Nhiều ngân hàng tăng mạnh lãi suất huy động
Với mong muốn bổ sung thêm nguồn vốn trung, dài hạn để phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh cuối năm, đồng thời giảm...
Bùng nổ nhượng quyền thương hiệu vào Việt Nam
Hoạt động nhượng quyền đang được giới kinh doanh vận dụng để đưa các thương hiệu nước ngoài vào thị trường Việt Nam. Ngoài lĩnh...
6 ngành kinh tế phát triển mũi nhọn khu vực miền Trung
Có 6 lĩnh vực kinh tế biển, ven biển đang được các tỉnh miền Trung tập trung phát triển và đã đạt được những kết...
91.9% doanh nghiệp lạc quan về hoạt động sản xuất 6 tháng cuối năm
Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có tỷ lệ doanh nghiệp dự báo về khối lượng sản xuất khả...
Việt Nam chuyển dần từ nhập siêu sang xuất siêu với CPTPP
Với hầu hết các hiệp định thương mại (FTA) đã ký, Việt Nam thường nhập siêu, thì nay, khi thực hiện CPTTP, trong 7 tháng...
Giải đáp pháp luật
Quy định xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm
Trả lời

Ngày 04/09/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 115/2018/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm. Nghị định này sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 20/10/2018.
Theo đó, Nghị định số 115/2018/NĐ-CP quy định cụ thể về mức xử phạt vi phạm quy định về đăng ký bản công bố sản phẩm. Chi tiết như sau:
1. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với các hành vi sau đây:
– Sản xuất hoặc nhập khẩu sản phẩm thuộc diện đăng ký bản công bố sản phẩm có ít nhất một trong các chỉ tiêu an toàn thực phẩm không phù hợp với mức quy định tại quy chuẩn, tiêu chuẩn, quy định của pháp luật tương ứng hoặc mức công bố hoặc mức ghi trên nhãn đối với sản phẩm không có Giấy tiếp nhận đăng ký bản công bố sản phẩm;
– Sản xuất hoặc nhập khẩu sản phẩm thực phẩm bảo vệ sức khỏe có ít nhất một trong các chỉ tiêu chất lượng chủ yếu tạo nên công dụng của sản phẩm không phù hợp với mức công bố hoặc mức ghi trên nhãn đối với sản phẩm không có Giấy tiếp nhận đăng ký bản công bố sản phẩm mà chưa đến mức là hàng giả theo quy định của pháp luật.
2. Phạt từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành vi không đăng ký bản công bố sản phẩm theo quy định của pháp luật trong sản xuất, nhập khẩu sản phẩm thuộc diện phải đăng ký bản công bố sản phẩm hoặc sản xuất, nhập khẩu sản phẩm thuộc diện phải đăng ký bản công bố sản phẩm mà không có Giấy tiếp nhận đăng ký bản công bố sản phẩm theo quy định của pháp luật.
3. Hình thức phạt bổ sung
– Đình chỉ một phần hoặc toàn bộ hoạt động sản xuất, nhập khẩu thực phẩm từ 01 tháng đến 03 tháng;
– Buộc thu hồi thực phẩm;
– Buộc thay đổi mục đích sử dụng hoặc tái chế; buộc tiêu hủy thực phẩm.
Bên cạnh đó, Nghị định đã quy định cụ thể về thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm.
Có thể thấy, Nghị định có hiệu lực sẽ giúp cho việc áp dụng quy định pháp luật của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền không gặp vướng mắc. Đồng thời, bằng các chế tài cụ thể áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân kinh doanh thực phẩm không đảm bảo an toàn vệ sinh, Nghị định này được kỳ vọng sẽ góp phần đảm bảo sức khỏe cho người dân khi giảm thiểu các loại thực phẩm gây hại trên thị trường.

