Ngày 07/9/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 116/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09/06/2015 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn. Nghị định này sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 25/10/2018.
Theo đó, Nghị định số 116/2018/NĐ-CP có những nội dung mới đáng chú ý cụ thể như sau:
Thứ nhất, xác định cụ thể chủ thể đứng tên hợp đồng vay vốn ngân hàng của hộ kinh doanh, cụ thể như sau:
– Vì hộ kinh doanh không có tư cách pháp nhân khi tham gia giao dịch vay vốn, do đó, các thành viên của hộ kinh doanh là chủ thể tham gia xác lập, thực hiện giao dịch vay vốn hoặc;
– Các thành viên có thể ủy quyền cho người đại diện tham gia xác lập, thực hiện giao dịch vay vốn này, việc ủy quyền phải được lập thành văn bản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác;
– Khi có sự thay đổi người đại diện thì phải thông báo cho bên tham gia quan hệ vay vốn biết;
– Trường hợp thành viên của hộ kinh doanh không được các thành viên khác ủy quyền làm người đại diện thì thành viên đó là chủ thể của quan hệ vay vốn do mình xác lập, thực hiện.
Thứ hai, tăng mức vay đối với cá nhân, hộ gia đình được tổ chức tín dụng cho vay không có tài sản bảo đảm, cụ thể:
– Tối đa 100 triệu đồng đối với cá nhân, hộ gia đình cư trú ngoài khu vực nông thôn có hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp (trừ trường hợp nêu tại điểm c khoản 2 Điều này);
– Tối đa 200 triệu đồng đối với cá nhân, hộ gia đình cư trú tại địa bàn nông thôn
Thứ ba, tăng cường chính sách tín dụng khuyến khích sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao:
– Dự án, phương án sản xuất kinh doanh trong khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao được tổ chức tín dụng xem xét cho vay không có tài sản bảo đảm tối đa bằng 70% giá trị của dự án, phương án;
– Doanh nghiệp chưa được cấp giấy chứng nhận doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao nhưng có dự án, phương án sản xuất kinh doanh ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp không thuộc khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao được tổ chức tín dụng xem xét cho vay không có tài sản bảo đảm tối đa bằng 70% giá trị của dự án, phương án.
Như vậy, Nghị định số 116/2018/NĐ-CP đã quy định nhiều chính sách tín dụng ưu đãi để thúc đẩy hoạt động phát triển nông nghiệp, nông thôn; đặc biệt là khuyến khích sản xuất nông nghiệp theo mô hình liên kết, sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.
Ngày 31/07/2018, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 30/2018/QĐ-TTg quy định trình tự, thủ tục xác nhận hàng hóa sử dụng trực tiếp cho phát triển hoạt động ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp khoa học và công nghệ, đổi mới công nghệ; phương tiện vận tải chuyên dùng trong dây chuyền công nghệ sử dụng trực tiếp cho hoạt động sản xuất của dự án đầu tư. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/09/2018.
Theo đó, hồ sơ đề nghị xác nhận hàng hóa sử dụng trực tiếp cho phát triển hoạt động ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp khoa học và công nghệ, đổi mới công nghệ bao gồm:
– Văn bản đề nghị xác nhận;
– Thuyết minh về hàng hóa thuộc Danh mục hoặc đáp ứng tiêu chí theo quy định của Bộ Khoa học và Công nghệ về hàng hóa sử dụng trực tiếp cho phát triển hoạt động ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp khoa học và công nghệ hoặc đổi mới công nghệ;
– Hợp đồng mua bán hoặc hợp đồng ủy thác (bản sao có chứng thực hoặc bản sao xuất trình kèm bản chính để đối chiếu) hoặc các tài liệu khác liên quan để xác định giao dịch mua bán, nhập khẩu;
– Các giấy tờ khác như:
+ Bản sao có chứng thực (hoặc bản sao xuất trình kèm bản chính để đối chiếu): Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (nếu có);
+ Danh mục máy móc, thiết bị, phụ tùng, vật tư để thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ của cơ sở ươm tạo công nghệ, cơ sở ươm tạo doanh nghiệp khoa học và công nghệ (đối với trường hợp đề nghị xác nhận hàng hóa là máy móc, thiết bị, phụ tùng, vật tư chuyên dùng sử dụng trực tiếp cho phát triển hoạt động ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp khoa học và công nghệ);
+ Danh mục máy móc, thiết bị để thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ hoặc dự án đầu tư đổi mới công nghệ (đối với trường hợp đề nghị xác nhận hàng hóa là máy móc, thiết bị chuyên dùng sử dụng trực tiếp cho đổi mới công nghệ).
