Nhiều ngân hàng tăng mạnh lãi suất huy động
Với mong muốn bổ sung thêm nguồn vốn trung, dài hạn để phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh cuối năm, đồng thời giảm...
Bùng nổ nhượng quyền thương hiệu vào Việt Nam
Hoạt động nhượng quyền đang được giới kinh doanh vận dụng để đưa các thương hiệu nước ngoài vào thị trường Việt Nam. Ngoài lĩnh...
6 ngành kinh tế phát triển mũi nhọn khu vực miền Trung
Có 6 lĩnh vực kinh tế biển, ven biển đang được các tỉnh miền Trung tập trung phát triển và đã đạt được những kết...
91.9% doanh nghiệp lạc quan về hoạt động sản xuất 6 tháng cuối năm
Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có tỷ lệ doanh nghiệp dự báo về khối lượng sản xuất khả...
Việt Nam chuyển dần từ nhập siêu sang xuất siêu với CPTPP
Với hầu hết các hiệp định thương mại (FTA) đã ký, Việt Nam thường nhập siêu, thì nay, khi thực hiện CPTTP, trong 7 tháng...
Giải đáp pháp luật
Quy định mẫu biểu báo cáo và công bố thông tin về nợ công
Trả lời

Ngày 13/09/2018, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 84/2018/TT-BTC về quy định mẫu biểu báo cáo và công bố thông tin về nợ công. Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/12/2018.
Theo đó, Thông tư số 84/2018/TT-BTC có những nội dung mới đáng chú ý như sau:
Thứ nhất, Thông tư này quy định mẫu biểu báo cáo và công bố thông tin về nợ công theo quy định tại các Điều 60 và Điều 61 Luật Quản lý nợ công số 20/2017/QH14; Điều 27 và Điều 28 Nghị định số 94/2018/NĐ-CP ngày 30/06/2018 về nghiệp vụ quản lý nợ công.
Thứ hai, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổng hợp và lập báo cáo về nợ của chính quyền địa phương theo mẫu biểu quy định tại Nghị định số 93/2018/NĐ-CP ngày 30/6/2018 của Chính phủ quy định về quản lý nợ của chính quyền địa phương.
Thứ ba, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, cơ quan cho vay lại, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập vay lại nguồn vốn vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài của Chính phủ thực hiện báo cáo về tình hình quản lý, thực hiện cho vay lại, thu hồi, hoàn trả vốn cho vay lại từ nguồn vốn vay nước ngoài của Chính phủ theo quy định tại Nghị định số 97/2018/NĐ-CP ngày 30/6/2018 về cho vay lại vốn vay ODA, vay ưu đãi của Chính phủ và mẫu biểu quy định tại Thông tư 80/2018/TT-BTC ngày 28/8/2018 của Bộ Tài chính hướng dẫn mẫu biểu báo về cho vay lại vốn vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài của Chính phủ.
Thứ tư, Chủ dự án, ngân hàng chính sách được Chính phủ bảo lãnh vay vốn hoặc phát hành trái phiếu thực hiện báo cáo theo quy định tại Nghị định số 91/2018/NĐ-CP ngày 26/6/2018 về cấp và quản lý bảo lãnh Chính phủ và mẫu biểu tại phụ lục đính kèm Thông tư số 58/2018/TT-BTC ngày 10/7/2018 của Bộ Tài chính hướng dẫn biểu, mẫu cung cấp thông tin, báo cáo đối với các chương trình, dự án được Chính phủ bảo lãnh.
Thứ năm, đối với các số liệu, báo cáo khác không thuộc phạm vi điều chỉnh của Thông tư này, các cơ quan, đơn vị báo cáo thực hiện theo các quy định hiện hành của Bộ Tài chính và các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.
Có thể thấy, Thông tư số 84/2018/TT-BTC đã có những quy định chi tiết và cụ thể về mẫu biểu báo cáo và công bố thông tin về nợ công, qua đó góp phần đảm bảo sự hiệu quả, tính thống nhất, chính xác, công khai và minh bạch đối với các hoạt động này.