Quy định mới về xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động kinh doanh bán hàng đa cấp
Trả lời

Ngày 08/10/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 141/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động kinh doanh theo phương thức đa cấp. Nghị định này sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 25/11/2018.
Theo đó, Nghị định số 141/2018/NĐ-CP có một số điểm mới đáng chú ý như sau:
1. Tăng mức phạt hành vi bán hàng đa cấp bất chính
Phạt tiền từ 80.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với tổ chức thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau: Yêu cầu người khác phải đặt cọc hoặc nộp một khoản tiền nhất định để được ký hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp; yêu cầu người khác phải mua một số lượng hàng hóa nhất định để được ký hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp; cho người tham gia bán hàng đa cấp nhận tiền hoặc lợi ích kinh tế khác từ việc giới thiệu người khác tham gia vào hoạt động bán hàng đa cấp mà không phải từ việc mua, bán hàng hóa của người được giới thiệu đó; từ chối chi trả không có lý do chính đáng các khoản hoa hồng, tiền thưởng hay lợi ích kinh tế khác mà người tham gia bán hàng đa cấp có quyền hưởng; cung cấp thông tin gian dối về kế hoạch trả thưởng, về lợi ích của việc tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp; cung cấp thông tin gian dối, gây nhầm lẫn về tính năng, công dụng của hàng hóa hoặc hoạt động của doanh nghiệp thông qua báo cáo viên, đào tạo viên tại hội nghị, hội thảo, đào tạo hoặc thông qua tài liệu của doanh nghiệp; không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ mua lại hàng hóa theo quy định của pháp luật.
Phạt tiền gấp hai lần mức tiền phạt đối với hành vi vi phạm quy định ở trên trong trường hợp hành vi vi phạm được thực hiện trên địa bàn từ hai tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trở lên.
2. Bổ sung mức phạt đối với hành vi bán hàng đa cấp của tổ chức chưa có giấy phép
Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với cá nhân tham gia vào hoạt động của tổ chức, cá nhân kinh doanh theo phương thức đa cấp chưa được cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp bị phạt ; từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với cá nhân tổ chức hội nghị, hội thảo, đào tạo, giới thiệu về hoạt động kinh doanh theo phương thức đa cấp của mình hoặc tổ chức, cá nhân khác khi chưa được cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp.
Đồng thời, phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với cá nhân kinh doanh theo phương thức đa cấp khi chưa được cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp thu lợi bất chính đến dưới 200 triệu đồng hoặc gây thiệt hại cho người khác đến dưới 500 triệu đồng.
Có thể thấy, Nghị định số 141/2018/NĐ-CP với các quy định bổ sung và gia tăng mức phạt đối với các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh bán hàng đa cấp là rất cần thiết, mang tính răn đe mạnh mẽ đối với các chủ thể kinh doanh trong lĩnh vực này, góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Quy định mới về quản lý website thương mại điện tử và hoạt động thương mại điện tử qua ứng dụng trên thiết bị di động
Trả lời

Ngày 20/08/2018, Bộ Công Thương đã ban hành Thông tư số 21/2018/TT-BCT sửa đổi một số điều của Thông tư số 47/2014/TT-BCT ngày 05/12/2014 của Bộ Công Thương quy định về quản lý website thương mại điện tử và Thông tư số 59/2015/TT-BCT ngày 31/12/2015 của Bộ Công Thương quy định về quản lý hoạt động thương mại điện tử qua ứng dụng trên thiết bị di động. Thông tư này có hiệu lực từ ngày 18/10/2018.
Theo đó, Thông tư số 21/2018/TT-BCT đã đưa ra nhiều thay đổi quan trọng như sau:
– Bãi bỏ Điều 8, Thông tư số 47/2014/TT-BCT quy định về đối tượng thông báo website thương mại điện tử bán hàng. Sự điều chỉnh này nhằm mục đích xóa bỏ tâm lý e ngại với thủ tục ở một số đối tượng kinh doanh;
– Điều 13 Thông tư số 47/2014/TT-BCT được sửa đổi thành “Đối tượng đăng ký là thương nhân hoặc tổ chức có website thương mại điện tử trên đó cung cấp ít nhất một trong các dịch vụ: Dịch vụ sàn giao dịch thương mại điện tử; Dịch vụ khuyến mại trực tuyến; Dịch vụ đấu giá trực tuyến”;
– Bãi bỏ Điều 21 Thông tư số 47/2014/TT-BCT, quy định về đối tượng đăng ký hoạt động đánh giá tín nhiệm về website thương mại điện tử;
– Sửa đổi Điều 10 Thông tư số 59/2015/TT-BCT thành “Đối tượng thông báo là chủ sở hữu ứng dụng bán hàng, bao gồm: thương nhân, tổ chức hoặc cá nhân đã được cấp mã số thuế cá nhân”;
– Điều 13 Thông tư số 59/2015/TT-BCT được sửa đổi thành “Đối tượng đăng ký là thương nhân hoặc tổ chức sở hữu ứng dụng cung cấp dịch vụ thương mại điện tử theo quy định tại khoản 3 Điều 3 Thông tư này”.
Như vậy, Thông tư số 21/2018/TT-BTC đã có những sửa đổi quan trọng liên quan đến việc quản lý hoạt động thương mại điện tử nói chung. Sự sửa đổi lần này, hướng chủ yếu đến việc loại bỏ một số thủ tục không cần thiết, nhằm tạo ra một tâm lý thoải mái, đối với những cá nhân, tổ chức có sở hữu website hoặc ứng dụng liên quan đến hoạt động thương mại điện tử hướng tới kích thích sự phát triển của nền kinh tế theo hướng hiện đại, đa dạng.

