Ngày 24/09/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 128/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định về điều kiện đầu tư, kinh doanh trong lĩnh vực đường thủy nội địa. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.
Theo đó, Nghị định số 128/2018/NĐ-CP có những nội dung mới nổi bật cụ thể như sau:
Thứ nhất, chỉ Doanh nghiệp, Hợp tác xã được thành lập theo quy định của pháp luật liên quan mới được kinh doanh vận tải đường thủy nội địa; Hộ kinh doanh cá thể sẽ không đủ điều kiện để kinh doanh hoạt động này.
Đối với đơn vị đang hoạt động kinh doanh vận tải hành khách trên đường thủy nội địa trước ngày có hiệu lực thi hành của Nghị định này thì vẫn được tiếp tục thực hiện kinh doanh.
Do đó, kể từ ngày 24/09/2018, các đơn vị hoạt động kinh doanh vận tải đường thủy nội địa buộc phải thành lập Doanh nghiệp, Hợp tác xã theo quy định.
Thứ hai, điều kiện điều kiện về cơ sở vật chất đối với đơn vị kinh doanh dịch vụ đào tạo thuyền viên, người lái phương tiện thủy nội địa phải phù hợp với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về cơ sở vật chất tương ứng như: phòng học chuyên môn, phòng thi, kiểm tra; Xưởng thực hành; Khu vực dạy thực hành lái và vận hành máy.
Thứ ba, bổ sung đối tượng là Hợp tác xã cũng được phép kinh doanh hoạt động đóng mới, hoán cải, sửa chữa phục hồi phương tiện thủy nội địa, thay vì trước đây chỉ có Doanh nghiệp mới được phép kinh doanh hoạt động này.
Như vậy, kể từ ngày 24/09/2018 các quy định liên quan đến điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực đường thủy nội địa đã có nhiều thay đổi theo hướng quy định chặt chẽ hơn các điều kiện nhằm nâng cao sự an toàn, chất lượng đối với lĩnh vực này.
Ngày 10/09/2018 Thủ tướng chính phủ ban hành Quyết định số 39/2018/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 37/2011/QĐ-TTg ngày 29/06/2011 của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế hỗ trợ phát triển Dự án điện gió tại Việt Nam. Quyết định này sẽ có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/11/2018.
Theo đó, giá điện đối với dự án điện gió nối lưới tại Việt Nam đã được sửa đổi cụ thể như sau: Bên mua có trách nhiệm mua toàn bộ sản lượng điện từ các dự án điện gió với giá mua điện tại điểm giao nhận điện như sau:
– Đối với các dự án điện gió trong đất liền: Giá mua điện tại điểm giao nhận điện là 1.928 đồng/kWh. Giá mua điện được điều chỉnh theo biến động của tỷ giá đồng/USD;
– Đối với các dự án điện gió trên biển: Giá mua điện tại điểm giao nhận điện là 2.223 đồng/kWh. Giá mua điện được điều chỉnh theo biến động của tỷ giá đồng/USD.
Giá mua điện nêu trên được áp dụng cho một phần hoặc toàn bộ nhà máy điện gió nối lưới có ngày vận hành thương mại trước ngày 01/11/2021 và được áp dụng 20 năm kể từ ngày vận hành thương mại.
Như vậy, Quyết định số 39/2018/QĐ-TTg ban hành nhằm mục đích tăng cường cơ chế hỗ trợ cho các nhà đầu tư vào dự án năng lượng điện gió tại Việt Nam, qua đó thu hút các nhà đầu tư, góp phần tạo điều kiện phát triển các hoạt động liên quan đến năng lượng sạch tại Việt Nam trong tương lai.
Ngày 08/08/2019, Bộ Xây dựng đã ban hành Thông tư số 06/2018/TT-BXD ban hành hệ thống Chỉ tiêu thống kê ngành xây dựng. Thông tư này sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 25/09/2018.
Theo đó hệ thống này gồm 33 chỉ tiêu và thuộc 4 nhóm lĩnh vực, cụ thể như sau:
– Hoạt động đầu tư xây dựng (gồm 09 chỉ tiêu);
– Phát triển đô thị và nông thôn (gồm 16 chỉ tiêu);
– Nhà ở, bất động sản và công sở (gồm 07 chỉ tiêu);
– Vật liệu xây dựng (gồm 01 chỉ tiêu).