Điều chỉnh lương hưu đối với lao động nữ nghỉ hưu
Trả lời

Ngày 07/11/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 153/2018/NĐ-CP quy định chính sách điều chỉnh lương hưu đối với lao động nữ bắt đầu hưởng lương hưu trong giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2021 có thời gian đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 20 năm đến 29 năm 6 tháng. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 24/12/2018.
Theo đó, lao động nữ bắt đầu hưởng lương hưu từ ngày 01/01/2018 đến ngày 31/12/2021 mà có từ đủ 20 năm đến 29 năm 6 tháng tùy thuộc vào thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội và thời điểm bắt đầu hưởng lương hưu, mức lương hưu được điều chỉnh bằng mức lương hưu tính theo quy định tại khoản 2 Điều 56 hoặc khoản 2 Điều 74 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 cộng với mức điều chỉnh.
Mức điều chỉnh được tính bằng mức lương hưu tính theo quy định tại khoản 2 điều 56 hoặc khoản 2 Điều 74 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 tại thời điểm bắt đầu hưởng lương hưu nhân với tỷ lệ điều chỉnh tương ứng với thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội và thời điểm bắt đầu hưởng lương hưu, cụ thể:
 Các trường hợp nghỉ hưu năm 2018, tỷ lệ điều chỉnh cao nhất là 12,3%; thấp nhất là 1,08%, tùy thuộc vào thời gian đã đóng BHXH.
 Các trường hợp nghỉ hưu năm 2019, tỷ lệ điều chỉnh cao nhất là 9,23%, thấp nhất là 0,81%, tùy thuộc vào thời gian đã đóng BHXH.
Mức lương hưu sau điều chỉnh là căn cứ để tính điều chỉnh ở những lần điều chỉnh lương hưu theo quy định tại Điều 57 Luật Bảo hiểm xã hội.
Bên cạnh đó, đối với lao động nữ bắt đầu hưởng lương hưu từ ngày 1.1.2018 đến ngày 31.12.2021 mà có từ đủ 20 năm đến 29 năm 6 tháng bắt đầu hưởng lương hưu trong giai đoạn từ ngày 01/01/2018 đến ngày 30/06/2018 thì thực hiện điều chỉnh lương hưu theo quy định nêu trên trước, sau đó được điều chỉnh theo quy định tại Nghị định số 88/2018/NĐ-CP ngày 15/06/2018 của Chính phủ về điều chỉnh lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng.
Có thể thấy, Nghị định số 153/2018/NĐ-CP đã có những quy định về chính sách điều chỉnh lương hưu đối với các trường hợp lao động nữ bị tác động bất lợi hơn so với lao động nam do thay đổi cách tính lương hưu theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 so với Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006. Qua đó kịp thời có những điều chỉnh phù hợp, đảm bảo công bằng xã hội, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng đời sống của người lao động.

Tăng mức hưởng chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc cho người lao động
Trả lời

Ngày 09/11/2018, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 70/2018/QH14 về dự toán ngân sách nhà nước năm 2019. Nghị quyết này có hiệu lực thi hành ngày 24/12/2018.
Theo đó, Nghị quyết số 70/2018/QH14 quy định thực hiện điều chỉnh mức lương cơ sở từ 1,39 triệu đồng/tháng lên 1,49 triệu đồng/tháng, điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hàng tháng theo quy định (đối tượng do ngân sách nhà nước bảo đảm) và trợ cấp ưu đãi người có công với cách mạng tăng bằng mức tăng lương cơ sở, thời điểm thực hiện từ ngày 01/07/2019.
Cùng với đó, từ ngày 01/07/2019, đồng loạt tăng mức hưởng chế độ bảo hiểm xã hội (BHXH) bắt buộc với người lao động cho phù hợp với mức lương cơ sở mới tại Nghị quyết số 70/2018/QH14. Cụ thể, mức hưởng chế độ BHXH với NLĐ được thực hiện như sau:
 Mức hưởng dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau khi ốm đau một ngày bằng 447.000 đồng (mức hiện hành là 417.000 đồng).
 Lao động nữ sinh con hoặc người lao động (NLĐ) nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi thì được trợ cấp một lần cho mỗi con bằng 2.980.000 đồng (mức hiện hành là 2.780.000 đồng);
Trường hợp sinh con nhưng chỉ có cha tham gia BHXH thì cha được trợ cấp một lần bằng 2.980.000 đồng (mức hiện hành là 2.780.000 đồng) cho mỗi con.
 Mức hưởng dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau khi điều trị thương tật, bệnh tật một ngày bằng:
+ 372.500 đồng (mức hiện hành là 347.500 đồng) nếu nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe tại gia đình;
+ 596.000 đồng (mức hiện hành là 556.000 đồng) nếu nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ tại cơ sở tập trung.
Như vậy, cùng với việc tăng mức lương cơ bản theo Nghị quyết số 70/2018/QH14, chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc cho người lao động cũng được cải thiện phù hợp, qua đó góp phần nâng cao chất lượng làm việc, cải thiện đời sống và đảm bảo quyền lợi chính đáng của người lao động.

