Ngày 20/9/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 126/2018/NĐ-CP quy định về thành lập và hoạt động của cơ sở văn hóa nước ngoài tại Việt Nam. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 05/11/2018.
Theo đó, Nghị định số 126/2018/NĐ-CP quy định về trình tự, thủ tục thành lập chi nhánh cơ sở văn hóa nước ngoài ở Việt Nam, cụ thể như sau:
1. Về thành phần hồ sơ:
– Đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận đăng ký theo Mẫu số 01 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này;
– Dự kiến cơ cấu tổ chức và bộ máy;
– Dự thảo Quy chế hoạt động;
– Lý lịch người được dự kiến bổ nhiệm là người đại diện theo pháp luật.
Các văn bản trong hồ sơ nếu bằng tiếng nước ngoài phải kèm theo bản dịch tiếng Việt đã được công chứng.
2. Về trình tự, cách thức, thời hạn giải quyết và thẩm quyền:
– Bên nước ngoài đề nghị cấp Giấy chứng nhận đăng ký nộp trực tiếp hoặc qua bưu điện 01 bộ hồ sơ đến Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch;
– Trường hợp hồ sơ không đầy đủ, trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thông báo bằng văn bản gửi trực tiếp hoặc qua bưu điện hoặc thư điện tử cho bên nước ngoài để bổ sung hồ sơ;
– Trong thời hạn 15 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động.
3. Về thời hạn Giấy chứng nhận đăng ký:
– Nếu điều ước quốc tế có quy định về thời hạn hiệu lực, thời hạn Giấy chứng nhận đăng ký được căn cứ theo thời hạn hiệu lực của điều ước quốc tế đó và được gia hạn theo quy định.
– Nếu điều ước quốc tế không quy định về thời hạn hiệu lực, thời hạn Giấy chứng nhận đăng ký là 05 năm và được gia hạn, mỗi lần gia hạn không quá 05 năm theo quy định.
Có thể nhận thấy, Nghị định số 126/2018/NĐ-CP đã quy định rất cụ thể về trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận hoạt động của cơ sở văn hóa nước ngoài tại Việt Nam, những quy định này được kỳ vọng sẽ là tiền đề để các đơn vị, tổ chức nước ngoài phát triển các hoạt động văn hóa tại lãnh thổ Việt Nam.
Ngày 28/08/2018, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã ban hành Thông tư số 09/2018/TT-BLĐTBXH về hướng dẫn quy trình trợ giúp trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS. Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 15/10/2018
Theo đó, Thông tư số 09/2018/TT-BLĐTBXH quy định quy trình trợ giúp trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS tại các cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em, cơ sở trợ giúp xã hội và xã, phường, thị trấn, cụ thể:
– Đối tượng áp dụng: Người làm công tác bảo vệ trẻ em; cộng tác viên bảo vệ trẻ em, nhân viên công tác xã hội, cộng tác viên công tác xã hội; ủy ban nhân dân các cấp; cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em; cơ sở trợ giúp xã hội; cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan.
– Các nguyên tắc trợ giúp trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS:
• Bảo đảm sự tham gia của trẻ em;
• Bảo đảm không kỳ thị, không phân biệt đối xử.
• Bảo đảm bảo mật thông tin, việc tiết lộ thông tin bí mật đời sống riêng tư của trẻ em phải tuân thủ quy định của pháp luật và bảo đảm vì lợi ích tốt nhất của trẻ em.
– Các bước thực hiện quy trình trợ giúp trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS
• Tiếp nhận, phối hợp xử lý thông tin.
• Xác định nhu cầu cần trợ giúp của trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS.
• Lập kế hoạch trợ giúp trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS.
• Thực hiện kế hoạch trợ giúp trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS.
• Rà soát, đánh giá sau khi thực hiện kế hoạch trợ giúp trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS.
Như vậy, thông qua Thông tư số 09/2018/TT-BLĐTBXH Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã có những quy định chi tiết, thiết thực, thể hiện sự quan tâm kịp thời của Nhà nước đối với trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS, tiếp nối truyền thống tương thân, tương ái cao đẹp của dân tộc.
