ theo quy định tại khoản 1 Điều 36 Nghị định số 34/2018/NĐ-CP của Chính phủ.
Hoặc có thể theo thỏa thuận giữa Quỹ bảo lãnh tín dụng với khách hàng tại Hợp đồng nhận nợ bắt buộc và bên bảo đảm tại Hợp đồng bảo đảm khoản nhận nợ bắt buộc đã ký.
b) Khoản nợ của khách hàng đã được cơ cấu nợ, khoanh nợ, xóa nợ lãi hoặc chưa được cơ cấu nợ, khoanh nợ, xóa nợ lãi nhưng Quỹ bảo lãnh tín dụng thẩm định, đánh giá nếu áp dụng biện pháp cơ cấu nợ, khoanh nợ, xóa nợ lãi thì khách hàng cũng không trả được nợ gốc cho Quỹ bảo lãnh tín dụng theo đúng cam kết.
Đối với phần chênh lệch giữa số tiền thu về từ xử lý tài sản bảo đảm và giá trị sổ sách của khoản nợ (sau khi trừ đi các chi phí theo quy định của pháp luật), sẽ được xử lý như sau:
a) Trường hợp số tiền thu về từ xử lý tài sản bảo đảm cao hơn giá trị sổ sách của khoản nợ: Quỹ bảo lãnh tín dụng thực hiện xử lý đối với số dư theo thỏa thuận giữa Quỹ bảo lãnh tín dụng với khách hàng tại Hợp đồng nhận nợ bắt buộc và bên bảo đảm tại Hợp đồng bảo đảm khoản nhận nợ bắt buộc đã ký (nếu có);
b) Trường hợp số tiền thu về từ xử lý tài sản bảo đảm thấp hơn giá trị sổ sách của khoản nợ: Quỹ bảo lãnh tín dụng có trách nhiệm tiếp tục theo dõi, thu hồi đối với phần nợ còn lại (gốc, lãi) theo chế độ quy định hoặc xem xét áp dụng các biện pháp xử lý rủi ro khác theo quy định tại Thông tư này.
Việc ban hành Thông tư số 57/2019/TT-BTC nhằm tạo cơ sở, căn cứ cũng như việc tuân thủ pháp luật hoạt động xử lý tài sản bảo đảm đối với các khoản nợ của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Quỹ bảo lãnh tín dụng.
Ngày 15/08/2019, Chính phủ ban hành Nghị định 69/2019/ND-CP quy định về việc sử dụng tài sản công để thanh toán cho Nhà đầu tư khi thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình theo hình thức Hợp đồng Xây dựng – Chuyển giao (Dự án BT). Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 01/10/2019.
Theo đó, Điều 5 Nghị định 69/2019/NĐ-CP quy định về quỹ đất sử dụng để thanh toán cho nhà Đầu tư thực hiện dự án BT, cụ thể:
1. Quỹ đất thanh toán cho Nhà đầu tư áp dụng hình thức Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê theo quy định của pháp luật về đất đai.
2. Quỹ đất thanh toán cho Nhà đầu tư là đất chưa giải phóng mặt bằng hoặc đất đã hoàn thành giải phóng mặt bằng, đảm bảo đúng quy định sau:
a) Đất thuộc quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
b) Việc thu hồi đất đối với quỹ đất thanh toán cho Nhà đầu tư thực hiện Dự án BT phải tuân thủ đúng quy định của pháp luật về đất đai.
c) Trường hợp sử dụng quỹ đất đã hoàn thành giải phóng mặt bằng để thanh toán cho Nhà đầu tư thực hiện Dự án BT thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định trước khi quyết định chủ trương đầu tư Dự án.
Trên cơ sở đó, cơ quan nhà nước có thẩm quyền lựa chọn quỹ đất thanh toán cho Nhà đầu tư đảm bảo giá trị quỹ đất dự kiến thanh toán tương đương với giá trị Dự án BT được phê duyệt, trong đó:
Khi ký Hợp đồng BT, trường hợp chưa xác định được giá trị quỹ đất thực tế thì giá trị quỹ đất dự kiến thanh toán tương đương được xác định tại thời điểm ký Hợp đồng BT bằng (=) Diện tích quỹ đất dự kiến giao nhân (x) với Giá đất theo mục đích sử dụng mới tại Bảng giá đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành nhân (x) với Hệ số điều chỉnh giá đất để tính thu tiền sử dụng đất, thu tiền thuê đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành.
Khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quyết định giao đất, cho thuê đất thì thực hiện xác định giá trị quỹ đất thanh toán theo quy định tại Điều 6 Nghị định này.