Về trình tự, thủ tục xác nhận, tổ chức, cá nhân lập một bộ hồ sơ theo quy định nêu trên gửi trực tiếp hoặc qua đường bưu điện về UBND tỉnh, thành phố nơi có dự án, cơ sở ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp khoa học và công nghệ hoặc về bộ chủ quản dự án, cơ sở ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp khoa học và công nghệ.
Nếu hồ sơ không hợp lệ, cần bổ sung hoặc sửa đổi, tổ chức, cá nhân sẽ nhận được thông báo của cơ quan có thẩm quyền, trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ. Chậm nhất 10 ngày, kể từ ngày nhận hồ sơ hợp lệ, cơ quan có thẩm quyền phải có văn bản trả lời về việc xác định rõ danh mục hàng hóa trực tiếp sử dụng hoặc văn bản từ chối xác nhận cho tổ chức, cá nhân.
Có thể thấy, Quyết định số 30/2018/QĐ-TTg đã có những hướng dẫn chi tiết và cụ thể về thủ tục xác nhận hàng hóa sử dụng cho đổi mới công nghệ, qua đó, tạo điều kiện cho các cá nhân, tổ chức khi thực hiện các thủ tục này được thuận lợi, chính xác và nhanh chóng, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong lĩnh vực này.
Ngày 30/07/2018, Bộ Giao thông vận tải ban hành Thông tư số 41/2018/TT-BGTVT quy định Danh mục sản phẩm hàng hóa có khả năng gây mất an toàn toàn thuộc trách nhiệm quản lý nhà nước của Bộ Giao thông vận tải. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/9/2018.
Theo đó, Thông tư số 41/2018/TT-BGTVT áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh, thiết kế, thi công, xây dựng các sản phẩm, hàng hóa có khả năng gây mất an toàn thuộc trách nhiệm quản lý nhà nước của Bộ Giao thông vận tải. Tổ chức cá nhân liên quan đến hoạt động quản lý, đánh giá chất lượng sản phẩm, hàng hóa có khả năng gây mất an toàn thuộc trách nhiệm quản lý nhà nước của Bộ Giao thông vận tải.
Kèm theo Thông tư số 41/2018/TT-BGTVT, Bộ Giao thông vận tải đã ban hành Danh mục sản phẩm hàng hóa có khả năng gây mất an toàn với tổng số 194 loại. Cụ thể:
– Danh mục sản phẩm, hàng hóa phải chứng nhận trước khi thông quan (đối với hàng hóa nhập khẩu) và trước khi đưa ra thị trường (đối với sản phẩm, hàng hóa sản xuất, lắp ráp) gồm có 31 loại sản phẩm, hàng hóa, bao gồm:
+ Lĩnh vực phương tiện giao thông đường bộ: Ô tô, rơ moóc và sơ mi rơ moóc (15 loại); xe mô tô (01 loại), xe máy chuyên dùng (11 loại);
+ Lĩnh vực đường sắt: 04 loại.
Đối với 31 sản phẩm, hàng hóa thuộc danh mục này nếu nhập khẩu phải được chứng nhận phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia tương ứng trước khi thông quan. Đối với sản phẩm, hàng hóa sản xuất, lắp ráp trong nước phải được chứng nhận, công bố phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia tương ứng trước khi đưa ra thị trường.
