Nhiều ngân hàng tăng mạnh lãi suất huy động
Với mong muốn bổ sung thêm nguồn vốn trung, dài hạn để phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh cuối năm, đồng thời giảm...
Bùng nổ nhượng quyền thương hiệu vào Việt Nam
Hoạt động nhượng quyền đang được giới kinh doanh vận dụng để đưa các thương hiệu nước ngoài vào thị trường Việt Nam. Ngoài lĩnh...
6 ngành kinh tế phát triển mũi nhọn khu vực miền Trung
Có 6 lĩnh vực kinh tế biển, ven biển đang được các tỉnh miền Trung tập trung phát triển và đã đạt được những kết...
91.9% doanh nghiệp lạc quan về hoạt động sản xuất 6 tháng cuối năm
Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có tỷ lệ doanh nghiệp dự báo về khối lượng sản xuất khả...
Việt Nam chuyển dần từ nhập siêu sang xuất siêu với CPTPP
Với hầu hết các hiệp định thương mại (FTA) đã ký, Việt Nam thường nhập siêu, thì nay, khi thực hiện CPTTP, trong 7 tháng...
Giải đáp pháp luật
Hướng dẫn xử lý việc rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự
Trả lời

Ngày 26/11/2018, Tòa án Nhân dân Tối cao đã ban hành Công văn số 254/TANDTC-PC về việc người đã yêu cầu khởi tố vụ án hình sự rút yêu cầu theo quy định tại Điều 155 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015. Công văn này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.
Theo đó, Tòa án Nhân dân Tối cao đã hướng dẫn các Tòa án nhân dân, Tòa án quân sự các cấp, các đơn vị thuộc Tòa án Nhân dân Tối cao về việc xử lý việc rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự theo quy định tại Khoản 2 Điều 155 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015. Cụ thể như sau:
– Tại giai đoạn xét xử sơ thẩm: Người đã yêu cầu khởi tố vụ án hình sự rút yêu cầu trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm thì Thẩm phán chủ tọa phiên tòa căn cứ vào Điều 45, điểm a khoản 1 Điều 282 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 ra quyết định đình chỉ vụ án; Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố vụ án hình sự rút yêu cầu tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử hoặc Thẩm phán chủ tọa phiên tòa xét xử theo thủ tục rút gọn căn cứ vào khoản 2 Điều 155, Điều 299 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 ra quyết định đình chỉ vụ án;
– Trường hợp sau khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm vẫn còn thời hạn kháng cáo, kháng nghị mà người đã yêu cầu khởi tố vụ án hình sự rút yêu cầu thì Tòa án phải hướng dẫn họ làm đơn kháng cáo để Tòa án cấp phúc phẩm xem xét giải quyết việc rút yêu cầu theo thủ tục phúc thẩm;
– Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm: Trường hợp có kháng cáo, kháng nghị mà tại giai đoạn xét xử phúc thẩm người đã yêu cầu khởi tố vụ án hình sự rút yêu cầu thì Hội đồng xét xử hoặc Thẩm phán chủ tọa phiên tòa xét xử theo thủ tục rút gọn căn cứ vào khoản 2 Điều 155 và Điều 359 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án. Trong bản án phúc thẩm, Tòa án phải nhận định rõ lý do hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án là do người đã yêu cầu khởi tố vụ án hình sự rút yêu cầu, không phải do lỗi của Tòa án cấp sơ thẩm.
Có thể thấy, hướng dẫn của Tòa án Nhân dân Tối cao sẽ là cơ sở để các đơn vị Tòa án bảo đảm áp dụng thống nhất quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, qua đó tháo gỡ những vướng mắc liên quan đến xử lý việc rút yêu cầu khởi tố vụ án trong quá trình giải quyết, xét xử vụ án hình sự.

Hướng dẫn mới về thủ tục hành chính trong việc thành lập, tổ chức lại, giải thể tổ chức hành chính
Trả lời

