Ngày 01/10/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định 132/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 16/2016/NĐ-CP về quản lý và sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.
Theo đó, từ ngày 01/10/2018 việc kiểm soát chi và thanh toán nguồn vốn trên sẽ được áp dụng theo quy định hiện hành như với vốn ngân sách nhà nước, cụ thể:
Kho bạc nhà nước các cấp thực hiện việc kiểm soát hồ sơ thanh toán của dự án hoặc hợp phần dự án được ngân sách nhà nước cấp phát; dự án áp dụng cơ chế cấp phát một phần, vay lại một phần theo tỷ lệ và dự án vay lại của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Cơ quan cho vay lại được Bộ Tài chính ủy quyền thực hiện việc kiểm soát hồ sơ thanh toán của dự án hoặc hợp phần dự án áp dụng cơ chế vay lại toàn bộ.
Các khoản chi trước và sau của các dự án vay vốn ODA, vốn ưu đãi đều được cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, xác nhận tính hợp pháp, hợp lệ trước hoặc sau khi chủ dự án rút vốn thanh toán cho nhà thầu, người thụ hưởng.
Kiểm soát chi sau áp dụng với các trường hợp: thanh toán từ tài khoản tạm ứng cho nhà thầu, nhà cung cấp, trừ tài khoản tạm ứng do Bộ Tài chính là chủ tài khoản áp dụng kiểm soát chi trước. Chuyển tiền từ tài khoản tạm ứng sang tài khoản tạm giữ để thanh toán chi phí kiểm toán độc lập sau khi đóng tài khoản tạm ứng; chuyển tạm ứng từ tài khoản tạm ứng cho các tài khoản cấp hai đối với dự án có nhiều cấp quản lý.
Trong vòng 30 ngày kể từ ngày rút vốn thanh toán, chủ dự án phải hoàn tất hồ sơ thanh toán gửi cơ quan kiểm soát chi xác nhận để làm cơ sở thực hiện lần thanh toán kế tiếp. Trường hợp thấy cần thiết, chủ dự án có quyền thỏa thuận với nhà thầu áp dụng hình thức kiểm soát chi trước đối với các khoản chi và gửi cơ quan kiểm soát chi để phối hợp thực hiện.
Như vậy, có thể thấy, Nghị định số 132/2018/NĐ-CP được ban hành nhằm khắc phục những điểm bất cập sau hai năm thực hiện Nghị định số 16/2016/NĐ-CP, đặc biệt là trong hoạt động chi cho dự án dùng vốn vay ODA, vay ưu đãi, qua đó góp phần quản lý và sử dụng hiệu quả vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài.
Ngày 27/09/2018, Bộ Công thương đã ban hành Thông tư số 28/2018/TT-BCT quy định vận hành thị trường phát điện cạnh tranh. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 15/11/2018.
Theo đó, Thông tư số 28/2018/TT-BCT có những nội dung mới đáng chú ý cụ thể như sau:
1. Về các loại hình nhà máy điện tham gia thị trường điện:
– Nhà máy điện có công suất đặt lớn hơn 30 MW, đầu nối vào hệ thống điện quốc gia có trách nhiệm tham gia thị trường điện chậm nhất sau 30 ngày tính từ ngày vận hành;
– Nhà máy điện có công suất đặt đến 30 MW, đầu nối lưới điện cấp điện áp từ 110 kV trở lên được quyền lựa chọn tham gia thị trường điện;
– Các nhà máy điện không tham gia thị trường điện gồm: Nhà máy điện BOT; Nhà máy điện sử dụng năng lượng tái tạo không phải thủy điện; Nhà máy điện thuộc khu công nghiệp chỉ bán một phần sản lượng lên hệ thống điện quốc gia.
2. Về thủ tục đăng ký tham gia thị trường điện:
– Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày vận hành thương mại, đơn vị phát điện có trách nhiệm hoàn thiện đầy đủ hồ sơ đăng ký tham gia thị trường điện.