Ngoài ra, đi kèm với hệ thống chỉ tiêu nêu trên là nội dung mà Bộ Xây dựng làm rõ khái niệm, phương pháp tính, nguồn số liệu, phân tổ chủ yếu của từng chỉ tiêu.
Có thể thấy, thông qua việc ban hành hệ thống Chỉ tiêu thống kê ngành xây dựng theo Thông tư số 06/2018/TT-BXD, Bộ Xây dựng đã có những bổ sung quan trọng, thông qua đó chi tiết hóa các chỉ tiêu cũng nhưng phân loại một cách cụ thể các nhóm lĩnh vực, tạo điều kiện thuận lợi cho các cá nhân, tổ chức hoạt động được thuận lợi, hiệu quả và đúng quy định pháp luật
Ngày 17/09/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 123/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định về điều kiện đầu tư, kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.
Theo đó, Nghị định 123/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung quy định về điều kiện sản xuất đối với tổ chức sản xuất thuốc bảo vệ thực vật như sau:
– Người trực tiếp quản lý, điều hành sản xuất có trình độ đại học trở lên về một trong các chuyên ngành hóa học, bảo vệ thực vật, sinh học, nông học; người lao động trực tiếp sản xuất thuốc bảo vệ thực vật phải được huấn luyện, bồi dưỡng về chuyên môn, kiến thức về thuốc bảo vệ thực vật;
– Nhà xưởng, kho bảo quản thuốc bảo vệ thực vật phải được bố trí trong khu công nghiệp và đảm bảo yêu cầu cảu Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 5507:2002 Hóa chất nguy hiểm – Quy phạm an toàn trong sản xuất, kinh doanh, sử dụng, bảo quản và vận chuyển;
– Thiết bị, dây chuyền sản xuất hoạt chất, thuốc kỹ thuật, sản xuất thuốc thành phẩm từ thuốc kỹ thuật và đóng gói thuốc bảo vệ thực vật phải đáp ứng quy trình, công nghệ sản xuất và đạt yêu cầu về an toàn theo quy định tại Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 5507:2002 Hóa chất nguy hiểm – Quy phạm an toàn trong sản xuất, kinh doanh, sử dụng, bảo quản và vận chuyển;
– Hệ thống xử lý chất thải rắn, khí thải, nước thải phải đáp ứng quy định pháp luật và Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia;
– Có phòng thử nghiệm kiểm tra chất lượng sản phẩm đã được đăng ký, chỉ định theo quy định của pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp, chất lượng sản phẩm hàng hóa. Trường hợp không có phòng thử nghiệm thì phải có hợp đồng kiểm tra chất lượng với phòng thử nghiệm đã được đăng ký, chỉ định theo quy định của pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp, chất lượng sản phẩm hàng hóa đối với mỗi lô sản phẩm xuất xưởng;
– Cơ sở sản xuất thuốc bảo vệ thực vật phải có hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001 hoặc tương đương do các tổ chức chứng nhận đã được đăng ký theo quy định của pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp cấp.
Có thể thấy, Nghị định số 123/2018/NĐ-CP đã có những hướng dẫn chi tiết và cụ thể về điều kiện đầu tư, kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp, qua đó giúp các nhà đầu tư có những sự chuẩn bị tốt nhất cho hoạt động đầu tư của mình, đồng thời góp phần tăng cường sự hiệu quả của quản lý Nhà nước trong lĩnh vực này.
Ngày 08/08/2018, Bộ Xây dựng đã ban hành Thông tư số 07/2018/TT-BXD quy định chế độ báo cáo thống kê ngành xây dựng. Thông tư có hiệu lực thi hành từ ngày 25/9/2018.
Theo đó, nội dung chế độ báo cáo thống kê ngành Xây dựng đã thay đổi như sau:
– Chế độ báo cáo gồm: hệ thống biểu mẫu báo cáo thống kê (Phụ lục I), biểu mẫu báo cáo và giải thích biểu mẫu báo cáo thống kê (Phụ lục II);
Số biểu mẫu báo cáo theo quy định mới đã giảm đi 05 biểu mẫu so với quy định hiện hành và nay chỉ còn 13 biểu mẫu được đánh số thứ tự từ 01/BCĐP đến 13/BCĐP.