Phê duyệt đề án “Cơ cấu lại ngành du lịch đáp ứng yêu cầu phát triển thành ngành kinh tế mũi nhọn”
Trả lời

Ngày 05/12/2018, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1685/QĐ-TTg phê duyệt đề án “Cơ cấu lại ngành du lịch đáp ứng yêu cầu phát triển thành ngành kinh tế mũi nhọn”. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.
Theo đó, mục tiêu cơ cấu lại ngành Du lịch nhằm khai thác tối đa lợi thế về sản phẩm, thị trường, các nguồn lực, hệ thống quản lý ngành, nâng cao hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường, thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, góp phần nâng cao đời sống nhân dân, quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam, lan tỏa các giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc; phấn đấu là quốc gia trong nhóm nước có ngành Du lịch phát triển hàng đầu khu vực Đông Nam Á.
Đề án phấn đấu đến năm 2025, tổng thu từ khách du lịch đạt 45 tỷ USD, giá trị xuất khẩu thông qua du lịch đạt 27 tỷ USD, ngành Du lịch đóng góp trên 10% GDP; tạo ra 6 triệu việc làm, trong đó có 2 triệu việc làm trực tiếp; nâng dần tỷ lệ lao động trực tiếp phục vụ du lịch được đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ và kỹ năng đạt 70%; đón và phục vụ 30-32 triệu lượt khách du lịch quốc tế, trên 130 triệu lượt khách du lịch nội địa.
Ngoài ra, Quyết định này cũng hướng dẫn chi tiết về các giải pháp thực hiện đề án, cụ thể:
 Về đầu tư, hỗ trợ phát triển du lịch: Đầu tư xây mới, mở rộng, nâng cấp các sân bay, cảng tàu du lịch tại các địa bàn trọng điểm và khu vực có tiềm năng phát triển du lịch; triển khai mởi đường bay quốc tế; Tạo thuận lợi về thủ tục nhập cảnh cho khách du lịch quốc tế đến, đơn giản hóa quy trình, thủ tục cấp thị thực, thị thực điện tử.
 Phát triển hệ thống hạ tầng công nghệ thông tin trong ngành du lịch hướng tới trình độ của khu vực và quốc tế. Xây dựng hệ thống hạ tầng viễn thông, mạng internet không dây miễn phí tại các khu, điểm du lịch và các khách sạn, nhà hàng, trung tâm dịch vụ du lịch.
 Phát triển sản phẩm du lịch: Có chính sách thu hút đầu tư phát triển sản phẩm du lịch quy mô lớn, chất lượng cao tại các địa bàn trọng điểm và khu vực động lực phát triển du lịch, khu du lịch quốc gia.
 Tăng cường năng lực cạnh tranh của hệ thống doanh nghiệp du lịch: Tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, hộ kinh doanh trong phát triển du lịch. Nâng cao khả năng tiếp cận vốn cho các doanh nghiệp khởi nghiệp; khuyến khích, ưu đãi hỗ trợ đầu tư ở mức cao nhất trong khuôn khổ pháp luật hiện hành.
Có thể thấy, thông qua việc thực hiện đề án “Cơ cấu lại ngành du lịch đáp ứng yêu cầu phát triển thành ngành kinh tế mũi nhọn” sẽ góp phần hình thành hệ thống sản phẩm du lịch rõ nét, đặc sắc, đa dạng, mang đậm bản sắc văn hóa Việt Nam và có thương hiệu, nhất là tại các khu vực động lực phát triển du lịch qua đó từng bước cải thiện năng lực cạnh tranh của du lịch Việt Nam.