Xử lý thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu tại chỗ
Trả lời

Ngày 05/10/2018, Tổng Cục Hải Quan đã ban hành Công văn số 5826/TCHQ-TXNK hướng dẫn một số quy định về vấn đề xử lý thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu tại chỗ. Công văn này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.
Theo đó, Công văn số 5826/TCHQ-TXNK đã hướng dẫn chi tiết vấn đề xử lý thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu của nhiều doanh nghiệp hiện nay, cụ thể như sau:
Thứ nhất, về xử lý thuế đối với doanh nghiệp chế xuất nằm ngoài khu chế xuất: Căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 4 Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 2016 để xác định chính sách ưu đãi thuế ưu đãi, chính sách hoàn thuế nhập khẩu đã nộp, chính sách miễn thuế nhập khẩu, trường hợp không chịu thuế đối với các doanh nghiệp doanh nghiệp chế xuất (DNCX) không nằm trong khu chế xuất, doanh nghiệp nội địa xuất bán hàng hóa cho DNCX, doanh nghiệp đã nộp thuế nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu để sản xuất, kinh doanh nhưng đã đưa vào sản xuất hàng hóa xuất khẩu và đã xuất khẩu sản phẩm cho DNCX, doanh nghiệp nhập khẩu hàng hóa để sản xuất hàng hóa xuất khẩu và thực tế đã xuất khẩu sản phẩm cho DNCX, các DNCX không nằm trong khu chế xuất thực hiện mua bán hàng hóa với nhau.
Cơ quan hải quan căn cứ vào Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hoặc văn bản của cơ quan đăng ký đầu tư có thẩm quyền để xác định có hay không là DNCX làm cơ sở xác định đối tượng được hưởng chính sách thuế của khu phi thuế quan.
Thứ hai, xử lý thuế đối với doanh nghiệp nhập khẩu hàng hóa theo loại hình sản xuất xuất khẩu sau đó xuất khẩu sản phẩm theo loại hình XNK tại chỗ thì:
Căn cứ các quy định Khoản 1, khoản 2 Điều 28 Luật Thương mại số 36/2005/QH11; Điều 12 Nghị định số 134/2016/NĐ-CP, Khoản 3 Điều 33 Nghị định số 83/2013/NĐ-CP; Điều 133 Thông tư số 38/2015/TT-BTC. Từ ngày 01/9/2016, trường hợp doanh nghiệp nhập khẩu nguyên liệu, vật tư để sản xuất hàng hóa xuất khẩu sau đó bán sản phẩm được sản xuất từ nguyên liệu, vật tư nhập khẩu cho thương nhân nước ngoài nhưng được thương nhân nước ngoài chỉ định giao hàng cho doanh nghiệp khác tại Việt Nam thì không được miễn thuế theo quy định;

Trường hợp doanh nghiệp đã được miễn thuế đối với nguyên liệu, vật tư nhập khẩu theo loại hình sản xuất xuất khẩu nhưng sau đó xuất khẩu sản phẩm theo loại hình xuất nhập khẩu tại chỗ thì cơ quan hải quan thực hiện ấn định thuế, tính tiền chậm nộp và xử lý phạt vi phạm hành chính theo quy định. Căn cứ tính thuế, thời điểm tính thuế và biểu thuế thực hiện theo quy định tại Chương II Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 107/2016/QH13.
Có thể thấy, các doanh nghiệp hiện nay còn rất lúng túng trong việc áp dụng các quy định của pháp luật về chính sách thuế trong quá trình xuất nhập khẩu hàng hóa. Những hướng dẫn cụ thể, chi tiết của Tổng Cục Hải quan là cơ sở để các doanh nghiệp nắm bắt và áp dụng chính xác hơn các nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp mình trong quá trình thực hiện thông quan.