Sở Xây dựng, Sở Quy hoạch – Kiến trúc các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là đơn vị gửi báo cáo, còn Bộ Xây dựng là cơ quan nhận báo cáo được ghi cụ thể tại góc trên bên phải của từng biểu mẫu thống kê.
– Kỳ báo cáo thống kê được quy định trong biểu mẫu báo cáo thống kê và được tính theo ngày dương lịch gồm:
+ Báo cáo thống kê 6 tháng: được tính bắt đầu từ ngày 01 tháng 01 cho đến ngày cuối cùng của tháng 6 của kỳ báo cáo thống kê.
+ Báo cáo thống kê năm: được tính bắt đầu từ ngày 01 tháng 01 cho đến ngày cuối cùng của tháng 12 của kỳ báo cáo thống kê.
Như vậy, kỳ báo cáo mới đã bỏ chế độ báo cáo thống kê định kỳ theo tháng, quý và cũng sửa đổi thời gian báo cáo thống kê 6 tháng, năm.
– Thời hạn báo cáo: được ghi tại góc trên bên trái của biểu mẫu thống kê;
– Hình thức báo cáo: bằng văn bản giấy có chữ ký, đóng dấu của thủ trưởng đơn vị và qua hệ thống báo cáo điện tử.
Có thể thấy, với các thay đổi chi tiết và cụ thể, Thông tư số 07/2018/TT-BXD được kỳ vọng sẽ góp phần giúp hoạt động thực hiện chế độ báo cáo của các Sở Xây dựng, Sở Quy hoạch – Kiến trúc được đảm bảo chính xác, nhanh chóng và dễ dàng hơn.
Ngày 08/08/2018 , Bộ Tài Chính đã ban hành Thông tư số 70/2018/TT-BTC về việc Quy định quản lý và sử dụng kinh phí sự nghiệp thực hiện chương trình mục tiêu ứng phó biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh giai đoạn 2016 – 2020. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 22/09/2018.
Theo đó, mức chi Ngân sách Nhà nước để thực hiện ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2016 – 2020 được thực hiện theo chế độ chi tiêu hiện hành, cụ thể là điều chỉnh các khoản chi ngân sách như sau:
– Xây dựng các chương trình môn học, đưa nội dung liên quan tới biến đổi khí hậu vào môi trường giáo dục;
– Nâng cao trình độ nghiệp vụ của các cán bộ phụ trách về biến đổi khí hậu;
– Xây dựng chương trình khảo sát, đo đạc, cập nhật ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tới Việt Nam;
– Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về biến đổi khí hậu;
– Tăng cường chi phí tổ chức các hội nghị, hoạt động tuyên truyền liên quan tới biến đổi khí hậu.
Ngoài ra, Thông tư số 70/2018/TT-BTC cũng hướng dẫn thêm một số mức chi cụ thể như sau:
– Chi xây dựng chương trình, giáo trình, tài liệu tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ: Theo quy định tại Thông tư 123/2009/TT-BTC ngày 17/6/2009;
– Chi đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn chuyên môn nghiệp vụ: Theo quy định tại Thông tư 36/2018/TT-BTC ngày 30/3/2018;
– Chi điều tra, khảo sát: Theo quy định tại Thông tư 109/2016/TT-BTC ngày 30/06/2016;
– Chi công tác phí, hội nghị: Theo quy định tại Thông tư 40/2017/TT-BTC ngày 28/4/2017;
– Chi tạo lập thông tin, cơ sở dữ liệu: Theo quy định tại Thông tư 194/2012/TT-BTC ngày 15/11/2012.
Có thể thấy, những điều chỉnh tại Thông tư số 70/2018/TT-BTC nhằm mục tiêu xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về tình trạng biến đổi khí hậu, đánh giá các tác động của biến đổi khí hậu cũng như nâng cao nhận thức của người dân về tác động của biến đổi khí hậu, góp phần hiện thực hóa các cam kết của Việt Nam tại Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu.
