Nhiều ngân hàng tăng mạnh lãi suất huy động
Với mong muốn bổ sung thêm nguồn vốn trung, dài hạn để phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh cuối năm, đồng thời giảm...
Bùng nổ nhượng quyền thương hiệu vào Việt Nam
Hoạt động nhượng quyền đang được giới kinh doanh vận dụng để đưa các thương hiệu nước ngoài vào thị trường Việt Nam. Ngoài lĩnh...
6 ngành kinh tế phát triển mũi nhọn khu vực miền Trung
Có 6 lĩnh vực kinh tế biển, ven biển đang được các tỉnh miền Trung tập trung phát triển và đã đạt được những kết...
91.9% doanh nghiệp lạc quan về hoạt động sản xuất 6 tháng cuối năm
Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có tỷ lệ doanh nghiệp dự báo về khối lượng sản xuất khả...
Việt Nam chuyển dần từ nhập siêu sang xuất siêu với CPTPP
Với hầu hết các hiệp định thương mại (FTA) đã ký, Việt Nam thường nhập siêu, thì nay, khi thực hiện CPTTP, trong 7 tháng...
Giải đáp pháp luật
Quy định mới về tạm ngừng kinh doanh tạm nhập, tái xuất gỗ tròn, gỗ xẻ từ rừng tự nhiên từ Lào và Campuchia
Trả lời

Ngày 15/11/2018, Bộ Công thương đã ban hành thông tư số 44/2018/TT-BCT quy định về tạm ngừng kinh doanh tạm nhập, tái xuất gỗ tròn, gỗ xẻ từ rừng tự nhiên từ Lào và Campuchia. Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2019.
Theo đó, việc tạm ngừng kinh doanh tạm nhập, tái xuất gỗ tròn, gỗ xẻ từ rừng tự nhiên từ Lào và Campuchia sẽ được áp dụng với các đối tượng sau:
1. Thương nhân tham gia hoạt động kinh doanh tạm nhập, tái xuất gỗ tròn, gỗ xẻ từ Lào và Campuchia;
2. Các cơ quan, tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh tạm nhập, tái xuất gỗ tròn, gỗ xẻ từ Lào và Campuchia;
3. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến hoạt động kinh doanh tạm nhập, tái xuất gỗ tròn, gỗ xẻ từ Lào và Campuchia.
Có thể thấy, việc ban hành Thông tư số 44/2018/TT-BCT sẽ góp thể hiện vai trò quản lý nhà nước đối với hoạt động tạm nhập, tái xuất gỗ nói chung, qua đó nâng cao chất lượng quản lý trong các hoạt động bảo vệ, gìn giữ và hạn chế việc khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên, trong bối cảnh môi trường đang gặp nhiều thách thức, biến động xấu như hiện nay.

Điều kiện sản xuất, kinh doanh thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của Bộ Y tế
Trả lời