– Hồ sơ đăng ký tham gia tham gia thị trường điện gồm:
+ Bản đăng ký tham gia thị trường điện;
+ Bản sao giấy phép hoạt động điện lực trong lĩnh vực phát điện;
+ Tài liệu nghiệm thu đưa vào vận hành các hệ thống;
+ Bản sao Hợp đồng mua bán điện;
+ Bản sao Biên bản thống nhất đơn vị chào giá thay cho nhóm nhà máy thủy điện bậc thang.
Như vậy, có thể thấy, Nhà nước đang ngày càng hoàn thiện hơn các quy định của pháp luật về lĩnh vực hoạt động khai thác, kinh doanh điện – năng lượng, góp phần thu hút đầu tư của các nhà đầu tư tiềm năng vào lĩnh vực này; đồng thời, thúc đẩy ngành kinh tế ngày một phát triển.
Ngày 01/10/2018, Bộ Công thương đã ban hành Thông tư số 30/2018/TT-BCT quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 107/2018/NĐ-CP ngày 15/08/2018 của Chính phủ về kinh doanh xuất khẩu gạo. Thông tư này sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 15/11/2018.
Theo đó, Thông tư số 30/2018/TT-BCT quy định các loại báo cáo mà thương nhân kinh doanh xuất khẩu gạo phải thực hiện bao gồm:
– Báo cáo tình hình ký kết và thực hiện hợp đồng xuất khẩu gạo theo mẫu tại Phụ lục I Thông tư 30 vào ngày 20 hàng tháng;
– Báo cáo về lượng thóc, gạo thực tế tồn kho theo từng chủng loại cụ thể để tổng hợp số liệu phục vụ công tác điều hành theo mẫu tại Phụ lục II Thông tư 30 vào thứ 5 hàng tuần;
– Báo cáo định kỳ hàng quý trước ngày 20 của tháng đầu quý kế tiếp, báo cáo định kỳ hàng năm trước ngày 20/01 của năm kế tiếp cho Bộ Công Thương theo Mẫu số 04 lục kèm theo Nghị định số 107/2018/NĐ-CP;
– Báo cáo đột xuất quy định tại khoản 4 Điều 24 Nghị định số 107/2018/NĐ-CP theo yêu cầu của Bộ Công Thương về tình hình thị trường xuất khẩu, tình hình sản xuất, giá thóc gạo, tình hình sản xuất kinh doanh.
Như vậy, bằng việc quy định rõ về các loại báo cáo mà thương nhân kinh doanh xuất khẩu gạo phải thực hiện, Bộ Công thương đã định hướng xây dựng nên bộ khung pháp lý nhằm đảm bảo các hoạt động của các thương nhân được thực hiện trong khuôn khổ mà pháp luật cho phép, qua đó tăng cường hiệu quả của hoạt động quản lý Nhà nước trong lĩnh vực này.
Ngày 27/09/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 130/2018/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành luật giao dịch điện tử về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số. Nghị định này sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 15/11/2018.
Theo đó, Nghị định số 130/2018/NĐ-CP quy định về điều kiện cấp phép kinh doanh dịch vụ chứng thực chữ ký số, cụ thể như sau:
1. Điều kiện về chủ thể: đơn vị xin cấp phép phải doanh nghiệp thành lập theo pháp luật Việt Nam
2. Điều kiện về tài chính:
– Doanh nghiệp ký quỹ tại một ngân hàng thương mại hoạt động tại Việt Nam không dưới 05 (năm) tỷ đồng để giải quyết các rủi ro và các khoản đền bù có thể xảy ra trong quá trình cung cấp dịch vụ do lỗi của tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng và thanh toán chi phí tiếp nhận và duy trì cơ sở dữ liệu của doanh nghiệp trong trường hợp bị thu hồi giấy phép;
– Doanh nghiệp nộp phí dịch vụ duy trì hệ thống kiểm tra trạng thái chứng thư số đầy đủ (trong trường hợp cấp lại giấy phép).