– Danh mục sản phẩm, hàng hóa phải chứng nhận hoặc công bố hợp chuẩn hợp quy gồm có 163 loại sản phẩm, hàng hóa, bao gồm:
+ Lĩnh vực phương tiện giao thông đường bộ, phụ tùng, bao gồm: ô tô, rơ moóc và sơ mi rơ moóc (20 loại); xe mô tô, xe gắn máy, xe đạp điện và xe đạp máy (04 loại); xe bốn bánh có gắng động cơ (01 loại); xe máy chuyên dùng (26 loại); phụ tùng (18 loại);
+ Lĩnh vực phương tiện, thiết bị thăm dò khai thác dầu khí biển (04 loại), trong đó có giàn cố định trên biển, khó chửa nổi, giàn di động, hệ thống đường ống biển, phao neo dầu khí;
+ Lĩnh vực biển (04 loại), trong đó có tàu thủy chở khách, du thuyền, phà, tàu thủy chở hàng, xà lan…, tàu kéo, tàu đẩy, tàu đèn hiệu, tàu cứu hộ…tàu thuyền khác…;
+ Lĩnh vực phương tiện thủy nội địa (04 loại) như: tàu thủy chở khách, du thuyền, phà, tàu thủy chở hàng, xà lan, tàu kéo, tàu đẩy…;
+ Lĩnh vực hạ tầng thủy nội địa (01 loại) gồm cầu kiện nổi khác ( bè mảng, thùng chứa chất lỏng, cầu lên bở, các loại phao nổi và mốc hiệu…);
+ Lĩnh vực đường sắt (08 loại), trong đó có phương tiện chuyên dùng, toa xe hành lý, toa xe bưu vụ, toa xe hàng ăn…;
+ Lĩnh vực sản phẩm công nghiệp dùng trong giao thông vận tải và phương tiện thăm dò khai thác trên biển (73 loại), đơn cử như: kính cho tàu thủy và thiết bị thăm dò, khai thác dầu khí biển, tổ hợp máy phát dưới 50 kVA, máy phát dưới 50 kVA, biến áp dưới 50 kVA, nhựa, cao su…
Đối với 163 sản phẩm, hàng hóa nêu trên, nếu nhập khẩu phải có chứng nhận hoặc công bố phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia tương ứng. Thời điểm kiểm tra, chứng nhận được thực hiện sau khi thông quan và trước khi đưa ra thị trường. Đối với sản phẩm trong nước phải được chứng nhận hoặc công bố phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia tương ứng trước khi đưa ra thị trường.
Việc áp mã số HS được xác định từ thời điểm ngày 15/09/2018. Đối với hàng hóa nhập khẩu là ngày mở tờ khai Hải quan hoặc ngày cập cảng, ngày về đến cửa khẩu Việt Nam. Đối với sản phẩm, hàng hóa sản xuất, lắp ráp trong nước là ngày xuất xưởng.
Như vậy, có thể thấy, Thông tư số 41/2018/TT-BGTVT được ban hành sẽ góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của doanh nghiệp, đồng thời góp phần tăng cường công tác quản lý chất lượng sản phẩm hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam.
Ngày 24/07/2018, Bộ Quốc phòng đã ban hành Thông tư số 105/2018/TT-BQP sửa đổi, bổ sung một số điều của thông tư số 147/2016/TT-BQP ngày 21/09/2016 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định quản lý người giữ chức danh, chức vụ tại doanh nghiệp nhà nước do Bộ Quốc phòng quản lý và người đại diện tại các công ty cổ phần có vốn góp của nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ do Bộ Quốc phòng cử người đại diện. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 08/09/2018.