Ngày 12/11/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 155/2018/NĐ-CP sửa đổi quy định liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Y tế. Nghị định này có hiệu lực từ ngày ban hành.
Theo đó, Nghị định số 155/2018/NĐ-CP quy định về điều kiện sản xuất, kinh doanh thực phẩm thuộc lĩnh vực quản lý chuyên ngành của Bộ Y Tế như sau:
– Về cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Y tế:
+ Quy trình sản xuất thực phẩm được bố trí theo nguyên tắc một chiều từ nguyên liệu đầu vào cho đến sản phẩm cuối cùng;
+ Tường, trần, nền nhà khu vực sản xuất, kinh doanh, kho sản phẩm không thấm nước, rạn nứt, ẩm mốc;
+ Trang thiết bị, dụng cụ tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm dễ làm vệ sinh, không thôi nhiễm chất độc hại và không gây ô nhiễm đối với thực phẩm;
+ Có ủng hoặc giầy, dép để sử dụng riêng trong khu vực sản xuất thực phẩm;
+ Bảo đảm không có côn trùng và động vật gây hại xâm nhập vào khu vực sản xuất và kho chứa thực phẩm, nguyên liệu thực phẩm; không sử dụng hoá chất diệt chuột, côn trùng và động vật gây hại trong khu vực sản xuất và kho chứa thực phẩm, nguyên liệu thực phẩm;
+ Không bày bán hoá chất dùng cho mục đích khác trong cơ sở kinh doanh phụ gia, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm.
Người trực tiếp sản xuất, kinh doanh phải được tập huấn kiến thức an toàn thực phẩm và được chủ cơ sở xác nhận và không bị mắc các bệnh tả, lỵ, thương hàn, viêm gan A, E, viêm da nhiễm trùng, lao phổi, tiêu chảy cấp khi đang sản xuất, kinh doanh thực phẩm.
– Về cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống:
+ Thực hiện kiểm thực ba bước và lưu mẫu thức ăn theo hướng dẫn của Bộ Y tế;
+ Thiết bị, phương tiện vận chuyển, bảo quản thực phẩm phải bảo đảm vệ sinh và không gây ô nhiễm cho thực phẩm.
Người trực tiếp chế biến thức ăn phải được tập huấn kiến thức an toàn thực phẩm và được chủ cơ sở xác nhận và không bị mắc các bệnh tả, lỵ, thương hàn, viêm gan A, E, viêm da nhiễm trùng, lao phổi, tiêu chảy cấp khi đang sản xuất, kinh doanh thực phẩm.
Có thể thấy, việc sửa đổi, bổ sung các quy định về điều kiện sản xuất, kinh doanh thực phẩm thuộc lĩnh vực quản lý của Bộ Y tế là phù hợp với yêu cầu thực tế và rút gọn những quy định rườm rà, khó đáp ứng như trước đây.

Quy định về chứng nhận hợp quy và công bố hợp quy đối với sản phẩm, hàng hóa chuyên ngành công nghệ thông tin và truyền thông
Trả lời

Ngày 15/11/2018, Bộ Thông tin và Truyền thông đã ban hành Thông tư số 15/2018/TT-BTTTT quy định về chứng nhận hợp quy và công bố hợp quy đối với sản phẩm, hàng hóa chuyên ngành công nghệ thông tin và truyền thông. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2019
Theo đó, Thông tư số 15/2018/TT-BTTTT quy định về trình tự, thủ tục về chứng nhận hợp quy đối với sản phẩm, hàng hóa chuyên ngành công nghệ thông tin và truyền thông, cụ thể như sau:
Thứ nhất, phương thức chứng nhận hợp quy gồm:
Phương thức 1- Thử nghiệm mẫu điển hình: Phương thức này áp dụng đối với sản phẩm sản xuất trong nước của các đơn vị đã có chứng chỉ chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng sản phẩm và sản phẩm nhập khẩu.
Phương thức 5- Thử nghiệm mẫu điển hình và đánh giá quá trình sản xuất; giám sát thông qua thử nghiệm mẫu lấy tại nơi sản xuất hoặc trên thị trường kết hợp với đánh giá quá trình sản xuất: Phương thức này áp dụng đối với sản phẩm sản xuất trong nước của các đơn vị chưa có chứng chỉ chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng sản phẩm.
Thứ hai, thủ tục chứng nhận hợp quy:
Thời gian Tổ chức chứng nhận hợp quy đánh giá và cấp Giấy chứng nhận hợp quy là không quá bảy (07) ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ.
Thứ ba, hồ sơ đề nghị chứng nhận hợp quy và địa điểm tiếp nhận hồ sơ
Trường hợp tổ chức chưa có mã số doanh nghiệp hoặc cá nhân chưa có số định danh cá nhân, thì hồ sơ bao gồm các loại giấy tờ sau:
– Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; Quyết định/Giấy phép thành lập, Giấy chứng nhận đầu tư/Giấy phép đầu tư; hoặc Chứng minh nhân dân/ hộ chiếu.
– Kết quả đo kiểm sản phẩm của đơn vị đo kiểm;
– Tài liệu kỹ thuật bằng tiếng Việt hoặc tiếng Anh của sản phẩm thể hiện đầy đủ các nội dung: Tên, ký hiệu và các thông tin kỹ thuật của sản phẩm, ảnh chụp bên ngoài, hãng sản xuất;
-Tài liệu có liên quan tùy theo phương thức chứng nhận hợp quy: Bản sao chứng chỉ chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng sản phẩm còn hiệu lực hoặc Quy trình sản xuất và giám sát đảm bảo chất lượng sản phẩm
Có thể nhận thấy rằng, Thông tư số 15/2018/TT-BTTTT có đã hướng dẫn cụ thể các quy định về trình tự thủ tục đối với thủ tục chứng nhận hợp quy trong lĩnh vực thông tin, truyền thông. Đặc biệt đã giảm thiểu thời gian, thành phần hồ sơ giải quyết thủ tục này so với quy định trước đây.