Quy định mới về điều kiện, thủ tục cấp giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm
Trả lời

Ngày 08/10/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 140/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung các nghị định liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh và thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý Nhà nước của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội. Nghị định này có hiệu lực từ ngày ban hành.
Theo đó, Nghị định số 140/2018/NĐ-CP sửa đổi một số quy định điều kiện, thủ tục cấp giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm của doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm, cụ thể:
– Doanh nghiệp đề nghị cấp giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm nộp 01 (một) bộ hồ sơ về cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm.
– Hình thức nộp: Doanh nghiệp có thể nộp trực tiếp hoặc gửi qua hệ thống bưu chính. Hồ sơ gồm:
+ Văn bản đề nghị cấp giấy phép của Doanh nghiệp;
+ Bản sao Giấy xác nhận đã thực hiện ký quỹ theo quy định tại Điều 10 Nghị định này;
+ Giấy tờ chứng minh đủ điều kiện về địa điểm theo quy định pháp luật.
– Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ 01 (bộ) hồ sơ theo quy định tại khoản 1 Điều này, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm cấp giấy phép cho doanh nghiệp. Trường hợp không cấp phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Như vậy, Nghị định số 140/2018/NĐ-CP đã có những sửa đổi phù hợp, tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp có thể dễ dàng và nhanh chóng thực hiện các thủ tục cần thiết để kinh doanh. Đồng thời cũng là cơ sở giảm bớt áp lực từ phía cơ quan nhà nước khi thực hiện thủ tục hành chính.

Cắt giảm 77 điều kiện kinh doanh lĩnh vực tài nguyên môi trường
Trả lời

Ngày 05/10/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 136/2018/NĐ-CP sửa đổi một số điều của các nghị định liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc lĩnh vực tài nguyên và môi trường. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.
Theo đó, Nghị định số 136/2018/NĐ-CP đã sửa đổi 11 nghị định có liên quan thuộc 06 lĩnh vực: đất đai, môi trường, khoáng sản, tài nguyên nước, khí tượng thủy văn và đo đạc bản đồ, bãi bỏ, sửa đổi 102/163 điều kiện đầu tư kinh doanh. Trong đó, bãi bỏ 77 điều kiện; sửa đổi 25 điều kiện; đồng thời Nghị định này cũng bãi bỏ, đơn giản hóa 9 thủ tục hành chính có liên quan. Cụ thể:
– Lĩnh vực đất đai: 17 điều kiện (bãi bỏ 08 điều kiện, sửa đổi 09 điều kiện);
– Lĩnh vực môi trường:48 điều kiện (bãi bỏ 43 điều kiện; sửa đổi 05 điều kiện), bãi bỏ 08 thủ tục hành chính;
– Lĩnh vực khoáng sản: 07 điều kiện (bãi bỏ 05 điều kiện; sửa đổi 02 điều kiện;
– Lĩnh vực tài nguyên nước: 28 điều kiện (bãi bỏ 21 điều kiện; sửa đổi 07 điều kiện), bãi bỏ 01 thủ tục hành chính;
– Lĩnh vực khí tượng thủy văn: sửa đổi 01 điều kiện;
– Lĩnh vực đo đạc và bản đồ: sửa đổi 01 điều kiện.
Có thể thấy, việc cắt giảm các điều kiện đầu tư, kinh doanh theo quy định tại Nghị định số 136/2018/NĐ-CP là cần thiết và phù hợp, qua đó bảo đảm và tạo điều kiện cho doanh nghiệp, người dân hưởng lợi ngay từ những nỗ lực cải cách mạnh mẽ môi trường đầu tư kinh doanh từ lĩnh vực Tài nguyên và Môi trường, giảm bớt áp lực từ phía cơ quan nhà nước khi thực hiện thủ tục hành chính, đóng góp chung vào sự phát triển chung của kinh tế – xã hội đất nước.