Tóm lại, việc ban hành nghị định 69/2019/NĐ-CP đã tạo ra cơ sở pháp lý quan trọng trong việc thực hiện các Hợp đồng xây dựng – chuyển giao (Build – Transfer), là tiền đề để khuyến khích các nhà đầu tư tham gia vào hoạt động đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng của quốc gia cũng như thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.
Ngày 13/6/2019, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 51/2019/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động khoa học và công nghệ, chuyển giao công nghệ. Nghị định có hiệu lực kể từ ngày 01/08/2019.
Theo đó, Chính phủ vẫn giữ nguyên mức phạt tiền tối đa trong hoạt động khoa học và công nghệ, chuyển giao công nghệ đối với cá nhân là 50 triệu đồng, với tổ chức là 100 triệu đồng. Tuy nhiên, với mức phạt mới sẽ tăng lên với mỗi hành vi vi phạm cụ thể. Đối với trường hợp có hành vi gian lận, lừa dối để nhận được hỗ trợ, ưu đãi của Nhà nước theo quy định của pháp luật về chuyển giao công nghệ tương ứng, mức phạt tiền tối đa lên tới 40 triệu đồng, tăng thêm 10 triệu đồng so với quy định hiện hành.
Trường hợp cá nhân có hành vi chuyển giao công nghệ từ Việt Nam ra nước ngoài hoặc từ nước ngoài vào Việt Nam thuộc Danh mục công nghệ cấm chuyển giao sẽ bị phạt mức tối đa là 50 triệu đồng.
Đối với các hành vi vi phạm xảy ra trước thời điểm 01/08/2019 mà sau đó mới bị phát hiện hoặc đang xem xét, giải quyết thì áp dụng các quy định có lợi cho tổ chức, cá nhân.
Quy định mới của Chính phủ đã nâng cao trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân khi có hành vi vi phạm hành trong hoạt động khoa học công nghệ, chuyển giao công nghệ, nâng cao hơn nữa việc xây dựng môi trường lành mạnh trong lĩnh vực này.
Ngày 30/07/2019, Bộ xây dựng đã ban hành Thông tư số 03/2019/TT-BXD sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 04/2017/TT-BXD ngày 30/03/2017 của Bội trưởng Bộ xây dựng quy định về quản lý an toàn lao động trong thi công xây dựng công trình, Thông tư sẽ có hiệu lực kể từ ngày 15/09/2019.
Theo đó, Thông tư 03/2019/TT-BXD về quản lý thông tin hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động trong thi công xây dựng công trình cụ thể như sau:
Đăng tải thông tin của tổ chức được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động trên phần mềm trực tuyến quản lý hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động (sau đây viết tắt là phần mềm) gồm: tên, địa chỉ, mã số của tổ chức kiểm định kỹ thuật an toàn lao động; danh mục các loại máy, thiết bị, vật tư đã được cấp trong Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động; ngày cấp, ngày hết hiệu lực Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động; các lỗi vi phạm của tổ chức kiểm định (nếu có).
Đăng tải thông tin của các cá nhân được cấp Chứng chỉ kiểm định viên trên phần mềm gồm: họ và tên; mã số kiểm định viên; số Chứng minh nhân dân/thẻ Căn cước công dân; danh mục máy, thiết bị, vật tư đủ điều kiện hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động; ngày cấp, ngày hết hiệu lực của Chứng chỉ kiểm định viên; các lỗi vi phạm của kiểm định viên (nếu có).
Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động được quy định như sau:
Địa chỉ truy cập phần mềm: http://cucgiamdinh.gov.vn/CSDL-kiem-dinh-duoc-cong-bo.aspx
Cơ quan chuyên môn có trách nhiệm xây dựng, đăng tải, cập nhật thông tin của tổ chức, cá nhân nêu trên vào phần mềm; hướng dẫn các tổ chức, cá nhân hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động sử dụng phần mềm;
Các tổ chức, cá nhân hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động được quyền sử dụng phần mềm trong hoạt động của mình để quản lý, triển khai hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động đối với máy, thiết bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động sử dụng trong thi công xây dựng.
Như vậy, Thông tư số 03/2019/TT-BXD đã sửa đổi và bổ sung quy định tại Điều 16 Thông tư 04/2017/TT-BXD theo hướng chi tiết và cụ thể hóa hơn đối với hoạt động đăng tải thông tin trên trang thông tin điện tử của Bộ xây dựng để tăng tính minh bạch cũng như thuận tiện cho việc kiểm tra, báo cáo rà soát của cơ quan nhà nước cũng như các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực kiểm định kỹ thuật an toàn lao động.