Quy định mới về vận hành Thị trường bán buôn điện cạnh tranh
Trả lời

Ngày 15/11/2018, Bộ Công thương đã ban hành Thông tư số 45/2018/TT-BCT quy định về vận hành Thị trường bán buôn điện cạnh tranh và sửa đổi, bổ sung Thông tư 56/2014/TT-BCT về phương pháp xác định giá phát điện, trình tự kiểm tra hợp đồng mua bán điện. Thông tư này có hiệu lưc thi hành từ ngày 01/01/2019.
Theo đó, Thông tư số 45/2018/TT-BCT quy định cụ thể trách nhiệm tham gia thị trường điện của đơn vị phát điện, cụ thể:
– Nhà máy điện có giấy phép hoạt động điện lực trong lĩnh vực phát điện, có công suất đặt lớn hơn 30MW đấu nối vào hệ thống điện quốc gia; Nhà máy điện có công suất đặt đến 30MW đấu nối lưới điện cấp điện áp từ 110KV trở lên trực tiếp tham gia thị trường điện;
– Nhà máy điện sử dụng năng lượng tái tạo không phải thủy điện có công suất đặt lớn hơn 30MW được quyền lựa chọn tham gia thị trường điện;
– Các nhà máy điện gián tiếp tham gia thị trường điện: Nhà máy điện BOT; Nhà máy điện sử dụng năng lượng tái tạo không phải thủy điện trừ trường hợp đã nêu trên.
Các nhà máy điện đã được cấp phép hoạt động điện lực và phải tham gia thị trường điện nhưng không đăng ký tham gia thị trường điện sẽ không được huy động phát điện lên lưới điện quốc gia.
Có thể thấy, với quy định cụ thể như trên, Bộ Công thương đã phân định cụ thể và rõ ràng về trách nhiệm của các đơn vị phát điện trong việc tham gia thị trường điện, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả của quản lý Nhà nước cũng như tạo dựng cơ chế vận hành thị trường bán buôn điện cạnh tranh.

