Nhiều ngân hàng tăng mạnh lãi suất huy động
Với mong muốn bổ sung thêm nguồn vốn trung, dài hạn để phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh cuối năm, đồng thời giảm...
Bùng nổ nhượng quyền thương hiệu vào Việt Nam
Hoạt động nhượng quyền đang được giới kinh doanh vận dụng để đưa các thương hiệu nước ngoài vào thị trường Việt Nam. Ngoài lĩnh...
6 ngành kinh tế phát triển mũi nhọn khu vực miền Trung
Có 6 lĩnh vực kinh tế biển, ven biển đang được các tỉnh miền Trung tập trung phát triển và đã đạt được những kết...
91.9% doanh nghiệp lạc quan về hoạt động sản xuất 6 tháng cuối năm
Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có tỷ lệ doanh nghiệp dự báo về khối lượng sản xuất khả...
Việt Nam chuyển dần từ nhập siêu sang xuất siêu với CPTPP
Với hầu hết các hiệp định thương mại (FTA) đã ký, Việt Nam thường nhập siêu, thì nay, khi thực hiện CPTTP, trong 7 tháng...
Giải đáp pháp luật
Tiếp tục áp dụng biện pháp tự vệ đối với phôi thép và thép dài nhập khẩu
Trả lời

Ngày 30/10/2018, Bộ Công thương đã ban hành Quyết định số 4086/QĐ-BCT về kết quả rà soát giữa kỳ việc áp dụng biện pháp tự vệ đối với sản phẩm phôi thép và thép dài. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.
Theo đó, biện pháp tự vệ sẽ được duy trì áp dụng đối với sản phẩm phôi thép và thép dài với các mã HS 7207.11.00; 7207.19.00; 7207.20.29; 7207.20.99; 7224.90.00; 7213.10.00; 7213.91.20; 7214.20.31; 7214.20.41; 7227.90.00; 7228.30.10; và 9811.00.00.
Về mức thuế áp dụng, đối với sản phẩm thép dài, từ ngày 22/3/2018 đến ngày 21/3/2019 mức áp thuế tự vệ là 12,4%; từ ngày 22/3/2019 – 21/3/2020 mức thuế là 10,9%; từ ngày 22/3/2020 trở đi mức thuế về 0% nếu không gia hạn.
Đối với sản phẩm phôi thép, từ ngày 22/3/2018 – 21/3/2019 mức áp thuế tự vệ là 19,3%; từ ngày 22/3/2019 – 21/3/2020 mức thuế là 17,3%; từ ngày 22/3/2020 trở đi mức thuế về 0% nếu không gia hạn.
Ngoài ra, Quyết định số 4086/QĐ-BCT cũng quy định để được loại trừ áp dụng biện pháp tự vệ chính thức, bên cạnh các giấy tờ theo quy định của cơ quan hải quan và cơ quan chuyên ngành, khi nhập khẩu hàng hóa, tổ chức, cá nhân cần cung cấp cho cơ quan hải quan Giấy chứng nhận xuất xứ phù hợp với các quy định hiện hành, trên đó ghi rõ hàng hóa nhập khẩu có xuất xứ từ nước/vùng lãnh thổ có tên trong danh sách loại trừ ban hành kèm theo.
Có thể thấy, việc áp dụng biện pháp tự vệ thông qua những đánh giá trực tiếp của Cơ quan điều tra đối với việc sản xuất, nhập khẩu các sản phẩm phôi thép, thép dài ở Việt Nam sẽ góp phần bảo đảm cho việc thực hiện đúng về quy chuẩn số lượng, kim ngạch nhập khẩu cũng như tang cường sự ổn định thị trường đối với các sản phẩm này tại Việt Nam.