Ngày 12/9/2018, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 21/2018/TT-BYT quy định việc đăng ký lưu hành thuốc cổ truyền, dược liệu. Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 28/10/2018.
Thông tư số 21/2018/TT-BYT quy định chi tiết các nội dung sau đây: Tiêu chí xác định thuốc cổ truyền được miễn thử lâm sàng, miễn một số giai đoạn thử lâm sàng, phải thử lâm sàng giai đoạn 4, phải thử lâm sàng đầy đủ các giai đoạn tại Việt Nam và yêu cầu về dữ liệu lâm sàng để bảo đảm an toàn, hiệu quả làm cơ sở cấp giấy đăng ký lưu hành thuốc cổ truyền. Hồ sơ, thủ tục cấp, gia hạn, thay đổi, bổ sung, thu hồi giấy đăng ký lưu hành thuốc cổ truyền và dược liệu.
Thông tư áp dụng với các đối tượng: thuốc cổ truyền; vị thuốc cổ truyền được bào chế dưới dạng cổ truyền hoặc hiện đại; dược liệu thuộc danh mục dược liệu phải đăng ký lưu hành do Bộ Y tế ban hành theo quy định tại Điều 93 Nghị định số 54/2017/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Dược.
Theo đó, thuốc cổ truyền đề nghị cấp giấy đăng ký lưu hành phải tiếp tục theo dõi an toàn, hiệu quả nếu thuộc một trong các trường hợp sau:
– Thuốc cổ truyền có chứa dược liệu độc thuộc danh mục dược liệu có độc tính nguồn gốc khoáng vật tại Phụ lục III ban hành kèm Thông tư 42/2017/TT-BYT;
– Các dược liệu độc không đánh dấu * thuộc danh mục dược liệu có độc tính nguồn gốc thực vật, động vật tại Phụ lục I và II ban hành kèm Thông tư 42/2017/TT-BYT;
– Thuốc cổ truyền chưa có đầy đủ dữ liệu lâm sàng bảo đảm an toàn, hiệu quả;
– Thuốc cổ truyền được miễn một số giai đoạn thử lâm sàng.
Ngoài ra, thuốc cổ truyền đề nghị gia hạn giấy đăng ký lưu hành cũng thuộc diện phải tiếp tục theo dõi khi chưa có đủ dữ liệu lâm sàng về bảo đảm an toàn, hiệu quả. Lưu ý là thời hạn cấp, gia hạn giấy đăng ký lưu hành áp dụng cho các thuốc cổ truyền nêu trên là 03 năm.
Có thể thấy, Thông tư số 21/2018/TT-BYT được ban hành nhằm tạo khung pháp lý đầy đủ, rõ ràng cho việc đăng ký lưu hành thuốc cổ truyền, vừa giữ gìn các bài thuốc cổ truyền, đồng thời vẫn đảm bảo vai trò quản lý của nhà nước.
Ngày 17/10/2018, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã ban hành Thông tư số 17/2018/TT-BLĐTBXH hướng dẫn một số quy định về tự kiểm tra việc thực hiện pháp luật lao động của doanh nghiệp. Thông tư này sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2019.
Theo đó, Thông tư số 17/2018/TT-BLĐTBXH quy định về nghĩa vụ của doanh nghiệp trong việc tự kiểm tra và báo cáo kết quả tự kiểm tra pháp luật lao động tới cơ quan Thanh tra nhà nước về lao động, cụ thể như sau:
– Số lần kiểm tra trong năm: Ít nhất 01 lần trong 1 năm doanh nghiệp phải thực hiện hoạt động tự kiểm tra;
– Thời gian kiểm tra: Do doanh nghiệp quyết định;
– Thời kỳ kiểm tra: Từ ngày đầu tiên tháng một dương lịch của năm trước đến thời điểm kiểm tra;
– Nội dung tự kiểm tra: Việc thực hiện báo cáo định kỳ; Việc tuyển dụng và đào tạo lao động; Việc giao kết và thực hiện hợp đồng lao động; Việc đối thoại, thương lượng và ký kết thỏa ước lao động tập thể; Thời giờ làm việc và nghỉ ngơi; Việc trả lương cho người lao động; Việc tổ chức, thực hiện công tác an toàn, vệ sinh lao động; Việc thực hiện các quy định đối với lao động nữ, lao động là người cao tuổi, lao động chưa thành niên, lao động là người khuyết tật, lao động là người nước ngoài; Việc xây dựng và đăng ký nội quy lao động; xử lý kỷ luật lao động, bồi thường trách nhiệm vật chất; Việc tham gia và trích đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế hàng tháng cho người lao động thuộc đối tượng phải tham gia; Việc giải quyết tranh chấp và khiếu nại về lao động;
– Hồ sơ tự kiểm tra: Phiếu tự kiểm tra; kết luận tự kiểm tra; văn bản thành lập đoàn tự kiểm tra và các tài liệu, hồ sơ phát sinh.