Ngày 22/11/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 158/2018/NĐ-CP quy định về thành lập, tổ chức lại, giải thể tổ chức hành chính. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 10/01/2019
Theo đó, Nghị định số 158/2018/NĐ-CP quy định về thủ tục hành chính trong việc thành lập, tổ chức lại, giải thể tổ chức hành chính, cụ thể như sau:
Thứ nhất, thủ tục thành lập tổ chức hành chính:
• Thành phần hồ sơ:
– Văn bản đề nghị thẩm định;
– Dự thảo tờ trình thành lập tổ chức hành chính;
– Dự thảo đề án thành lập tổ chức hành chính;
– Dự thảo văn bản của cơ quan hoặc người có thẩm quyền quyết định thành lập tổ chức hành chính;
– Ý kiến bằng văn bản của các cơ quan liên quan về việc thành lập tổ chức hành chính;
– Báo cáo của cơ quan, tổ chức đề nghị thành lập về việc tiếp thu, giải trình ý kiến của các cơ quan liên quan.
• Thẩm quyền giải quyết:
– Bộ Nội vụ: thẩm định đối với các tổ chức hành chính thuộc thẩm quyền quyết định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ;
– Vụ (cục hoặc ban) tổ chức cán bộ thuộc bộ, cơ quan thuộc Chính phủ: thẩm định đối với các tổ chức hành chính thuộc thẩm quyền quyết định của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ;
– Cơ quan chuyên môn tham mưu quản lý nhà nước về lĩnh vực tổ chức bộ máy thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: thẩm định đối với các tổ chức hành chính thuộc thẩm quyền quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;
– Cơ quan chuyên môn tham mưu quản lý nhà nước về lĩnh vực tổ chức bộ máy thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện: đối với các tổ chức hành chính thuộc thẩm quyền quyết định của Ủy ban nhân dân cấp huyện.
• Thời gian thực hiện: 25 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.
Thứ hai, tổ chức lại, giải thể tổ chức hành chính:
• Thành phần hồ sơ:
– Đề án tổ chức lại, giải thể tổ chức hành chính;
– Tờ trình tổ chức lại, giải thể tổ chức hành chính;
– Dự thảo văn bản của cơ quan hoặc người có thẩm quyền quyết định tổ chức lại, giải thể tổ chức hành chính;
– Các văn bản của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xác nhận việc hoàn thành nghĩa vụ về tài chính, tài sản, đất đai, các khoản vay, nợ phải trả và các vấn đề khác có liên quan (nếu có).
• Thẩm quyền giải quyết: tương tự đối với thủ tục thành lập mới
• Thời gian thực hiện: 25 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.
Như vậy, có thể thấy rằng, Nghị định số 158/2018/NĐ-CP đã quy định khá chi tiết trình tự thủ tục trong việc thành lập, tổ chức lại, giải thể tổ chức hành chính, điều này được kỳ vọng sẽ góp phần giúp quá trình triển khai thực hiện được cụ thể, rõ ràng hơn, đồng thời góp phần vào quá trình cải cách thủ tục hành chính theo hướng công khai, minh bạch, tiết kiệm và nhanh chóng.

Hướng dẫn mới về tổ chức thực hiện cơ chế một cửa trong giải quyết thủ tục hành chính
Trả lời

Ngày 23/11/2018, Văn phòng Chính phủ đã ban hành Thông tư số 01/2018/TT-VPCP hướng dẫn thi hành một số quy định của Nghị định số 61/2018/NĐ-CP ngày 23/04/2018 về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính. Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 06/01/2019.
Theo đó, Thông tư số 01/2018/TT-VPCP quy định về tổ chức thực hiện cơ chế một cửa trong giải quyết thủ tục hành chính, cụ thể như sau:
Thứ nhất, về công bố danh mục thủ tục hành chính được thực hiện tại Bộ phận Một cửa
– Việc thực hiện tiếp nhận hồ sơ, giải quyết và trả kết quả tại Bộ phận Một cửa đối với các thủ tục hành chính phải được công bố trong Quyết định công bố thủ tục hành chính, Quyết định công bố danh mục thủ tục hành chính và công khai theo quy định pháp luật về kiểm soát thủ tục hành chính;
– Danh mục thủ tục hành chính thực hiện tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả tại Bộ phận Một cửa được thể hiện trong Quyết định công bố thủ tục hành chính, Quyết định công bố danh mục thủ tục hành chính theo quy định tại Chương II Thông tư số 02/2017/TT-VPCP ngày 30/10/2017 của Văn phòng Chính phủ hướng dẫn về nghiệp vụ kiểm soát thủ tục hành chính.
Thứ hai, về điều kiện thực hiện thủ tục hành chính theo quy trình tại Bộ phận Một cửa khi đáp ứng các điều kiện sau:
– Không thuộc đối tượng quy định tại các điểm a, b khoản 5 Điều 14 Nghị định số 61/2018/NĐ-CP;
– Được phép phân cấp hoặc ủy quyền cho Bộ phận Một cửa, cán bộ, công chức, viên chức tại Bộ phận Một cửa xem xét, thẩm định, thẩm tra, xác minh hồ sơ và phê duyệt kết quả giải quyết thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật;
– Bộ phận Một cửa có đủ nguồn lực và điều kiện cần thiết khác để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân cấp hoặc ủy quyền.
Có thể thấy, việc ban hành Thông tư số 01/2018/TT-VPCP hứa hẹn sẽ đóng góp nhiều thay đổi tích cực trong việc triển khai thủ tục hành chính, giúp tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong việc triển khai, đồng thời góp phần vào quá trình cải cách thủ tục hành chính theo hướng công khai, minh bạch và nhanh chóng, củng cố niềm tin trong nhân dân, phù hợp với quá trình phát triển chung của đất nước.