Chứng nhận xuất xứ hàng hóa theo chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập của Liên minh châu Âu, Na Uy, Thụy Sỹ và Thổ Nhĩ Kỳ
Trả lời

Ngày 30/10/2018, Bộ Công thương đã ban hành Thông tư số 38/2018/TT-BCT quy định thực hiện chứng nhận xuất xứ hàng hóa theo chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập của Liên minh châu Âu, Na Uy, Thụy Sỹ và Thổ Nhĩ Kỳ. Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 14/12/2018
Theo đó, Thông tư số 38/2018/TT-BCT quy định về thủ tục chứng nhận xuất xứ hàng hóa đối với các thương nhân xuất khẩu hàng hóa sang Liên minh châu Âu, Na Uy, Thụy Sỹ và Thổ Nhĩ Kỳ theo chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập của các quốc gia này, cụ thể như sau:
Thứ nhất, Thương nhân muốn được hưởng ưu đãi thuế quan khi xuất khẩu sang Liên minh châu Âu, Na Uy, Thụy Sỹ và Thổ Nhĩ Kỳ phải đăng ký mã số REX tại tổ chức tiếp nhận đăng ký mã số REX và phát hành chứng từ chứng nhận xuất xứ theo quy định GSP.
Thứ hai, đối với lô hàng xuất khẩu theo GSP có tổng trị giá không vượt quá 6.000 (sáu nghìn) EUR (tính theo giá xuất xưởng), thương nhân được chứng nhận xuất xứ cho lô hàng đó mà không phải đăng ký mã số REX theo quy định tại Điều này.
Thứ ba, các trường hợp được miễn chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa theo GSP:
– Trường hợp 1: Chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa theo GSP được miễn khi hàng hóa đóng gói nhỏ có tổng trị giá không vượt quá 500 (năm trăm) EUR hoặc hàng hóa là hành lý cá nhân có tổng trị giá không vượt quá 1.200 (một nghìn hai trăm) EUR.
– Trường hợp 2: Hàng hóa nêu tại trường hợp 1 nêu trên không được nhập khẩu với mục đích thương mại, chỉ với mục đích sử dụng cá nhân và việc nhập khẩu diễn ra không thường xuyên.
Như vậy, để đảm bảo điều kiện được hưởng các ưu đãi thuế quan đối với hàng hóa của Việt Nam xuất khẩu tới khu vực Liên minh châu Âu, Na Uy, Thụy Sỹ, Thổ Nhĩ Kỳ thì cần đáp ứng các điều kiện về chứng nhận xuất xứ hàng hóa. Quy định này góp phần vào nâng cao uy tín, chất lượng và thương hiệu hàng hóa Việt Nam đối với các thị trường khó tính trên Thế Giới. Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng khi Việt Nam còn đang trong giai đoạn hội nhập kinh tế Toàn cầu.

Bản tin pháp luật số 43/2018
Trả lời

Ban hành danh mục thực phẩm chức năng dành cho trẻ em dưới 06 tuổi thuộc diện kê khai giá
Trả lời

Ngày 12/09/2018, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 22/2018/TT-BYT quy định danh mục thực phẩm chức năng dành cho trẻ em dưới 06 tuổi thuộc diện kê khai giá. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 01/11/2018.
Theo đó, Thông tư số 22/2018/TT-BYT quy định danh mục thực phẩm chức năng dành cho trẻ em dưới 06 tuổi thuộc diện kê khai giá bao gồm:
– Thực phẩm bảo vệ sức khỏe;
– Thực phẩm dinh dưỡng y học;
– Thực phẩm bổ sung, bao gồm sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ đến 36 tháng tuổi.
Đồng thời, Thông tư này cũng quy định về trách nhiệm công bố danh mục sản phẩm thực phẩm dành cho trẻ em dưới 06 tuổi thuộc diện kê khai giá trên trang thông tin điện tử của các cơ quan hoặc trên các phương tiện thông tin đại chúng.
Có thể thấy, Thông tư số 22/2018/TT-BYT đã hướng dẫn cụ thể về việc quy định các loại thực phẩm chức năng dành cho bé dưới 06 tuổi, tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý nhà nước trong quản lý thị trường về lĩnh vực sức khỏe, đặc biệt là các sản phẩm được sử dụng cho trẻ em.