3. Điều kiện về nhân sự:
– Doanh nghiệp phải có nhân sự chịu trách nhiệm: Quản trị hệ thống, vận hành hệ thống và cấp chứng thư số, bảo đảm an toàn thông tin của hệ thống. Nhân sự phải có bằng đại học trở lên, chuyên ngành an toàn thông tin hoặc công nghệ thông tin hoặc điện tử viễn thông.
4. Điều kiện về kỹ thuật:
– Thiết lập hệ thống thiết bị kỹ thuật đảm bảo các yêu cầu theo đúng quy định;
– Có phương án kỹ thuật đáp ứng các yêu cầu đảm bảo an toàn hệ thống thông tin và các quy chuẩn kỹ thuật và tiêu chuẩn bắt buộc áp dụng;
– Có các phương án kiểm soát sự ra vào trụ sở, quyền truy nhập hệ thống;
– Có các phương án dự phòng đảm bảo duy trì hoạt động an toàn, liên tục;
– Có trụ sở, nơi đặt máy móc, thiết bị phù hợp.
Có thể thấy, Nghị định số 130/2018/NĐ-CP đã có những quy định cụ thể và chi tiết về điều kiện cấp phép kinh doanh dịch vụ chứng thực chữ ký số, góp phần giúp các doanh nghiệp có cái nhìn tổng thể, đầy đủ và chính xác hơn, từ đó có những sự chuẩn bị tốt hơn trước khi tiến hành các hoạt động xin giấy phép cũng như việc kinh doanh trong lĩnh vực này.
Ngày 29/09/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 131/2018/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ủy ban quản lý vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.
Theo đó Nghị định số 131/2018/NĐ-CP có những nội dung mới đáng chú ý cụ thể như sau:
Thứ nhất, thành lập Ủy ban quản lý vốn Nhà nước (“Ủy ban”) với tên giao dịch quốc tế là Commission for the Management of State Capital at Enterprises, viết tắt là CMSC. Ủy ban cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện quyền, trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ phần vốn góp.
Thứ hai, Ủy ban có các trách nhiệm, nhiệm vụ, quyền hạn như sau:
– Xây dựng và triển khai chiến lược tổng thể đầu tư phát triển doanh nghiệp sau khi được Chính phủ chấp thuận;
– Xây dựng và triển khai kế hoạch hoạt động dài hạn, 05 năm và hằng năm của Ủy ban và các chương trình theo quy định của pháp luật sau khi được Chính phủ chấp thuận;
– Thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan đại diện chủ sở hữu theo quy định của pháp luật như: Đề xuất ban hành, sửa đổi, bổ sung điều lệ của doanh nghiệp nhà nước; tham mưu trong quyết định đầu tư vốn nhà nước để thành lập doanh nghiệp; Chủ trì, phối hợp với cơ quan chuyên môn trong việc quyết định tổ chức lại, chuyển đổi sở hữu, giải thể và yêu cầu phá sản doanh nghiệp hoặc chiến lược, kế hoạch đầu tư phát triển và kế hoạch sản xuất, kinh doanh 05 năm của doanh nghiệp; đề xuất ban hành, sửa đổi, bổ sung Quy chế quản lý tài chính của doanh nghiệp …
– Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thuộc Chính phủ theo quy định của pháp luật;
– Chịu trách nhiệm về hiệu quả sử dụng, bảo toàn và gia tăng tổng giá trị danh mục vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp được giao quản lý.
– Công khai, minh bạch trong đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại các doanh nghiệp;
– Thực hiện việc báo cáo, giải trình trước cơ quan có thẩm quyền về đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại các doanh nghiệp;
Có thể nhận thấy thực trạng rằng trong những năm qua tình trạng sử dụng vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp chưa được quản lý chặt chẽ, dẫn đến tình trạng sử dụng vốn Nhà nước không hiệu quả, gây thất thoát, thâm hụt ngân sách Nhà nước đồng thời xảy ra nhiều tình trạng tham nhũng, lạm dụng phần vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp tại nhiều vụ án trọng điểm như Vinashin, Ocean bank, PVN … Chính vì vậy, việc thành lập Ủy ban quản lý vốn Nhà nước với những nhiệm vụ, trách nhiệm cụ thể là một bước tiến mới trong việc tăng cường hiệu quả quản lý phần vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp hiện nay.