Ngày 14/09/2018, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành Thông tư số 23/2018/TT-NHNN quy định về tổ chức lại, thu hồi giấy phép và thanh lý tài sản của Quỹ tín dụng nhân dân. Thông tư này sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 01/11/2018.
Theo Thông tư số 23/2018/TT-NHNN, Quỹ tín dụng nhân dân (sau đây viết tắt là “QTDND”) có thể được tổ chức lại dưới các hình thức sau: Chia, tách, hợp nhất, sáp nhập. Việc tổ chức lại quỹ tín dụng nhân dân được thực hiện trên cơ sở phương án tổ chức lại được Ngân hàng Nhà nước chi nhánh phê duyệt phù hợp với quy định của pháp luật.
Theo đó, Thông tư quy định việc chuyển nhượng, mua bán tài sản trong quá trình tổ chức lại QTDND phải đảm bảo công khai, minh bạch, tuân thủ quy định của pháp luật và thỏa thuận của các bên, đảm bảo an toàn tài sản và không ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên. QTDND sau khi tổ chức lại kế thừa quyền và nghĩa vụ của QTDND trước đó theo quy định của pháp luật và thỏa thuận giữa các bên.
Cùng với đó, thời hạn thanh lý là 12 tháng kể từ ngày quyết định chấp thuận giải thể quỹ tín dụng nhân dân của Ngân hàng Nhà nước chi nhánh có hiệu lực. Tuy nhiên, nhằm tạo điều kiện cho QTDND thực hiện thanh lý tài sản đạt hiệu quả cao nhất, thời hạn thanh lý có thể được gia hạn, mỗi lần gia hạn không quá 12 tháng.
Nhưng ngược lại trách nhiệm Hội đồng thanh lý cần nâng cao hơn để đảm bảo thực hiện theo phương án được NHNN chi nhánh phê duyệt, tìm mọi biện pháp để thu hồi nợ và các tài sản của QTDND. Mọi khoản thu của QTDND phải được sử dụng để thanh toán cho các chủ nợ theo quy định…
Ngoài ra, Thông tư số 23/2018/TT-NHNN cũng đưa ra 7 trường hợp có thể bị thu hồi giấy phép hoạt động, bao gồm:
– QTDND tự nguyện xin giải thể khi có khả năng thanh toán hết các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác;
– Hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép QTDND có thông tin gian lận để có đủ điều kiện được cấp Giấy phép;
– QTDND hoạt động không đúng nội dung quy định trong Giấy phép.
-QTDND vi phạm nghiêm trọng quy định của pháp luật về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động.
– QTDND không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ quyết định xử lý của Ngân hàng nhà nước chi nhánh để bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng.
– QTDND bị chia, sáp nhập, hợp nhất, phá sản.
– QTDND hết thời hạn hoạt động không xin gia hạn hoặc xin gia hạn nhưng không được NHNN chi nhánh chấp thuận bằng văn bản.
Như vậy, Thông tư số 23/2018/TT-NHNN với các quy định cụ thể về việc tổ chức lại Quỹ tín dụng nhân dân được đánh giá là sẽ góp phần không nhỏ trong việc tăng cường sức mạnh của hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân, nhằm thực hiện Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các Tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016 – 2020” ban hành kèm theo Quyết định số 1058/QĐ-TTg ngày 19/07/2017 của Thủ tướng Chính phủ.
Ngày 13/09/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 121/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 49/2013/NĐ-CP ngày 14/05/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số Điều của Bộ luật Lao động về tiền lương. Nghị định này sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 01/11/2018
Theo đó, Nghị định số 121/2018/NĐ-CP quy định về nội dung mới nổi bật liên quan đến nguyên tắc xây dựng thang, bảng lương và định mức lao động, cụ thể:
Nếu như theo quy định tại Nghị định số 49/2013/NĐ-CP trước đây thì mọi doanh nghiệp có nghĩa vụ tổ chức xây dựng hoặc rà soát sửa đổi bổ sung thang lương, bảng lương, định mức lao động và gửi cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp huyện nơi đặt cơ sở sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp để theo dõi, kiểm tra theo quy định.