Quy định mới về thu hồi và xử lý thực phẩm không bảo đảm an toàn thuộc thẩm quyền quản lý của bộ y tế
Trả lời

Ngày 14/09/2018, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 23/2018/TT-BYT quy định việc thu hồi và xử lý thực phẩm không bảo đảm an toàn thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Y tế. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 01/11/2018.
Theo đó, Thông tư số 23/2018/TT-BYT có các nội dung chính như sau:
1. Thực phẩm không bảo đảm an toàn có thể bị thu hồi theo 2 hình thức sau:
– Thu hồi tự nguyện là việc thu hồi sản phẩm do tổ chức, cá nhân đăng ký bản công bố hoặc tự công bố sản phẩm (sau đây gọi tắt là chủ sản phẩm), tự nguyện thực hiện khi tự phát hiện hoặc nhận được thông tin phản ảnh của tổ chức, cá nhân về sản phẩm không bảo đảm an toàn do tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh và không thuộc trường hợp thu hồi bắt buộc.
– Thu hồi bắt buộc là việc chủ sản phẩm thu hồi sản phẩm không bảo đảm an toàn theo quyết định thu hồi của cơ quan có thẩm quyền sau đây: Cơ quan tiếp nhận hồ sơ tự công bố hoặc cấp Giấy tiếp nhận đăng ký bản công bố sản phẩm quy định tại Nghị định số 15/2018/NĐ-CP ngày 02 tháng 02 năm 2018 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật An toàn thực phẩm (sau đây gọi tắt là cơ quan có thẩm quyền về an toàn thực phẩm); Cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm theo quy định của pháp luật.
2. Sản phẩm phải thu hồi được xử lý theo một trong các hình thức sau:
– Khắc phục lỗi ghi nhãn: áp dụng đối với trường hợp sản phẩm vi phạm về ghi nhãn so với hồ sơ tự công bố hoặc hồ sơ đăng ký bản công bố sản phẩm;
– Chuyển mục đích sử dụng: áp dụng đối với trường hợp sản phẩm vi phạm có nguy cơ gây ảnh hưởng tới sức khỏe người tiêu dùng không sử dụng được trong thực phẩm nhưng có thể sử dụng vào lĩnh vực khác;
– Tái xuất: áp dụng đối với trường hợp sản phẩm nhập khẩu có chất lượng, mức giới hạn an toàn không phù hợp với hồ sơ tự công bố hoặc hồ sơ đăng ký bản công bố sản phẩm hoặc gây ảnh hưởng tới sức khỏe người tiêu dùng;
– Tiêu hủy: áp dụng đối với trường hợp sản phẩm có chỉ tiêu chất lượng hoặc mức giới hạn an toàn không phù hợp với hồ sơ tự công bố hoặc hồ sơ đăng ký bản công bố sản phẩm gây ảnh hưởng tới sức khỏe người tiêu dùng, không thể chuyển mục đích sử dụng hoặc tái xuất theo quy định trên.
Có thể thấy, Thông tư số 23/2018/TT-BYT được ban hành sẽ tạo ra cơ chế rõ ràng, cụ thể trong việc thu hồi và xử lý các thực phẩm không bảo đảm an toàn thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Y tế, khắc phục những điểm bất cập tồn tại trong thời gian qua.

Quy định mới về việc giữ bí mật, cung cấp thông tin khách hàng của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
Trả lời

Ngày 11/08/2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 117/2018/NĐ-CP quy định về việc giữ bí mật, cung cấp thông tin khách hàng của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 01/11/2018.
Theo đó, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, phải đảm bảo nguyên tắc giữ bí mật, cung cấp thông tin khách hàng, cụ thể tại Điều 4, Nghị định 117/2018/CP-NĐ nêu rõ:
– Thông tin khách hàng phải được giữ bí mật và chỉ được cung cấp theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017, Nghị định này và pháp luật có liên quan;
– Không được cung cấp thông tin xác thực khách hàng khi truy cập các dịch vụ ngân hàng, trừ trường hợp được sự chấp thuận của khách hàng đó bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác theo thỏa thuận với khách hàng đó;
– Cơ quan, tổ chức, cá nhân phải lưu trữ, bảo quản theo quy định của pháp luật về lưu trữ, bảo quản hồ sơ, tài liệu đối với thông tin khách hàng, hồ sơ yêu cầu cung cấp thông tin khách hàng, việc giao nhận thông tin khách hàng.
Bên cạnh đó, Nghị định số 117/2018/NĐ-CP cũng quy định các trường hợp cung cấp thông tin khách hàng. Cụ thể, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài chỉ được cung cấp thông tin khách hàng cho tổ chức khác, cá nhân thuộc một trong các trường hợp sau đây: Tổ chức khác, cá nhân có quyền yêu cầu tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cung cấp thông tin khách hàng được quy định cụ thể tại bộ luật, luật, nghị quyết của Quốc hội; có chấp thuận của khách hàng bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác theo thỏa thuận với khách hàng.
Có thể thấy, Nghị định số 117/2018/NĐ-CP được ban hành đã tạo cơ sở pháp lý để việc giữ bí mật và cung cấp thông tin được thực hiện thống nhất, đồng bộ, rõ ràng, minh bạch, đảm bảo quyền riêng tư của khách hàng; đồng thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc của các Tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài trong việc cung cấp thông tin khách hàng, cũng như hỗ trợ các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện nhiệm vụ thu thập thông tin, tài liệu, chứng cứ kịp thời.