Bản tin pháp luật số 45/2018
Trả lời

Thay đổi chính sách thuế đối với xe chuyển nhượng
Trả lời

Ngày 05/10/2018, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 93/2018/TT-BTC sửa đổi, bổ sung một số điều tại thông tư số 19/2014/TT-BTC ngày 11/02/2014 quy định thủ tục tạm nhập khẩu, tái xuất khẩu, tiêu hủy, chuyển nhượng xe ô tô, xe hai bánh gắn máy của đối tượng được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ tại việt nam. Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 20/11/2018.
Theo đó, Thông tư số 93/2018/TT-BTC sửa đổi các quy định về về tạm nhập khẩu, tái xuất khẩu, chuyển nhượng, tiêu hủy xe; thủ tục cấp giấy tạm nhập khẩu xe ô tô, xe gắn máy; thủ tục tạm nhập khẩu xe ô tô, xe gắn máy; thủ tục tái xuất khẩu xe ô tô, xe gắn máy; thủ tục và chính sách thuế chuyển nhượng xe ô tô.
Trong đó, liên quan đến chính sách thuế đối với xe chuyển nhượng, Thông tư số 93/2018/TT-BTC quy định căn cứ tính thuế nhập khẩu đối với xe chuyển nhượng là trị giá tính thuế, thuế suất và tỷ giá tại thời điểm chuyển nhượng.
Thời điểm chuyển nhượng thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 1 Quyết định số 10/2018/QĐ-TTg. Trị giá tính thuế được thực hiện theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 17 Thông tư số 39/2015/TT-BTC quy định về trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
Chính sách thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế giá trị gia tăng áp dụng đối với xe ô tô chuyển nhượng thực hiện theo pháp luật về thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng tại thời điểm chuyển nhượng xe.
Về thủ tục chuyển nhượng xe ô tô giữa các đối tượng được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ tại Việt Nam, thông tư quy định đối tượng chuyển nhượng xe thực hiện thủ tục cấp giấy chuyển nhượng xe; đối tượng nhận xe chuyển nhượng thực hiện thủ tục cấp giấy tạm nhập khẩu (trừ yêu cầu nộp vận tải đơn hoặc các chứng từ vận tải khác có giá trị tương đương).
Các đối tượng được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ tại Việt Nam căn cứ giấy chuyển nhượng xe, giấy tạm nhập khẩu xe quy định để thực hiện thủ tục chuyển nhượng xe. Cục hải quan tỉnh, thành phố nơi quản lý đối tượng nhận chuyển nhượng xe căn cứ giấy tạm nhập khẩu, tờ khai hàng hóa nhập khẩu khi đã hoàn thành thủ tục chuyển nhượng xe để theo dõi, quản lý tiếp.
Như vậy, có thể thấy, Thông tư số 93/2018/TT-BTC đã có những quy định chi tiết và cụ thể về chính sách thuế đối với xe chuyển nhượng, qua đó sẽ góp phần nâng cao hiệu quả ,chất lượng quản lý của cơ quan nhà nước, cũng như tạo điều kiện cho những cá nhân, tổ chức thực hiện nhanh chóng và chính xác các quy định của pháp luật về thuế trong các hoạt động chuyển nhượng này.

Quy định mới về cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế
Trả lời

Ngày 27/9/2018, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 87/2018/TT-BTC sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 215/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn về cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/11/2018.
Theo đó, Thông tư 87/2018/TT-BTC sửa đổi một số nội dung mới nổi bật đáng chú ý như sau:
1. Trường hợp được tạm dừng cưỡng chế thuế
Thông tư số 87/2018/TT-BTC sửa đổi Khoản 3 Điều 5 bổ sung quy định tạm dừng cưỡng chế thuế. Cụ thể, tạm dừng hoặc chưa thực hiện biện pháp cưỡng chế đối với người nộp thuế nợ tiền thuế, tiền phạt, tiền chậm nộp tiền thuế, tiền chậm nộp tiền phạt mà số tiền đang bị cưỡng chế hoặc đến thời hạn áp dụng biện pháp cưỡng chế, nhưng đã được cơ quan thuế ban hành một trong các văn bản sau: quyết định nộp dần tiền thuế nợ; quyết định gia hạn nộp thuế và thông báo không tính tiền chậm nộp.
2. Hình thức gửi Quyết định cưỡng chế thuế
Quyết định cưỡng chế phải gửi cho đối tượng bị cưỡng chế trước khi tiến hành cưỡng chế. Trường hợp người nộp thuế đã có tài khoản giao dịch thuế điện tử thì quyết định cưỡng chế được gửi theo phương thức điện tử.
Trường hợp người nộp thuế chưa có tài khoản giao dịch thuế điện tử thì quyết định cưỡng chế được giao trực tiếp hoặc gửi bằng thư bảo đảm qua đường bưu điện.
Đối với trường hợp quyết định được giao trực tiếp mà tổ chức, cá nhân bị cưỡng chế không nhận thì người có thẩm quyền hoặc công chức thuế có trách nhiệm giao quyết định cưỡng chế lập biên bản về việc tổ chức, cá nhân bị cưỡng chế không nhận quyết định, có xác nhận của chính quyền địa phương nơi tổ chức, cá nhân có địa chỉ đăng ký với cơ quan thuế thì được coi là quyết định đã được giao.
3. Thời điểm ban hành Quyết định cưỡng chế thuế
Quyết định cưỡng chế phải được ban hành sau ngày thứ 90 kể từ ngày số tiền thuế, tiền chậm nộp tiền thuế hết thời hạn nộp thuế hết thời hạn cho phép nộp dần tiền thuế nợ theo quy định của pháp luật.
Quyết định cưỡng chế thuế được ban hành ngay sau ngày hết thời hạn gia hạn nộp thuế và ngay sau ngày người nộp thuế không chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế theo thời hạn ghi trên quyết định xử phạt.
Có thể thấy, Thông tư số 87/2018/TT-BTC đã có những sửa đổi, bổ sung quan trọng, qua đó được kỳ vọng sẽ góp phần khắc phục những vướng mắc, hạn chế trong việc cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế, nâng cao hiệu quả của công tác quản lý trong hoạt động này.