Theo đó, Thông tư số 105/2018/TT-BQP có những sửa đổi, bổ sung mới đáng chú ý như sau:
1. Quy định về kiêm nhiệm chức danh, chức vụ quản lý đối với người quản lý:
Người được bổ nhiệm giữ chức danh Chủ tịch Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty: a- Không phải là cán bộ đang công tác tại đơn vị dự toán thuộc Bộ Quốc phòng; nếu bổ nhiệm cán bộ đang công tác tại đơn vị dự toán thì phải có quyết định thuyên chuyển, điều động công tác; b- Không được kiêm nhiệm chức danh Tổng giám đốc, Giám đốc, Kiểm soát viên tại tập đoàn, tổng công ty, công ty mình và các doanh nghiệp khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; c- Không được kiêm nhiệm chức danh quản lý, điều hành ở tổng công ty, công ty thành viên.
Người được bổ nhiệm giữ chức danh thành viên Hội đồng thành viên: a- Thực hiện theo quy định tại điểm a và điểm c trên; b- Có thể kiêm nhiệm chức danh Tổng giám đốc, Giám đốc tập đoàn, tổng công ty, công ty mình.
Người được bổ nhiệm giữ chức danh Tổng giám đốc, Phó tổng giám đốc, Giám đốc, Phó giám đốc: a- Không phải là cán bộ đang công tác tại đơn vị dự toán thuộc Bộ Quốc phòng; nếu bổ nhiệm cán bộ đang công tác tại đơn vị dự toán thì phải có quyết định thuyên chuyển, điều động công tác; b- Không được kiêm nhiệm chức danh Tổng giám đốc, Giám đốc, Kiểm soát viên doanh nghiệp khác và Kế toán trưởng tại tập đoàn, tổng công ty, công ty mình.
2. Quy định về thẩm quyền đánh giá đối với người quản lý
Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đánh giá: a- Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên Chủ tịch Tập đoàn (Tổng công ty, Công ty), Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó tổng giám đốc (Phó giám đốc) Kiểm soát viên tại các doanh nghiệp trực thuộc Bộ Quốc phòng; b- Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch Tổng công ty (Công ty), Tổng giám đốc (Giám đốc) tại các doanh nghiệp thuộc đơn vị đầu mối trực thuộc Bộ Quốc phòng.
Thủ trưởng đơn vị đầu mối trực thuộc Bộ Quốc phòng đánh giá Phó tổng giám đốc (Phó giám đốc) Kiểm soát viên tại các doanh nghiệp thuộc đơn vị đầu mối trừ các chức danh do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đánh giá.
Hội đồng thành viên, Chủ tịch (Tập đoàn, Tổng công ty, Công ty) đánh giá các chức danh người quản lý còn lại thuộc doanh nghiệp mình và các đơn vị thành viên trừ các chức danh do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Thủ trưởng đơn vị đầu mối đánh giá.
Như vậy, Thông tư số 105/2018/TT-BQP đã có những quy định chi tiết và cụ thể về quản lý Người giữ chức vụ tại doanh nghiệp Bộ Quốc phòng, thông qua đó tăng cường sự quản lý, giám sát và đánh giá về các vị trí này một cách chi tiết, cụ thể, góp phần đảm bảo hiệu quả trong hoạt động của các doanh nghiệp này.
Ngày 09/09/2018, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 119/NQ-CP về phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 08/2018. Nghị quyết này có hiệu lực từ ngày ban hành.
Theo đó, Nghị quyết số 119/NQ-CP có những nội dung nổi bật đáng chú ý cụ thể như sau:
Bộ Tài chính khẩn trương chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ và các bộ, cơ quan liên quan tiếp thu ý kiến thành viên Chính phủ, ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp, thẩm tra của Văn phòng Chính phủ, hoàn thiện dự án Luật quản lý thuế (sửa đổi). Giao Bộ trưởng Bộ Tài chính thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ, thay mặt Chính phủ báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Quốc hội dự án Luật này.