Bãi bỏ nhiều quy định về chế độ báo cáo định kỳ của ngân hàng
Trả lời

Ngày 28/09/2018, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành Thông tư số 24/2018/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều của các thông tư, văn bản có quy định về chế độ báo cáo định kỳ. Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 15/11/2018.
Theo đó, Thông tư số 24/2018/TT-NHNN có những nội dung mới đáng chú ý, cụ thể như sau:
– Bãi bỏ báo cáo của người đại diện về tình hình hoạt động kinh doanh, tài chính của Ngân hàng hợp tác xã tại Quyết định số 61/2006/QĐ-NHNN ngày 29/12/2006, cụ thể:
+ Bãi bỏ Khoản 1 Điều 11 Quy chế ban hành kèm theo Quyết định 61;
+ Bãi bỏ Phụ lục ban hành kèm theo Quyết định 61.
– Bãi bỏ báo cáo định kỳ hàng năm về tình hình đầu tư gián tiếp ra nước ngoài đối với trường hợp được Thủ tướng chấp thuận tại Khoản 2 Điều 34 Thông tư 10/2016/TT-NHNN ngày 29/6/2016.
– Bãi bỏ báo cáo tình hình mua bán ngoại tệ của các tổ chức tín dụng được phép với cá nhân tại Thông tư số 20/2011/TT-NHNN ngày 29/8/2011.
– Bãi bỏ báo cáo định kỳ hàng năm về thực hiện các yêu cầu kỹ thuật an toàn bảo mật đối với trang thiết bị phục vụ thanh toán thẻ ngân hàng tại Thông tư số 47/2014/TT-NHNN ngày 31/12/2014.
– Bãi bỏ báo cáo định kỳ hàng năm về an toàn bảo mật cho dịch vụ ngân hàng trên Internet tại Thông tư số 36/2016/TT-NHNN ngày 29/12/2016.
Có thể thấy, thông qua việc bãi bỏ nhiều quy định về chế độ báo cáo định kỳ của ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đẫ và đang đẩy mạnh việc cải cách các thủ tục theo hướng đơn giản hóa, qua đó nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức tín dụng cũng như hiệu quả quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực này.

Quy định về hóa đơn điện tử khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ
Trả lời

Ngày 12/09/2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 119/2018/NĐ-CP quy định về hóa đơn điện tử khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/11/2018.
Theo đó, Nghị định số 119/2018/NĐ-CP có những nội dung mới đáng chú ý như sau:
1. Doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức khác sử dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ, không phân biệt giá trị từng lần bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ.
2. Doanh nghiệp kinh doanh ở các lĩnh vực: điện lực; xăng dầu; bưu chính viễn thông; vận tải hàng không, đường bộ, đường sắt, đường biển, đường thủy; nước sạch; tài chính tín dụng; bảo hiểm; y tế; kinh doanh thương mại điện tử; kinh doanh siêu thị; thương mại và các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế đã hoặc sẽ thực hiện giao dịch với cơ quan thuế bằng phương tiện điện tử, xây dựng hạ tầng công nghệ thông tin, có hệ thống phần mềm kế toán, phần mềm lập hóa đơn điện tử đáp ứng lập, tra cứu hóa đơn điện tử, lưu trữ dữ liệu hóa đơn điện tử theo quy định và đảm bảo việc truyền dữ liệu hóa đơn điện tử đến người mua và đến cơ quan thuế thì được sử dụng hóa đơn điện tử không có mã của cơ quan thuế (trừ trường hợp sử dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế) khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ, không phân biệt giá trị từng lần bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ.
3. Doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức khác thuộc trường hợp rủi ro cao về thuế thì sử dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ, không phân biệt giá trị từng lần bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ.
Như vậy, Nghị định số 119/2018/NĐ-CP đã có những quy định chi tiết và kịp thời nhằm khắc phục tình trạng làm giả hóa đơn, góp phần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, tiết kiệm thời gian, chi phí cho doanh nghiệp khi thực hiện các thủ tục hành chính thuế.