Hướng dẫn về việc đưa hàng về bảo quản đối với sắt, thép phế liệu nhập khẩu
Trả lời

Ngày 07/12/2018, Tổng cục Hải quan đã ban hành Công văn số 7225/TCHQ-GSQL về việc đưa hàng về bảo quản đối với sắt, thép phế liệu nhập khẩu. Văn bản này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.
Theo đó, Tổng cục Hải quan đã hướng dẫn Cục Hải quan các tỉnh, thành phố liên quan đến việc nhập khẩu sắt, thép phế liệu không đóng trong container chở trên tàu (hàng rời) về việc bảo quản hàng hóa. Cụ thể như sau:
1. Đối với sắt, thép phế liệu không đóng trong container chở trên tàu, khi người khai hải quan đề nghị đưa hàng về địa điểm bảo quản hàng hóa thì căn cứ quy định tại Khoản 3 Điều 32 Thông tư 38/2018/TT-BTC để thực hiện;
2. Trước khi đưa hàng về bảo quản, Chi cục Hải quan nơi đăng ký tờ khai hải quan thực hiện kiểm tra địa điểm bảo quản hàng hóa, trường hợp địa điểm bảo quản hàng hóa đáp ứng điều kiện theo quy định tại điểm b Khoản 3 Điều 33 nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21/1/2015 của Chính phủ thì cho phép đưa hàng về bảo quản;
3. Chi cục Hải quan cửa khẩu thực hiện giám sát trực tiếp toàn bộ quá trình xếp dỡ hàng hóa từ phương tiện vận tải nhập cảnh xuống các phương tiện chở hàng để đưa về địa điểm bảo quản hàng hóa.
Có thể thấy, các hướng dẫn của Tổng cục Hải quan thông qua Công văn số 7225/TCHQ-GSQL sẽ góp phần giúp tháo gỡ các vướng mắc của các đơn vị hải quan trong việc quản lý, giám sát việc bảo quản đối với sắt, thép phế liệu nhập khẩu của thương nhân.

Quy định về điều kiện phát hành trái phiếu doanh nghiệp
Trả lời

Ngày 04/12/2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 163/2018/NĐ-CP quy định về phát hành trái phiếu doanh nghiệp. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 01/02/2019.
Theo đó, các quy định về điều kiện phát hành trái phiếu doanh nghiệp (DN) tại Nghị định số 163/2018/NĐ-CP đã có những thay đổi, khắc phục những hạn chế của những quy định trước đây tại Nghị định số 90/2011/NĐ-CP, cụ thể:
Nghị định số 90/2011/NĐ-CP trước đây quy định một trong các điều kiện phát hành trái phiếu là DN phải có lãi năm liền kề trước năm phát hành. Tuy nhiên, trên thực tế, một số DN muốn phát hành trái phiếu cho mục đích cơ cấu lại các khoản nợ không đáp ứng được điều kiện này nên không thể phát hành được trái phiếu để huy động vốn. Để khắc phục hạn chế này, Nghị định số 163/2018/NĐ-CP đã bỏ điều kiện doanh nghiệp phát hành trái phiếu phải có lãi năm liền kề trước năm phát hành. Đồng thời, quy định cụ thể về điều kiện để doanh nghiệp phát hành trái phiếu thành nhiều đợt nhằm cho phép doanh nghiệp phát hành trái phiếu để huy động vốn làm nhiều đợt phù hợp với tiến độ thực hiện dự án đầu tư.
Ngoài ra, Nghị định số 163/2018/NĐ-CP cũng quy định trái phiếu doanh nghiệp phát hành riêng lẻ cho dưới 100 nhà đầu tư không bao gồm nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp. Quy định này được nhận định sẽ góp hần định hướng nhà đầu tư mua trái phiếu là nhà đầu tư chuyên nghiệp, phân biệt rõ kênh phát hành riêng lẻ với kênh phát hành ra công chúng theo quy định tại Luật Chứng khoán.
Bên cạnh đó, đối với giao dịch trái phiếu doanh nghiệp phát hành riêng lẻ, Nghị định này quy định trái phiếu doanh nghiệp phát hành riêng lẻ bị hạn chế giao dịch trong phạm vi 100 nhà đầu tư trong vòng một năm kể từ ngày phát hành. Sau một năm, trái phiếu được tự do giao dịch không bị hạn chế về số lượng nhà đầu tư.
Nhìn chung, Nghị định số 163/2018/NĐ-CP được ban hành sẽ góp phần xây dựng khung pháp lý rõ ràng trong hoạt động phát hành trái phiếu của các doanh nghiệp, nhằm đảm bảo tính rõ ràng, minh bạch của hoạt động này. Qua đó, bảo vệ quyền và lợi ích của những các cá nhân, tổ chức mua trái phiếu một cách đầy đủ, hạn chế tối đa rủi ro.