Bộ Tài chính thực hiện nghiêm kỷ luật tài chính – ngân sách nhà nước, quản lý chặt chẽ ngân sách nhà nước từ khâu dự toán đến điều hành, thực hiện, quyết toán; tập trung chống thất thu thuế, nợ đọng thuế, chống chuyển giá, phối hợp chặt chẽ với các địa phương quyết tâm hoàn thành vượt dự toán thu ngân sách nhà nước; điều hành chi chặt chẽ, tiết kiệm, chống lãng phí, nhất là chi mua sắm tài sản công, hội họp, phấn đấu giảm bội chi ngân sách dưới mức 3,7%/GDP. Chủ động phát hành trái phiếu Chính phủ đa dạng kỳ hạn, kênh huy động, phù hợp với yêu cầu thanh toán, giải ngân và diễn biến thị trường. Đẩy mạnh áp dụng hóa đơn thuế điện tử. Tập trung cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong lĩnh vực hải quan theo chuẩn quốc tế. Tăng cường quản lý, kiểm tra, phát hiện, xử lý nghiêm các trường hợp buôn lậu, gian lận thương mại và sản xuất, kinh doanh hàng giả.
Như vậy, việc đẩy mạnh sử dụng hóa đơn điện tử được kỳ vọng sẽ góp phần tiết kiệm chi phí tối ưu cho doanh nghiệp, đảm bảo độ an toàn và chính xác trong các hoạt động kinh doanh sản xuất cũng như đa dạng hóa phương thức gửi hóa đơn cho khách hàng.
Ngày 04/09/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 115/2018/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm. Nghị định này sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 20/10/2018.
Theo đó, Nghị định số 115/2018/NĐ-CP quy định về mức xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm khi bán thức ăn đường phố không đảm bảo an toàn thực phẩm, cụ thể như sau:
1. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với các hành vi sau đây:
a) Không có bàn, tủ, giá, kệ, thiết bị, dụng cụ đáp ứng theo quy định của pháp luật về bày bán thức ăn;
b) Thức ăn không được che đậy ngăn chặn bụi bẩn; có côn trùng, động vật gây hại xâm nhập;
c) không sử dụng găng tay khi tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm chín, thức ăn ngay;
2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a) Sử dụng dụng cụ chế biến, ăn uống, vật liệu bao gói, chứa đựng tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm không bảo đảm an toàn thực phẩm;
b) Người đang mắc các bệnh mà theo quy định của pháp luật không được trực tiếp tham gia kinh doanh thức ăn đường phố;
c) Sử dụng phụ gia thực phẩm được sang chia, san chiết không phù hợp quy định của pháp luật để chế biến thức ăn;
d) Sử dụng nước không bảo đảm vệ sinh để chế biến thức ăn; để vệ sinh trang thiết bị, dụng cụ phục vụ chế biến, ăn uống;
e) Vi phạm các quy định khác về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm theo quy định của pháp luật trong kinh doanh thức ăn đường phố.
Ngoài ra, Nghị định này cũng quy định về biện pháp khắc phục hậu quả đối với các hành vi vi phạm về an toàn vệ sinh thực phẩm buộc tiêu hủy thực phẩm đối với các hành vi vi phạm về việc Sử dụng phụ gia thực phẩm được sang chia, san chiết không phù hợp quy định của pháp luật để chế biến thức ăn.
Như vậy, bằng những quy định chi tiết và cụ thể, Nghị định số 115/2018/NĐ-CP được kỳ vọng sẽ góp phần răn đe, ngăn chặn các hành vi vi phạm các quy định pháp luật về an toàn vệ sinh thực phẩm đối với những hoạt động kinh doanh thức ăn đường phố, góp phần bảo đảm an toàn về sinh thực phẩm, bảo vệ sức khỏe của người tiêu dùng.
Ngày 04/09/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 116/NQ-CP về việc đơn giản hóa thủ tục hành chính, giấy tờ công dân liên quan đến quản lý dân cư thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của bộ ngoại giao. Nghị quyết này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.