– Báo cáo kết quả kiểm tra: Doanh nghiệp phối hợp với đại diện tập thể lao động thực hiện báo cáo trực tuyến khi có yêu cầu của cơ quan Thanh tra lao động.
Có thể nhận thấy, quy định về việc tự kiểm tra kiến việc pháp luật lao động tại doanh nghiệp sẽ góp phần nâng cao tinh thần tự giác của doanh nghiệp trong quá trình hoạt động, đồng thời cũng thể hiện chính sách của pháp luật Việt Nam trong việc nâng cao quyền tự do, tự chủ của doanh nghiệp trong khuôn khổ của pháp luật.
Ngày 15/10/2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 143/2018/NĐ-CP quy định chi tiết luật bảo hiểm xã hội và luật an toàn, vệ sinh lao động về bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với người lao động là công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.
Theo đó, Nghị định số 143/2018/NĐ-CP có những nội dung mới nổi bật đáng chú ý như sau:
Người lao động là công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam có giấy phép lao động hoặc chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành nghề do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp và có hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn từ đủ 01 năm trở lên với người sử dụng lao động tại Việt Nam sẽ là đối tượng phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc. Theo đó, người lao động nước là công dân nước ngoài sẽ thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc sau đây: ốm đau; thai sản; bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; hưu trí và tử tuất.
Trong trường hợp người lao động là công dân nước ngoài chấm dứt hợp đồng lao động hoặc thời điểm giấy phép lao động, chứng chỉ hành nghề, giấy phép hành nghề hết hiệu lực (tùy thuộc điều kiện nào đến trước) mà người lao động không tiếp tục làm việc theo hợp đồng lao động hoặc không được gia hạn giấy phép, người lao động có quyền hưởng bảo hiểm xã hội một lần.
Có thể thấy, Nghị định số 143/2018/NĐ-CP đã có những quy định cụ thể, hướng dẫn chi tiết về Bảo hiểm xã hội cho đối tượng đặc thù là người ngoài, qua đó tạo điều kiện thuận cho quá trình làm việc cũng như sinh sống của họ tại Việt Nam, cũng như tăng cường sự quản lý của Nhà nước đối với các đối tượng này.
Ngày 17/10/2018, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ban hành Thông tư số 03/2018/TT-BKHĐT hướng dẫn và ban hành mẫu văn bản thực hiện thủ tục đầu tư ra nước ngoài do Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành. Thông tư này sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 01/12/2018.