Chấn chỉnh, tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong việc chấp hành pháp luật về ngân sách nhà nước
Trả lời

Ngày 08/11/2018, Thủ tường Chính Phủ đã ban hành Chỉ thị số 31/CT-TTg nhằm chấn chỉnh, tăng cường kỷ cương trong việc quản lí sử dụng ngân sách Nhà Nước. Chỉ thị này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.
Theo kết quá trình thanh kiểm tra việc quản lí, sử dụng ngân sách tại các bộ ban ngành, chính quyền địa phương các cấp cho thấy sự tồn tại không ít vi phạm dẫn tới việc thiếu hiệu quả trong việc sử dụng nguồn tài chính – ngân sách Nhà Nước. Để khắc phục các yếu kém, thông qua việc ban hành Chỉ thị số 31/CT-TTg, Thủ tướng Chính phủ đã có nhiệm vụ cụ thể tới các Bộ, ban ngành, Cơ quan thuộc Chính phủ tập trung vào bảy nhóm nhiệm vụ cơ bản:
– Hoàn thiện thể chế, hệ thống pháp luật về quản lí ngân sách và đầu tư công
– Tăng cường quản lí thu ngân sách, tập trung xử lý, thu hồi nợ đọng thuế
– Quản lý ngân sách nhà nước đảm bảo việc phân bổ đúng mục tiêu, đúng đối tượng, đúng tiêu chuẩn, đúng định mức, đúng chế độ
– Tăng cường quản lý, kiểm soát chặt chẽ nợ công, nợ chính phủ, nợ nước ngoài của quốc gia, nợ của chính quyền địa phương, bố trí nguồn trả nợ đầy đủ, đúng hạn
– Tăng cường quản lý, nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản công
– Thực hiện việc quyết toán, báo cáo đúng chế độ, đúng thời hạn
– Về tăng cường đôn đốc, kiểm tra, xử lý, báo cáo, công khai.
Có thể thấy, thông qua Chỉ thị số 31/CT-TTg, Thủ tướng Chính phủ đang thể hiện quyết tâm của Chính phủ trong việc khống chế bội chi ngân sách và trần nợ công, đảm bảo nền kinh tế phát triển một cách hiệu quả, ổn định và phù hợp với giai đoạn phát triển kinh tế, xã hội của đất nước hiện nay.

Định hướng, chủ trương thu hút và sử dụng vốn ODA trong giai đoạn 2018 – 2020
Trả lời