Ngày 24/09/2018, Thủ tướng chính phủ ban hành Quyết định số 1227/QĐ-TTg ban hành kế hoạch triển khai thi hành luật cạnh tranh. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.
Theo đó, Quyết định số 1227/QĐ-TTg quy định về triển khai kế hoạch triển khai thi hành Luật Cạnh tranh cụ thể như sau:
– Tổ chức quán triệt, tập huấn, tuyên truyền, phổ biến nội dung của Luật và các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật;
– Tổ chức rà soát nội dung các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến cạnh tranh; tự mình hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền kịp thời sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc ban hành mới văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm sự thống nhất trong hệ thống pháp luật về cạnh tranh. Tổ chức rà soát nội dung các văn bản cá biệt, văn bản chỉ đạo điều hành, chủ trương, chính sách có liên quan tới cạnh tranh, các quyết định hành chính nhằm đảm bảo không chứa đựng các nội dung trái với quy định của Luật;
– Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết các nội dung được giao trong Luật;
– Xây dựng, biên soạn các bộ sách, tài liệu thống nhất về pháp luật cạnh tranh phục vụ cho công tác tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật cho đối tượng là học sinh, sinh viên trong các nhà trường, cơ sở đào tạo.
Như vậy, với kế hoạch triển khai nêu trên Quyết định số 1227/QĐ-TTg của Chính phủ đã và đang hướng tới việc tuyên truyền, phổ biến và áp dụng Luật cạnh tranh một cách đồng bộ, thống nhất.
Ngày 19/09/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 124/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 63/2011/NĐ-CP ngày 28/07/2011 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trọng tài Thương mại. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.
Theo đó, Nghị định số 124/2018/NĐ-CP có những sửa đổi, bổ sung quan trọng đáng chú ý, cụ thể như sau:
– Bãi bỏ điểm d khoản 1 Điều 8: Loại bỏ thành phần hồ sơ đăng ký hoạt động của Trung tâm trọng tài về giấy tờ chứng minh trụ sở hoạt động của trung tâm trọng tài;
– Bãi bỏ thành phần trong hồ sơ đăng ký hoạt động của Chi nhánh trung tâm trọng tài tại điểm đ, khoản 1 Điều 10: Giấy tờ chứng minh về trụ sở của Chi nhánh;
– Sửa điểm đ, khoản 1 Điều 21 đối với hồ sơ thành lập chi nhánh trung tâm trọng tài đã loại bỏ thành phần hồ sơ là Quyết định cử trọng tài viên làm Trưởng chi nhánh;
– Bãi bỏ thành phần hồ sơ thành lập chi nhánh gồm: Bản sao có chứng thực giấy tờ chứng minh việc thành lập hợp pháp của tổ chức trọng tài nước ngoài do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của nước ngoài cấp; Bản giới thiệu về hoạt động của Tổ chức trọng tài nước ngoài; Danh sách trọng tài viên, nhân viên dự kiến làm việc tại Chi nhánh;
– Sửa đổi Khoản 3 Điều 21, quy định về hồ sơ thành lập văn phòng đại diện hiện chỉ còn 02 loại tài liệu sau: Đơn đề nghị thành lập Văn phòng đại diện; Bản sao có chứng thực Điều lệ của Tổ chức trọng tài nước ngoài;
– Bãi bỏ điểm b, điểm d khoản 2 Điều 22 về thành phần hồ sơ đăng ký hoạt động Chi nhánh, thông báo việc thành lập Văn phòng đại diện của Tổ chức trọng tài nước ngoài tại Việt Nam: Giấy tờ chứng minh về trụ sở của Chi nhánh; Quyết định về việc cử Trưởng Chi nhánh.