Theo đó, Thông tư số 03/2018/TT-BKHĐT ban hành các mẫu văn bản thực hiện thủ tục đầu tư ra nước ngoài kèm theo, bao gồm:
– Mẫu số 1: Bản đề nghị cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài;
– Mẫu số 2: Đề xuất dự án đầu tư ra nước ngoài;Mẫu số 3: Bản đề nghị điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài;
– Mẫu số 4: Giải trình về điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài;
– Mẫu số 5: Văn bản cam kết tự thu xếp ngoại tệ;
– Mẫu số 6: Văn bản cam kết thu xếp ngoại tệ của tổ chức tín dụng được phép;
– Mẫu số 7: Văn bản xác nhận việc nhà đầu tư thực hiện nghĩa vụ nộp thuế với nhà nước;
– Mẫu số 8a: Mẫu Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài (đăng ký lần đầu);
– Mẫu số 8b: Mẫu Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài (đăng ký điều chỉnh);
– Mẫu số 9: Thông báo hoạt động đầu tư ở nước ngoài;
– Mẫu số 10: Báo cáo định kỳ hàng quý tình hình thực hiện dự án tại nước ngoài;
– Mẫu số 11: Báo cáo định kỳ hàng năm tình hình thực hiện dự án tại nước ngoài;
– Mẫu số 12: Mẫu báo cáo tình hình hoạt động đầu tư ra nước ngoài hàng năm sau khi có quyết toán thuế tại nước ngoài;
– Mẫu số 13: Mẫu văn bản đề nghị gia hạn việc chuyển lợi nhuận về nước;
– Mẫu số 14: Mẫu chấp thuận việc gia hạn chuyển lợi nhuận về nước;
– Mẫu số 15: Mẫu thông báo của nhà đầu tư gửi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam áp dụng đối với trường hợp nhà đầu tư chuyển toàn bộ vốn đầu tư ở nước ngoài cho nhà đầu tư nước ngoài;
– Mẫu số 16: Mẫu văn bản đề nghị chấm dứt hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài;
– Mẫu số 17: Mẫu văn bản thông báo chấm dứt hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài.
Có thể thấy, bằng việc ban hành các biểu mẫu thực hiện thủ tục đầu tư ra nước ngoài qua Thông tư số 03/2018/TT-BKHĐT được kỳ vọng sẽ góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp thực hiện thủ tục đầu tư ra nước ngoài, đồng thời góp phần giúp quá trình áp dụng và quản lý của cơ quan nhà nước được thống nhất và hiệu quả hơn.
Ngày 16/10/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 144/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung các nghị định về vận tải đa phương thức. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.
Theo đó, Nghị định 144/2018/NĐ-CP có những quy định mới đáng chú ý, cụ thể như sau:
Thứ nhất, doanh nghiệp, hợp tác xã Việt Nam, doanh nghiệp nước ngoài đầu tư tại Việt Nam chỉ được kinh doanh vận tải đa phương thức quốc tế sau khi có Giấy phép kinh doanh vận tải đa phương thức quốc tế trên cơ sở đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:
– Duy trì tài sản tối thiểu tương đương 80.000 SDR (Quyền rút vốn đặc biệt) hoặc có bảo lãnh tương đương hoặc có phương án tài chính thay thế theo quy định của pháp luật;
– Có bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp vận tải đa phương thức hoặc có bảo lãnh tương đương.
Bên cạnh đó, Nghị định này cũng đã bãi bỏ quy định doanh nghiệp phải có Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh trong đó có đăng ký ngành nghề kinh doanh vận tải đa phương thức quốc tế. Quy định này, nhằm tránh sự lặp lại không cần thiết bời vì khi doanh nghiệp muốn kinh doanh vận tải đa phương thức quốc tế, thì cũng nhất thiết phải có “Giấy phép kinh doanh vận tải đa phương thức quốc tế”.
Thứ hai, doanh nghiệp của các quốc gia là thành viên Hiệp định khung ASEAN về vận tải đa phương thức hoặc là doanh nghiệp của quốc gia đã ký điều ước quốc tế với Việt Nam về vận tải đa phương thức chỉ được kinh doanh vận tải đa phương thức quốc tế sau khi có Giấy phép kinh doanh vận tải đa phương thức quốc tế của Việt Nam trên cơ sở đáp ứng đủ các điều kiện sau:
– Có Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh vận tải đa phương thức quốc tế hoặc giấy tờ tương đương do cơ quan có thẩm quyền nước đó cấp;
– Có bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp vận tải đa phương thức hoặc có bảo lãnh tương đương.
Ngoài ra, Nghị định số 144/2018/NĐ-CP cũng quy định Bộ Giao thông vận tải có thẩm quyền và trách nhiệm tổ chức quản lý và cấp Giấy phép kinh doanh vận tải đa phương thức quốc tế.