Quy định mới về thủ tục cấp giấy phép hoạt động điện lực
Trả lời

Ngày 16/10/2018, Bộ Công Thương đã ban hành Thông tư số 36/2018/TT-BTC quy định về trình tự, thủ tục cấp, thu hồi Giấy phép hoạt động điện lực. Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 06/12/2018.
Theo đó, Thông tư số 36/2018/TT-BTC quy định về trình tự, thủ tục cấp, thu hồi giấy phép hoạt động điện lực, thời hạn của giấy phép hoạt động điện lực trong các lĩnh vực: Tư vấn chuyên ngành điện lực; Phát điện; Truyền tải điện; Phân phối điện; Bán buôn điện; Bán lẻ điện.
Bên cạnh đó, Thông tư này cũng quy định các trường hợp được miễn trừ giấy phép hoạt động điện lực, bao gồm: (i) Phát điện để tự sử dụng không bán điện cho tổ chức, cá nhân khác; (ii) Phát điện có công suất lắp đặt dưới 01 MW (01 MWp đối với nhà máy điện mặt trời lắp đặt tại 01 địa điểm và 01 điểm đấu nối) để bán điện cho tổ chức, cá nhân khác; (iii) Kinh doanh điện tại vùng nông thôn, miền núi, hải đảo mua điện với công suất nhỏ hơn 50 kVA từ lưới điện phân phối để bán điện trực tiếp tới khách hàng sử dụng điện tại vùng nông thôn, miền núi, hải đảo; (iv) Điều độ hệ thống điện quốc gia và điều hành giao dịch thị trường điện lực.
Ngoài ra, thời hạn của giấy phép hoạt động điện lực cũng được quy định cụ thể như sau:
– 05 năm đối với lĩnh vực tư vấn chuyên ngành điện lực;
– Đối với lĩnh vực phát điện:
+ 20 năm đối với nhà máy điện lớn, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh theo danh mục được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt;
+ 10 năm đối với nhà máy điện không thuộc danh mục nhà máy điện lớn, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt;
– 20 năm đối với lĩnh vực truyền tải điện;
– 10 năm đối với lĩnh vực phân phối điện và bán buôn điện, bán lẻ điện.
Trường hợp gia hạn giấy phép hoạt động điện lực ngắn hơn thời hạn thì sẽ được cấp giấy phép theo thời hạn đề nghị; căn cứ điều kiện thực tế về hạng mục công trình điện, cơ quan cấp giấy phép hoạt động điện lực có thể cấp giấy phép hoạt động điện lực có thời hạn ngắn hơn thời hạn quy định.
Có thể thấy, việc quy định rõ ràng về trình tự, thủ tục cấp, thu hồi giấy phép hoạt động điện lực và thời hạn của giấy phép hoạt động sẽ góp phần cải thiện các vấn đề bất cập về tính rõ ràng của quy trình xin cấp giấy phép, đồng thời có căn cứ trong hoạt động quản lý đối với thời gian hoạt động của các tổ chức khi kinh doanh trong lĩnh vực điện lực.

Ban hành Danh mục sản phẩm an toàn thông tin mạng nhập khẩu theo giấy phép
Trả lời