Bãi bỏ quy định cấp giấy phép nhập khẩu tự động xe gắn máy phân khối lớn từ 175 cm3 trở lên
Trả lời

Ngày 19/09/2018, Bộ Công thương đã ban hành Thông tư số 27/2018/TT-BCT bãi bỏ quy định cấp giấy phép nhập khẩu tự động xe gắn máy phân khối lớn từ 175 cm3 trở lên. Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 05/11/2018.
Theo đó, Thông tư số 27/2018/TT-BCT quy định thương nhân nhập khẩu xe gắn máy phân khối lớn từ 175 cm3 trở lên không phải đăng ký cấp Giấy phép nhập khẩu tự động tại Bộ Công Thương, chỉ cần làm thủ tục nhập khẩu tại cơ quan hải quan theo quy định hiện hành.
Trước đó, tháng 08/2017, Bộ Công thương đã ban hành Thông tư số 14/2017/TT-BCT bãi bỏ quy định việc áp dụng chế độ cấp giấy phép nhập khẩu tự động đối với một số sản phẩm thép. Như vậy, cùng với việc ban hành Thông tư số 27/2018/TT-BCT, Bộ Công Thương không còn áp dụng giấy phép tự động đối bất kỳ hàng hóa xuất nhập khẩu nào.
Có thể thấy, việc bãi bỏ hoàn toàn thủ cấp giấy phép nhập khẩu tự động xe gắn máy phân khối lớn từ 175 cm3 trở lên là một nỗ lực tiếp theo của Bộ Công thương trong hoạt động cải cách thủ tục hành chính và tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp, góp phần nhằm cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong giai đoạn hiện nay.

Các trường hợp được cấp miễn phí hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế
Trả lời

Ngày 12/09/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 119/2018/NĐ-CP quy định về hóa đơn điện tử khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/11/2018.
Theo đó, Nghị định số 119/2018/NĐ-CP quy định về các trường hợp được cấp miễn phí hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế, cụ thể:
Một là doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, hộ, cá nhân kinh doanh tại địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn.
Hai là doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo theo quy định pháp luật và hộ, cá nhân kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp trong thời gian 12 tháng kể từ khi thành lập doanh nghiệp.
Ba là hộ, cá nhân kinh doanh có doanh thu năm trước liền kề từ 03 tỷ đồng trở lên trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, công nghiệp, xây dựng hoặc có doanh thu năm trước liền kề từ 10 tỷ đồng trở lên trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ trong thời gian 12 tháng kể từ tháng áp dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế theo quy định.
Bốn là doanh nghiệp nhỏ và vừa khác theo đề nghị của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và quy định của Bộ Tài chính trừ doanh nghiệp hoạt động tại các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu công nghệ cao.
Năm là các trường hợp khác cần thiết để khuyến khích sử dụng hóa đơn điện tử do Bộ Tài chính quyết định.
Bên cạnh đó, Nghị định này cũng quy định tổ chức cung cấp dịch vụ hóa đơn điện tử khi cung cấp dịch vụ hóa đơn điện tử được thu tiền dịch vụ theo thỏa thuận tại Hợp đồng ký giữa tổ chức cung cấp dịch vụ và bên nhận dịch vụ là các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, hộ, cá nhân kinh doanh không thuộc các trường hợp được sử dụng miễn phí trên.
Có thể thấy, Nghị định số 119/2018/NĐ-CP đã quy định chi tiết và cụ thể các trường hợp được cấp miễn phí hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế, qua đó có sự phân loại cũng như tạo tiền đề để có những hỗ trợ phù hợp, kịp thời đối với từng loại đối tượng, đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả của quản lý nhà nước trong hoạt động của các đối tượng này.