Như vậy, Nghị định số 144/2018/NĐ-CP với những quy định chi tiết và cụ thể, được kỳ vọng sẽ mang đến những thay đổi đáng kể, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến việc cắt giảm một số điều kiện liên quan đến kinh doanh vận tải đa phương thức quốc tế. Qua đó, góp phần tạo điều kiện nhằm xóa bỏ những rào cản hiện tại, khuyến khích doanh nghiệp đẩy mạnh hoạt động, kinh doanh trong lĩnh vực này nhằm mục tiêu phát triển doanh nghiệp nói riêng và kinh tế quốc gia nói chung.
Ngày 12/09/2018, Bộ tài chính đã ban hành Thông tư số 25/2018/TT-BTC hướng dẫn xác định giá điện kinh doanh cho đơn vị kinh doanh dịch vụ cho thuê nhà trọ. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 26/10/2018.
Theo đó, trong việc xác định giá bán lẻ điện dành cho đối tượng sinh viên, người lao động khi thuê nhà đã có nhiều thay đổi, cụ thể như sau:
Bãi bỏ quy định về việc chủ nhà trọ có thể thu tiền điện của người thuê nhà theo giá bán điện trên hóa đơn tiền điện cộng thêm 10% cho tổn thất điện năng, chi phí chiếu sáng và bơm nước chung. Thay vào đó, chủ nhà trọ này có nghĩa vụ kê khai, thông báo cho đơn vị bán điện số người sử dụng điện để làm căn cứ xác định định mức áp dụng giá bán lẻ điện sinh hoạt theo nguyên tắc 4 người được tính là một hộ sử dụng điện, 1 người là ¼ định mức, 2 người là ½ định mức, 3 người là ¾ định mức, 4 người là 1 định mức.
Trường hợp xảy ra sự thay đổi về số người sử dụng điện, chủ nhà cho thuê có trách nhiệm thông báo cho bên bán điện để điều chỉnh định mức tính toán tiền điện
Trường hợp bên chủ nhà trọ không thể đăng kí được đầy đủ số người sử dụng điện thì giá bán điện được áp dụng theo bậc 3 là 1450 đồng/Kwh.
Bên cạnh đó, Thông tư này cũng quy định cơ quan bán điện có quyền kiểm tra, yêu cầu cung cấp sổ đăng kí tạm trú hàng tháng để xác định số người tính định mức khi tính toán hóa đơn tiền điện.
Như vậy, với việc Thông tư số 25/2018/TT-BTC được ban hành, việc xác định giá bán điện cho học sinh, người lao động đã được siết chặt, gắn liền với trách nhiệm của chủ nhà cho thuê và được đảm bảo thông qua hoạt động kiểm tra cho đơn vị bán điện góp phần hạn chế việc người thuê nhà phải sử dụng điện với mức giá cao hơn quy định của Nhà nước.
Ngày 15/10/2018, UBND thành phố Hà Nội đã ban hành Quyết định số 25/2018/QĐ-UBND quy định về hồ sơ, trình tự, thủ tục thực hiện việc hộ gia đình cá nhân thực hiện việc đưa Quyền sử dụng đất (“QSDĐ”) vào doanh nghiệp.Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 25/10/2018.
Theo đó, các hộ gia đình, cá nhân được UBND huyện cho thuê đất hoặc giao đất để sử dụng vào mục đích sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp trong trường hợp muốn đưa QSDĐ của mình vào doanh nghiệp thì được thực hiện theo quy trình như sau. Tổ chức nhận QSDĐ nộp hồ sơ tới Sở Tài nguyên môi trường gồm:
– Mẫu đăng kí biến động QSDĐ;
– Các tài liệu liên quan tới nguồn gốc sử dụng đất;
– Hồ sơ đăng kí kinh doanh của doanh nghiệp;
– Hồ sơ dự án; kế hoạch sử dụng đất
Căn cứ vào mục đích sử dụng đất của doanh nghiệp, Sở Tài nguyên Môi trường sẽ hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện các thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất, ký hợp đồng thuê đất và kê khai xin cấp Giấy chứng nhận QSDĐ.
Đặc biệt giá thuê đất với doanh nghiệp được xác định theo giá thuê đất đã được tính cho hộ gia đình, cá nhân
Như vậy, với việc Quyết định 25/2018 được ban hành, UBND thành phố Hà Nội đang từng bước hiện thực hóa các chính sách hỗ trợ, đẩy mạnh phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn thành phố Hà Nội.