Điều kiện thành lập và hoạt động nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập
Trả lời

Ngày 04/10/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 135/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số 46/2017/NĐ-CP ngày 21/04/2017 của Chính phủ quy định về điều kiện đầu tư và hoạt động trong lĩnh vực giáo dục. Nghị định này sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 20/11/2018.
Theo đó, Nghị định số 135/2018/NĐ-CP quy định điều kiện thành lập và hoạt động nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập gồm:
– Có giáo viên đạt trình độ chuẩn theo quy định;
– Có phòng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em an toàn;
– Diện tích phòng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em bảo đảm ít nhất 1,5 m2 cho một trẻ em;
– Có chỗ chơi, có hàng rào và cổng bảo vệ an toàn cho trẻ em;
– Những nơi có tổ chức ăn cho trẻ em phải có bếp riêng, an toàn;
– Bảo đảm phòng chống cháy nổ, vệ sinh an toàn thực phẩm;
– Có đủ nước sạch dùng cho sinh hoạt và đủ nước uống hàng ngày cho trẻ em.
Bên cạnh đó, Nghị định này cũng quy định dối với những nơi mạng lưới cơ sở giáo dục mầm non chưa đáp ứng đủ nhu cầu đưa trẻ em tới trường, lớp, các cá nhân có thể tổ chức nhóm trẻ nhằm đáp ứng nhu cầu nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ em của phụ huynh và phải đăng ký hoạt động với UBND cấp xã, bảo đảm các điều kiện đăng ký hoạt động như sau:
– Số lượng trẻ em trong nhóm trẻ tối đa là 7 trẻ em;
– Người chăm sóc trẻ em có đủ sức khỏe, đủ năng lực chịu trách nhiệm dân sự và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em theo quy định.
– Cơ sở vật chất phải bảo đảm điều kiện tối thiểu như: Phòng nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ em có diện tích tối thiểu là 15 m2; bảo đảm an toàn, thoáng, mát; có đồ chơi an toàn, phù hợp lứa tuổi của trẻ em; có đủ đồ dùng và các thiết bị phục vụ nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ em; có đủ nước uống và nước sinh hoạt cho trẻ em hằng ngày; có phòng vệ sinh và thiết bị vệ sinh phù hợp với trẻ em; có tài liệu hướng dẫn thực hiện chăm sóc, giáo dục trẻ em.
Có thể thấy, Nghị định số số 135/2018/NĐ-CP đã có những hướng dẫn cụ thể và chi tiết về điều kiện đầu tư và hoạt động trong lĩnh vực giáo dục nói chung và đối với các cơ sở giáo dục mầm non nói riêng, qua đó tạo điều kiện thuận lợi trong công tác chuẩn bị cũng như hoạt động của các cơ sở này.

Quy định mới về điều kiện kinh doanh dịch vụ đào tạo lái xe ô tô và dịch vụ sát hạch lái xe
Trả lời