Có thể thấy, các nội dung đã được bãi bỏ, sửa đổi theo Nghị định này sẽ góp phần đơn giản hóa hồ sơ đăng ký hoạt động cho các trung tâm trọng tài thương mại, góp phần tạo điều kiện để các tổ chức đăng ký hoạt động trung tâm trọng tài dễ dàng hoàn thiện thủ tục theo quy định của pháp luật. Đồng thời, góp phần thu hút nhiều Trung tâm trọng tài nước ngoài đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện trên lãnh thổ Việt Nam, góp phần giúp các bên tranh chấp có nhiều lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp.
Ngày 14/08/2018, Bộ Tài nguyên môi trường đã ban hành Thông tư số 03/2018/TT-BTNMT sửa đổi, bãi bỏ một số quy định về thủ tục hành chính liên quan đến kiểm tra chuyên ngành thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của bộ tài nguyên và môi trường, trong đó có thủ tục cấp Giấy xác nhận đủ điều kiện về Bảo vệ môi trường trong nhập khẩu phế liệu. Thông tư này sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2018.
Theo đó, Thông tư số 03/2018/TT-BTNMT có những sửa đổi, bổ sung quan trọng về thủ tục cấp Giấy xác nhận đủ điều kiện bảo vệ môi trường trong nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất, cụ thể như sau:
– Trong hồ sơ đề nghị cấp giấy xác nhận đối với cá nhân, tổ chức trực tiếp sử dụng phế liệu nhập làm nguyên liệu sản xuất (gọi chung là hồ sơ), chỉ quy định một báo cáo các điều kiện về bảo vệ môi trường trong nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất thay vì phải có bảy báo cáo như trước đây;
– Không còn yêu cầu phải có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, giấy chứng nhận đăng ký mã số thuế phải có trong hồ sơ đề nghị cấp Giấy xác nhận đủ điều kiện về Bảo vệ môi trường trong nhập khẩu phế liệu;
– Tổ chức cá nhân được phép nhập khẩu phế liệu có thể nộp hồ sơ trên Cổng thông tin một cửa quốc gia;
– Thời hạn của giấy xác nhận đủ điều kiện về bảo vệ môi trường trong nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất được Bộ Tài nguyên – Môi trường được cấp tăng từ 02 năm lên 03 năm kể từ ngày cấp.
Bằng những quy định chi tiết và cụ thể, Thông tư số 03/2018/TT-BTNMT được kỳ vọng sẽ tạo điều kiện thuận lợi về nhiều mặt cho các cá nhân, tổ chức có dự định trực tiếp sử dụng phế liệu nhập làm nguyên liệu sản xuất, đồng thời cũng góp phần vào công cuộc cải cách thủ tục hành chính quốc gia.
Ngày 23/08/2018 Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã ban hành Quyết định số 3346/QĐ-BNN-TCCB điều chỉnh phân công nhiệm vụ kiểm tra chuyên ngành đối với một số sản phẩm, hàng hóa nhập khẩu trước thông quan thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Quyết định này sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2018.
Theo đó, Quyết định số 3346/QĐ-BNN-TCCB điều chỉnh phân công nhiệm vụ kiểm tra chuyên ngành đối với một số sản phẩm, hàng hóa chi tiết như sau:
1. Cục Bảo vệ thực vật:
– Thực hiện đồng thời kiểm dịch và kiểm tra chất lượng thức ăn chăn nuôi, thức ăn thủy sản có nguồn gốc thực vật nhập khẩu trước thông quan theo quy định của pháp luật;
– Thực hiện kiểm dịch kén tằm, côn trùng theo quy định của pháp luật.
2. Cục Thú y: Thực hiện đồng thời kiểm dịch và kiểm tra chất lượng thức ăn chăn nuôi, thức ăn thủy sản có nguồn gốc động vật nhập khẩu trước thông quan theo quy định pháp luật.
Có thể thấy, Quyết định số 3346/QĐ-BNN-TCCB được ban hành nhằm tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan ban ngành trong việc quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa trước khi thông quan, cũng như phân chia rõ thẩm quyền giải quyết khi thực hiện các thủ tục hành chính trong lĩnh vực này.