Ngày 15/10/2018, Bộ Thông tin và Truyền thông đã ban hành Thông tư số 13/2018/TT-BTTTT quy định danh mục sản phẩm an toàn thông tin mạng nhập khẩu theo giấy phép và trình tự, thủ tục, hồ sơ cấp giấy phép nhập khẩu sản phẩm an toàn thông tin mạng có hiệu lực ngày 01/12/2018.
Theo đó, Thông tư số 13/2018/TT-BTTTT quy định sản phẩm an toàn thông tin mạng (ATTTM) nhập khẩu theo giấy phép là thiết bị hoàn chỉnh có đặc tính kỹ thuật, mô tả hàng hóa theo đúng chỉ tiêu kỹ thuật, cấu trúc thiết kế, có thể hoạt động độc lập; không áp dụng đối với linh kiện hoặc phụ kiện hoặc bộ phận của sản phẩm.
Bên cạnh đó, Thông tư này cũng nêu rõ, thời hạn hiệu lực của Giấy phép nhập khẩu sản phẩm ATTTM là 2 năm hoặc bằng thời hạn hiệu lực của Giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ ATTTM của doanh nghiệp trong trường hợp thời hạn hiệu lực của Giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ ATTTM còn ít hơn 2 năm.
Ngoài ra, Thông tư số 13/2018/TT-BTTTT cũng quy định Bộ Thông tin và Truyền thông (Cục An toàn thông tin) là cơ quan cấp Giấy phép nhập khẩu sản phẩm ATTTM. Hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép nhập khẩu, theo hướng dẫn tại Thông tư, phải được lập thành 1 bộ, bao gồm: đơn đề nghị cấp Giấy phép nhập khẩu theo Mẫu số 1 tại Phụ lục II của Thông tư này; giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ ATTTM (bản sao); giấy chứng nhận hoặc công bố hợp chuẩn, hợp quy (bản sao có chứng thực, trường hợp bản sao không có chứng thực thì mang bản chính để đối chiếu); tài liệu kỹ thuật mô tả chức năng của sản phẩm đề nghị nhập khẩu (bản sao, bằng tiếng Việt và tiếng Anh).
Có thể thấy, Bộ Thông tin và Truyền thông đã có những quy định chi tiết và cụ thể về danh mục sản phẩm an toàn thông tin mạng nhập khẩu theo giấy phép và trình tự, thủ tục, hồ sơ cấp giấy phép nhập khẩu sản phẩm an toàn thông tin mạng, qua đó tạo điệu kiện cho các tổ chức, các nhân haotj động trong lĩnh vực này có các căn cứ để thực hiện các hoạt động kinh doanh sản xuất được chính xác, hợp pháp, tiết kiệm thời gian, chi phí, đồng thời Nâng cao hiệu quả của quản lý Nhà nước trong lĩnh vực này.

Bản tin pháp luật số 46/2018
Trả lời

Quy định về những trường hợp không được miễn đào tạo nghề luật sư
Trả lời

Ngày 08/10/2018, Chính phủ đã ban hành Công văn số 137/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 123/2013/NĐ-CP ngày 14/10/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật luật sư. Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 25/11/2018.
Theo đó, Chính phủ quy định các trường hợp không được miễn đào tạo nghề luật sư theo quy định tại Điều 13 và Điều 16 của Luật luật sư. Cụ thể như sau:
– Người đã bị xử lý hình sự hoặc xử lý kỷ luật đến mức bị cách chức chức danh thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên, kiểm tra viên, thẩm tra viên;
– Người đã bị tước danh hiệu công an nhân dân, tước quân hàm sĩ quan quân đội nhân dân;
– Bị tước học hàm, học vị giáo sư, phó giáo sư chuyên ngành luật, tiến sỹ luật hoặc đã bị thu hồi quyết định bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên cao cấp, nghiên cứu viên cao cấp, giảng viên cao cấp, chuyên viên chính, nghiên cứu viên chính, giảng viên chính trong lĩnh vực pháp luật.
Có thể thấy, quy định này có hiệu lực sẽ tạo khung pháp lý chặt chẽ về việc đào tạo, đưa ra yêu cầu cao trong đào tạo nghề luật sư, góp phần bổ sung nguồn lực cho đội ngũ luật sư chất lượng của đất nước ta.

Quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về giáo dục
Trả lời

Ngày 21/09/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 127/2018/NĐ-CP quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về giáo dục. Nghị định này có hiêu lực thi hành từ ngày 15/11/2018.
Theo đó, Nghị định số 127/2018/NĐ-CP quy định trách nhiệm quản lý nhà nước đối với giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục đại học, giáo dục thường xuyên; trung cấp sư phạm, cao đẳng sư phạm và các cơ sở giáo dục khác theo quy định của pháp luật (quản lý nhà nước về giáo dục).
Yêu cầu đối với việc quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về giáo dục là bảo đảm tính thống nhất, thông suốt và nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong quản lý nhà nước về giáo dục; bảo đảm tương ứng giữa nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm với nguồn lực tài chính, nhân sự, điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục và các điều kiện cần thiết khác để thực hiện nhiệm vụ được giao; xác định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm quản lý nhà nước của các bộ, Ủy ban nhân dân các cấp và các cơ quan có liên quan.
Trong đó, trách nhiệm quản lý nhà nước về giáo dục của Bộ Giáo dục và Đào tạo là ban hành chương trình giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên và quy định chuẩn chương trình đào tạo đối với giáo dục đại học; danh mục giáo dục, đào tạo cấp IV trình độ trung cấp sư phạm, cao đẳng sư phạm, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ; quy chế đào tạo và liên kết đào tạo.
Bên cạnh đó, quy định việc tổ chức biên soạn, thẩm định, phê duyệt được phép sử dụng và hướng dẫn lựa chọn tài liệu học tập, sách giáo khoa, tài liệu giảng dạy trong các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên; quy định về xây dựng, thẩm định, ban hành chương trình đào tạo đối với trung cấp sư phạm, cao đẳng sư phạm, giáo dục đại học.
Có thể thấy, thông qua Nghị định số 127/2018/NĐ-CP, Chính phủ đã phân định rõ trách nhiệm quản lý nhà nước về giáo dục, qua đó góp phần xác định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm quản lý nhà nước của các bộ, Ủy ban nhân dân các cấp và các cơ quan có liên quan.