Ngày 08/10/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 138/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều nghị định số 65/2016/NĐ-CP ngày 01/07/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đào tạo lái xe ô tô và dịch vụ sát hạch lái xe. Nghị định này sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 01/12/2018.
Theo đó, Nghị định số 138/2018/NĐ-CP nêu rõ, phòng học Kỹ thuật lái xe phải có phương tiện nghe nhìn phục vụ giảng dạy (băng đĩa, đèn chiếu…); có hình hoặc tranh vẽ mô tả các thao tác lái xe cơ bản (điều chỉnh ghế lái, tư thế ngồi lái, vị trí cầm vô lăng lái…); có xe ô tô được kê kích bảo đảm an toàn để tập số nguội, số nóng (có thể bố trí ở nơi riêng biệt); có thiết bị mô phỏng để đào tạo lái xe.
Về điều kiện xe tập lái, cơ sở đào tạo lái xe ô tô phải có xe tập lái các hạng được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép xe tập lái; trường hợp cơ sở đào tạo có dịch vụ sát hạch lái xe, căn cứ thời gian sử dụng xe sát hạch vào mục đích sát hạch, được phép sử dụng xe sát hạch để vừa thực hiện sát hạch lái xe, vừa đào tạo lái xe nhưng số lượng xe sát hạch dùng để tính lưu lượng đào tạo không quá 50% số xe sát hạch sử dụng để dạy lái. Sân tập lái xe phải thuộc quyền sử dụng hợp pháp của cơ sở đào tạo lái xe.
Cùng với đó, Nghị định số 138/2018/NĐ-CP cũng sửa đổi điều kiện về giáo viên. Cụ thể, cơ sở đào tạo lái xe ô tô phải có đội ngũ giáo viên dạy lý thuyết, thực hành đáp ứng tiêu chuẩn quy định; đảm bảo có ít nhất 1 giáo viên dạy thực hành lái xe trên 01 xe tập lái.
Tiêu chuẩn chung giáo viên dạy lái xe phải đáp ứng tiêu chuẩn đối với nhà giáo dạy trình độ sơ cấp theo quy định của pháp luật về giáo dục nghề nghiệp.
Giáo viên dạy lý thuyết phải có bằng tốt nghiệp trung cấp trở lên một trong các chuyên ngành luật, công nghệ ô tô, công nghệ kỹ thuật ô tô, lắp ráp ô tô hoặc các ngành nghề khác có nội dung đào tạo chuyên ngành ô tô chiếm 30% trở lên, giáo viên dạy môn Kỹ thuật lái xe phải có giấy phép lái xe tương ứng hạng xe đào tạo trở lên.
Giáo viên dạy thực hành lái xe đáp ứng các tiêu chuẩn: (i) Có giấy phép lái xe hạng tương ứng hoặc cao hơn hạng xe đào tạo, nhưng không thấp hơn hạng B2; (ii) Giáo viên dạy các hạng B1, B2 phải có giấy phép lái xe đủ thời gian từ 3 năm trở lên, kể từ ngày trúng tuyển; (iii) Giáo viên dạy các hạng C, D, E và F phải có giấy phép lái xe đủ thời gian từ 5 năm trở lên kể từ ngày trúng tuyển; (iv) Đã qua tập huấn về nghiệp vụ dạy thực hành lái xe theo chương trình do cơ quan có thẩm quyền ban hành và được cấp Giấy chứng nhận giáo viên dạy thực hành lái xe theo mẫu quy định.
Có thể thấy, Nghị định số 138/2018/NĐ-CP đã có những quy định chi tiết hơn về điều kiện kinh doanh dịch vụ đào tạo lái xe ô tô và dịch vụ sát hạch lái xe, qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức có những sự chuẩn bị tốt nhất, đáp ứng điều kiện cần thiết khi tham gia vào các hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực này.

Bản tin pháp luật số 39/2018
Trả lời

Công bố tỷ giá hạch toán ngoại tệ tháng 10/2018
Trả lời

Ngày 28/09/2018, Kho bạc Nhà nước đã ban hành Thông báo số 4752/TB-KBNN công bố tỷ giá hạch toán ngoại tệ tháng 10/2018. Thông báo này có hiệu kể từ ngày ban hành.
Theo đó, Thông báo số 4752/TB-KBNN nêu rõ, tỷ giá hạch toán giữa VND với các đồng ngoại tệ như sau: 1 USD = 22.697 VND; 1 EURO (đồng tiền chung châu Âu) = 26.392 VND; 1 GBP (Bảng Anh) = 29.864 VND; 1 JPY (Yên Nhật) = 200 VND; 1 CNY (Nhân dân tệ Trung Quốc) = 3.299 VND; 1 HKD (Đôla Hồng Kông) = 2.902 VND; 1 CHF (Franc Thụy Sỹ) = 23.160 VND; 1 SGD (Đô la Singapore) = 16.567 VND; 1 RUB (RUB Nga) = 346 VND .v.v…
Bên cạnh đó, Thông báo số 4752/TB-KBNN cũng quy định tỷ giá hạch toán trên được áp dụng trong các nghiệp vụ: Quy đổi và hạch toán thu, chi ngân sách nhà nước bằng ngoại tệ kể cả các khoản thu hiện vật có gốc bằng ngoại tệ; Quy đổi và hạch toán sổ sách kế toán của Kho bạc Nhà nước.
Ngoài ra, Kho bạc Nhà nước cũng đề nghị các cơ quan tài chính, Kho bạc Nhà nước các tỉnh, thành phố và các đơn vị thụ hưởng ngân sách nhà nước căn cứ vào tỷ giá được thông báo để hạch toán và báo cáo thu chi ngoại tệ theo chế độ quy định.
Có thể thấy, việc công bố tỷ giá hạch toán có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động quy đổi, hạch thu, chi Ngân sách nhà nước bằng ngoại tệ, thông qua đó góp phần cho các hoạt động này được chính xác và thống nhất, phù hợp với tình hình tài chính Quốc gia cũng như tỷ giá tiền tệ Quốc tế.