Tuy nhiên, kể từ ngày 01/11/2018 theo quy định của Nghị định số 121/2018/NĐ-CP thì quy định này chỉ còn áp dụng với các doanh nghiệp sử dụng từ 10 lao động trở lên. Đối với các doanh nghiệp nhỏ sử dụng dưới 10 (mười) người lao động sẽ được miễn thủ tục gửi thang lương, bảng lương, định mức lao động cho cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp huyện nơi đặt cơ sở sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
Như vậy, có thể thấy rằng, các quy định của pháp luật hiện nay ngày càng có xu hướng hỗ trợ, giảm thiểu và đơn giản hóa các thủ tục hành chính đối với doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ.
Ngày 08/08/2018, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 69/2018/TT-BTC hướng dẫn thực hiện tái cơ cấu Doanh nghiệp nhà nước không đủ điều kiện cổ phần hóa theo quy định tại Khoản 2 Điều 4 Nghị định số 126/2017/NĐ-CP ngày 16/11/2017 thông qua xử lý nợ để chuyển thành công ty cổ phần. Thông tư sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2018.
Theo đó, phương án tái cơ cấu được thực hiện trên nguyên tắc đồng thuận giữa cơ quan đại diện chủ sở hữu doanh nghiệp tái cơ cấu với công ty mua bán nợ hoặc các chủ nợ tham gia tái cơ cấu. Công ty Mua bán nợ được quyền chủ động đàm phán mua nợ với các chủ nợ và đề xuất phương án tái cơ cấu doanh nghiệp phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với việc bán cổ phần lần đầu, doanh nghiệp tái cơ cấu thực hiện trình tự, thủ tục, phương thức bán và giá bán cổ phần lần đầu theo quy định tại Nghị định số 126/2017/NĐ-CP và Thông tư số 40/2018/TT-BTC. Trong đó, căn cứ quy định tại điểm d Khoản 1 và Khoản 3 Điều 42 Nghị định số 126/2017/NĐ-CP, cơ quan đại diện chủ sở hữu quyết định giá bán cổ phần cho người lao động và tổ chức công đoàn tại doanh nghiệp tái cơ cấu không thấp hơn 60% mệnh giá cổ phần.
Công ty mua bán nợ chỉ quyết định mua nợ sau khi đã thỏa thuận, thống nhất với cơ quan đại diện chủ sở hữu và có kết quả đàm phán mua nợ với các chủ nợ của doanh nghiệp tái cơ cấu.
Đối với việc xử lý tài chính doanh nghiệp tái cơ cấu, doanh nghiệp tái cơ cấu thực hiện xử lý tài chính khi xác định giá trị doanh nghiệp theo quy định tại Nghị định số 126/2017/NĐ-CP và Thông tư số 41/2018/TT-BTC. Trường hợp xử lý tài chính theo phương án tái cơ cấu, việc xử lý tài phải gắn với phương án tái cơ cấu đã được cơ quan đại diện chủ sở hữu phê duyệt.
Công ty mua bán nợ và các chủ nợ tham gia tái cơ cấu doanh nghiệp được chuyển nợ thành vốn góp cổ phần theo nguyên tắc thỏa thuận và được cơ quan đại diện chủ sở hữu phê duyệt trong phương án tái cơ cấu. Đối với số cổ phần không bán hết, doanh nghiệp có trách nhiệm thực hiện xử lý theo quy định tại Nghị định số 126/2017/NĐ-CP và Thông tư số 40/2018/TT-BTC.
Về chính sách đối với người lao động dôi dư trong doanh nghiệp tái cơ cấu, thực hiện theo quy định hiện hành của Nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước khi cổ phần hóa. Kinh phí sẽ được thực hiện theo nguyên tắc toàn bộ tiền thu từ bán cổ phần sau khi trừ tổng mệnh giá cổ phần đã bán được sử dụng để chi trả cho người lao động dôi dư.
Thông tư số 69/2018/TT-BTC được ban hành nhằm tháo gỡ vướng mắc tồn tại, nâng cao hiệu quả của hoạt động tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước không đủ điều kiện cổ phần hóa.