Ngày 06/11/2018, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1489/QĐ-TTg phê duyệt định hướng thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài giai đoạn 2018 – 2020, tầm nhìn 2021 – 2025. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.
Theo đó, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo, hướng dẫn các hoạt động thu hút, sử dụng vốn ODA trong giai đoạn 2018 – 2020 như sau:
– Tranh thủ, tận dụng vốn ODA còn lại của các nhà tài trợ đa phương trong giai đoạn 2018 – 2020. Đối với nguồn vốn vay ưu đãi IBRD của Ngân hàng Thế giới (WB), OCR của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ, tiếp tục huy động và sử dụng cho phát triển cơ sở hạ tầng. Việc huy động và sử dụng cần được xem xét trong tổng thể các nguồn vốn đầu tư công, hạn mức vay nợ và khả năng cân đối trả nợ của ngân sách nhà nước; xem xét, đánh giá tác động đến giai đoạn sau 2021 – 2025 để đảm bảo định hướng giảm dần bội chi, nợ công, chủ trương tái cơ cấu đầu tư công theo các Nghị quyết của Trung ương, Quốc hội và khả năng cân đối nguồn trả nợ của các cấp ngân sách;
– Vốn vay ODA, vốn vay ưu đãi chỉ sử dụng cho chi đầu tư phát triển, không sử dụng cho chi thường xuyên;
– Ưu tiên sử dụng vốn vay ODA cho các chương trình, dự án trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, giáo dục nghề nghiệp, thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường, hạ tầng giao thông thiết yếu không có khả năng thu hồi vốn trực tiếp, có quy mô lớn, mang tính lan tỏa cao, có tính chất liên vùng, phù hợp quy hoạch, thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế – xã hội của vùng, miền.
Có thể thấy, thông qua việc phê duyệt định hướng thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài giai đoạn 2018 – 2020, tầm nhìn 2021 – 2025, Thủ tướng Chính phủ kỳ vọng sẽ tạo điều kiện cho việc quản lý, sử dụng nguồn vốn ODA được hiệu quả, phù hợp với giai đoạn phát triển kinh tế, xã hội của đất nước hiện nay.

Sửa đổi một số quy định về điều kiện hoạt động của tổ chức cung cấp dịch vụ kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm
Trả lời

Ngày 09/11/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 154/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số quy định về điều kiện đầu tư, kinh doanh trong lĩnh vực quản lý nhà nước của bộ khoa học và công nghệ và một số quy định về kiểm tra chuyên ngành. Nghị định này có hiệu lực từ ngày ban hành.
Theo đó, Nghị định số 154/2018/NĐ-CP quy định về điều kiện hoạt động của tổ chức cung cấp dịch vụ kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm cụ thể như sau:
– Có đủ chuẩn đo lường, phương tiện, điều kiện môi trường thực hiện kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm theo yêu cầu của quy trình kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm tương ứng. Quy trình kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm phải phủ hợp với hướng dẫn của Bộ Khoa học và Công nghệ hoặc khuyến nghị quốc tế của Tổ chức đo lường pháp định quốc tế, yêu cầu của Ủy ban kỹ thuật điện quốc tế, tài liệu của nhà sản xuất có liên quan. Các chuẩn đo lường và phương tiện đo này phải được định kỳ kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm và được duy trì, bảo quản, sử dụng theo quy định của người đứng đầu tổ chức; giấy chứng nhận kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm phải còn thời hạn có giá trị.
– Có ít nhất 01 nhân viên kỹ thuật phù hợp với mỗi lĩnh vực hoạt động. Các nhân viên kỹ thuật này phải đáp ứng các yêu cầu sau đây:
– Tốt nghiệp trung cấp hoặc tương đương trở lên;
– Đã hoàn thành khóa đào tạo nghiệp vụ kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm tương ứng với lĩnh vực hoạt động theo hướng dẫn của Bộ Khoa học và Công nghệ.
– Đã thiết lập và duy trì hệ thống quản lý phù hợp với Tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO/IEC 17025 đối với hoạt động kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm phương tiện đo, chuẩn đo lường. Có văn bản của người đứng đầu tổ chức quy định việc quản lý chứng chỉ (tem, dấu, giấy chứng nhận) kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm.
Có thể thấy, việc sửa đổi một số quy định về điều kiện hoạt động của tổ chức cung cấp dịch vụ kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm tại Nghị định số 154/2018/NĐ-CP đã có sự tối giản, lược bớt một số điều kiện còn rườm rà, góp phần gỡ bỏ những khó khăn, rào cản về mặt thủ tục đối với các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực này.