Yêu cầu về năng lực, kiến thức chuyên môn trong việc phòng chống buôn lậu
Trả lời

Ngày 13/11/2018, Tổng cục Hải quan đã ban hành Quyết định số 3445/QĐ-TCHQ quy định cụ thể các yêu cầu về kĩ năng, kiễn thức chuyên môn cho từng vị trí trong hoạt động phòng chống buôn lậu. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.
Theo đó, từ ngày 13/11/2018, Bộ tài chính cũng như Tổng cục hải quan đã đưa ra yêu cầu cụ thể về kĩ năng kiến thức mà các các cán bộ hải quan cần đảm bảo cho từng vị trí công tác của mình. Thông qua việc tra cứu các phụ lục ban hành kèm theo Quyết định số 3445 nêu trên, mỗi cán bộ trong lực lượng hải quan có thể tự đánh giá năng lực của bản thân, nhận thấy các điểm còn yếu kém, hạn chế ở bản thân để có kế hoạch học tập, trao dồi, bồi dưỡng về kĩ năng cũng như kiến thức chuyển môn. Đồng thời các yêu cầu về kĩ năng, kiến thức được ban hành kèm theo Quyết định sẽ là cơ sở để thực hiện việc quản lí, phân cấp, bổ nhiệm cán bộ được thực hiện một cách công khai, minh bạch.
Có thể thấy, với việc ban hành Quyết định số 3445/QĐ-TCHQ, Bộ Tài chính cùng Tổng cục Hải quan rất chú trọng, quan tâm tới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức đạt trình độ chuyên nghiệp, chuyên sâu, đảm bảo thực thi có hiệu quả công tác phòng chống buôn lậu, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thương mại, đầu tư, phát triển nền kinh tế.

Công bố chi tiết danh mục sản phẩm công nghệ thông tin đã qua sử dụng cấm nhập khẩu kèm theo mã số HS
Trả lời

Ngày 15/10/2018, Bộ thông tin và truyền thông đã ban hành Thông tư số 11/2018/TT-BTTTT công bố chi tiết danh mục sản phẩm công nghệ thông tin đã qua sử dụng cấm nhập khẩu kèm theo mã số HS. Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 30/11/2018.
Theo đó, Thông tư số 11/2018/TT-BTTTT quy định áp dụng Danh mục cấm nhập khẩu như sau:
– Trường hợp chỉ liệt kê mã 4 số thì toàn bộ các mã 8 số thuộc nhóm 4 số này đều được áp dụng;
– Trường hợp chỉ liệt kê mã 6 số thì toàn bộ các mã 8 số thuộc phân nhóm 6 số này đều được áp dụng;
– Trường hợp ngoài mã 4 số và 6 số còn chi tiết đến mã 8 số thì chỉ những mã 8 số đó mới được áp dụng;
– Linh kiện, phụ tùng, cụm linh kiện, phụ kiện đã qua sử dụng của các loại sản phẩm có trong Danh mục cũng bị cấm nhập khẩu;
– Các sản phẩm công nghệ thông tin tân trang có mã số HS nếu thuộc Danh mục cấm nhập khẩu thì bị cấm nhập khẩu;
– Đối với máy in, máy photocopy kỹ thuật số đa màu, khi nhập khẩu thực hiện quy định của pháp luật trong lĩnh vực in.
Như vậy, Thông tư số 11/2018/TT-BTTTT đã quy định rõ những sản phẩm công nghệ thông tin hạn chế nhập khẩu vào Việt Nam, qua đó nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng sản phẩm trước khi đến tay người tiêu dung, cũng như tăng cường sự quản lý nhà nước trong hoạt động này.