Theo đó, Nghị quyết số 116/NQ-CP quy định về việc đơn giản hóa đối với thủ tục cấp hộ chiếu ngoại giao, hộ chiếu công vụ tại các cơ quan trong nước và tại các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, cụ thể như sau:
1. Về thành phần hồ sơ: Bỏ yêu cầu nộp các thành phần hồ sơ gồm: Bản chụp Giấy chứng minh nhân dân hoặc Thẻ căn cước công dân hoặc Giấy chứng minh của các lực lượng vũ trang (đối với lực lượng vũ trang); bản chụp Giấy khai sinh hoặc Bản sao trích lục khai sinh (đối với con dưới 18 tuổi đi thăm, đi theo cán bộ đi công tác nước ngoài tại các cơ quan đại diện Việt Nam). Thay vào đó, người đề nghị cấp hộ chiếu nộp bản sao chụp giấy tờ có số định danh cá nhân (xuất trình bản chính để đối chiếu);
2. Về mẫu Tờ khai đề nghị cấp hộ chiếu ngoại giao, hộ chiếu công vụ, công hàm xin thị thực: Không yêu cầu cung cấp thông tin về ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi sinh, hộ khẩu thường trú, thông tin về bố, mẹ, vợ/chồng; tuy nhiên vẫn đề nghị cung cấp thông tin về con vì không có thông tin này trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
Có thể thấy, bằng những quy định chi tiết và cụ thể, Nghị quyết số 116/NQ-CP đã có những cải cách cần thiết trong việc đơn giản hóa các thủ tục hành chính, góp phần giảm thiểu các khâu rườm rà không thực sự cần thiết, tiết kiệm thời gian và đảm bảo quyền lợi cũng như nghĩa vụ của người dân khi thực hiện các thủ tục này.
Ngày 24/08/2018, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư số 21/2018/TT-BGDĐT ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của trung tâm ngoại ngữ, tin học. Nghị định này sẽ có hiệu lực từ ngày 10/10/2018.
Theo đó, Thông tư số 21/2018/TT-BGDĐT quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của trung tâm ngoại ngữ, tin học, cụ thể như sau:
1. Tổ chức thực hiện các chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực ngoại ngữ, tin học đáp ứng nhu cầu của người học;
2. Tuyển sinh và quản lý người học;
3. Tổ chức biên soạn hoặc lựa chọn tài liệu dạy học đáp ứng chuẩn đầu ra của các chương trình đào tạo, bồi dưỡng phù hợp với đối tượng người học;
4. Tổ chức kiểm tra, đánh giá và cấp giấy xác nhận hoàn thành các chương trình đào tạo, bồi dưỡng ngoại ngữ, tin học do trung tâm tổ chức. Tổ chức thi, cấp chứng chỉ ngoại ngữ, tin học của hệ thống giáo dục quốc dân khi đủ Điều kiện theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo;
5. Thực hiện các công việc có liên quan như biên dịch, phiên dịch, lập trình, cài đặt phần mềm;
6. Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ, giáo viên của trung tâm;
7. Tổ chức các hoạt động nghiên cứu phát triển trung tâm, nâng cao chất lượng giáo dục;
8. Công khai các Điều kiện đảm bảo chất lượng giáo dục;
9. Được xác định và công khai mức thu học phí theo khóa học của người học phù hợp với chất lượng đào tạo, bồi dưỡng;
10. Xây dựng nội quy, quy định chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị thuộc trung tâm; quản lý, tuyển dụng, phát triển đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên theo chiến lược phát triển của trung tâm;
11. Quản lý tài chính, tài sản của trung tâm và được hưởng chính sách hỗ trợ ưu đãi theo quy định của pháp luật;
12. Các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.
Có thể thấy, việc quy đinh về quy chế tổ chức hoạt động của trung tâm ngoại ngữ, tin học trong giai đoạn hiện nay là vô cùng cần thiết và thiết thực, điều này được kỳ vọng sẽ góp phần phát triển các tổ chức theo định hướng chuyên nghiệp cũng như xây dựng nên những khuôn khổ để các hoạt động này được thực hiện một cách hiệu quả, nghiêm túc.