Ngày 30/08/2019, Bộ Y Tế đã ban hành Thông tư số 25/2019/TT-BYT quy định về truy xuất nguồn gốc sản phẩm thực phẩm thuộc lĩnh vực quản lý của Bộ Y tế, Thông tư sẽ có hiệu lực kể từ ngày 16/10/2019
Theo đó, Thông tư 25/2019/TT-BYT quy định về truy xuất nguồn gốc sản phẩm thực phẩm thuộc lĩnh vực quản lý của Bộ Y Tế quy định về 05 yêu cầu đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm, cụ thể:
Lập hệ thống dữ liệu truy xuất nguồn gốc sản phẩm thực phẩm, lưu giữ đầy đủ thông tin về lô sản phẩm, nguồn gốc, xuất xứ, an toàn sản phẩm, nguyên liệu, quy trình sản xuất, chế biến, bảo quản và kinh doanh.
Lưu trữ và duy trì hệ thống dữ liệu thông tin này tối thiểu là 12 tháng kể từ ngày hết hạn sử dụng của lô sản phẩm, 24 tháng kể từ ngày sản xuất lô sản phẩm đối với dụng cụ, vật liệu chứa đựng, tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm và sản phẩm thực phẩm không yêu cầu bắt buộc ghi hạn sử dụng.
Truy xuất nguồn gốc sản phẩm theo quy định và báo cáo bằng văn bản kết quả thực hiện về cơ quan có thẩm quyền tối đa 05 ngày làm việc kể từ khi tự phát hiện hoặc nhận được thông tin cảnh báo của tổ chức, cá nhân hoặc yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.
Phân tích, xác định nguyên nhân gây mất an toàn đối với lô sản phẩm phải truy xuất. Trường hợp sản phẩm không đảm bảo an toàn phải thu hồi và xử lý.
Áp dụng hệ thống dữ liệu truy xuất nguồn gốc sản phẩm theo mã nhận diện khi có yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.
Như vậy, Thông tư số 25/2019/TT-BYT đã quy định rất rõ về yêu cầu và trách nhiệm của cơ sở sản xuất kin doanh thực phẩm để đảm bảo hoạt động truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Quy định này không những nâng cao và đảm bảo hiệu quả trong hoạt động sản xuất của các cơ sở kinh doanh thực phẩm mà còn đảm bảo hiệu quả trong hoạt động quản lý nguồn gốc sản phẩm thực phẩm lưu thông trên thi trường.
Ngày 29/8/2019, Bộ Tài chính đã Ban hành Chỉ thị số 01/CT-BTC về việc tăng cường công tác thu ngân sách phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ thu ngân sách và nhiệm vụ công tác quản lý thuế năm 2019. Chỉ thị có hiệu lực kể từ ngày 29/8/2019.
Theo đó, để đảm bảo ngành thuế hoàn thành nhiệm vụ thu ngân sách nhà nước năm 2019 được giao, Thủ trưởng cơ quan thuế các cấp tập trung một số nhiệm vụ trọng tâm như:
Tăng cường kiểm soát việc triển khai thanh tra, kiểm tra thuế các doanh nghiệp thuộc diện rủi ro cao về thuế, doanh nghiệp hoàn thuế lớn, …theo từng tuần, tháng, quý để bố trí nguồn lực thanh tra, kiểm tra.
Theo dõi, cập nhật kịp thời tình hình hoạt động của các doanh nghiệp; đặc biệt là doanh nghiệp lớn.
Đẩy mạnh công tác giám sát việc kê khai thuế của người nộp thuế để thu kịp thời các khoản thuế phát sinh.
Thực hiện quyết liệt các biện pháp đôn đốc thu hồi nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế như tổ chức rà soát, phân loại nợ, theo dõi, giám sát chặt chẽ các khoản nợ, tăng cường đôn đốc xử lý nợ chây ỳ,…
Phối hợp cơ quan quản lý đất đai, cơ quan tài chính ở địa phương rà soát lại việc thu nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuê mặt nước, đảm bảo thực hiện thu đầy đủ, kịp thời các khoản thu về đất phát sinh.
Việc tăng cường kỷ luật, kỷ cương chấp hành pháp luật về NSNN và trong thực thi công vụ, không gây phiền hà cho người nộp thuế; tiếp tục sắp xếp tổ chức, bộ máy, hợp nhất các chi cục thuế thành chi cục khu vực phải đảm bảo chặt chẽ, không ảnh hưởng đến nhiệm vụ được giao… cũng là những nhiệm vụ trọng tâm của ngành Thuế từ nay đến cuối năm được Bộ trưởng chỉ đạo tại văn bản này.