Cơ chế ưu tiên trong chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn
Trả lời

Ngày 06/12/2018, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ban hành Thông tư số 04/2018/TT-BKHĐT quy định về cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn. Thông tư này hiệu lực thi hành từ ngày 21/01/2019.
Theo đó, Danh mục dự án khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn được tổng hợp theo nguyên tắc ưu tiên các dự án sau:
 Dự án chế biến nông sản sử dụng nguyên liệu địa phương hoặc sử dụng nhiều lao động (100 lao động trở lên);
 Dự án sản xuất sản phẩm cơ khí, thiết bị, linh kiện thiết bị, sản phẩm phụ trợ cho ngành nông nghiệp;
 Dự án có quy trình sản xuất thân thiện với môi trường, tiêu tốn ít năng lượng, ít phát thải;
 Dự án liên kết sản xuất tạo ra chuỗi giá trị trong lĩnh vực nông nghiệp, dự án sản xuất nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp công nghệ cao.
Bên cạnh đó, Thông tư này cũng có những hướng dẫn miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, tiền thuê mặt nước như sau:
 Nguyên tắc thực hiện miễn, giảm theo Điều 10 của Nghị định 45/2014/NĐ-CP và Điều 18 Thông tư 46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014;
 Hồ sơ và trình tự miễn, giảm tiền sử dụng đất thực hiện theo Điều 15, 16 của Thông tư 76/2014/TT-BTC ngày 16/6/2014 và Điều 8 của Thông tư 10/2018/TT-BKHĐT ngày 30/01/2018;
 Hồ sơ và trình tự miễn, giảm tiền thuê đất, tiền thuê mặt nước thực hiện theo Điều 14, 15 của Thông tư 77/2014/TT-BTC ngày 16/6/2014.
Có thể thấy, Thông tư sô 04/2018/TT-BKHĐT đã có những quy định chi tiết và cụ thể, qua đó thể hiện cơ chế chính sách của Việt Nam trong việc thu hút các Doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, đặc biệt là khuyến khích sự đầu tư công nghệ để phát triển các hoạt động kinh doanh sản xuất trong lĩnh vực này.

Bản tin pháp luật số 48/2018
Trả lời

Hướng dẫn mới về một số nội dung của Bộ luật Lao động
Trả lời

Ngày 24/10/2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 148/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 05/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật lao động. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 15/12/2018.
Theo đó, Nghị định số 148/2018/NĐ-CP có một số điểm mới nổi bật như sau:
1. Bổ sung đối tượng ký kết hợp đồng lao động (HĐLĐ) là người được người đại diện theo pháp luật hoặc người đứng đầu cơ quan, đơn vị, tổ chức quy định tại ủy quyền bằng văn bản về việc giao kết hợp đồng lao động được phép ký hợp đồng lao động.
2. Thời gian thử việc không còn được tính trợ cấp thôi việc
So với quy định trước đây, thời gian thử việc đã không còn được tính là thời gian làm việc để nhận trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm. Thời gian này chỉ còn bao gồm: Thời gian người lao động đã làm việc thực tế; Thời gian được người sử dụng lao động cử đi học; Thời gian nghỉ hưởng chế độ ốm đau, thai sản…
3. Trong 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt HĐLĐ, người sử dụng lao động và người lao động phải thanh toán đầy đủ các khoản liên quan đến quyền lợi của mỗi bên.
Thời hạn trên có thể kéo dài đến 30 ngày trong các trường hợp đặc biệt như: Người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động; Người sử dụng lao động hoặc người lao động gặp thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh; Người sử dụng lao động thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc sáp nhập, hợp nhất…
4. Tiền lương ngày nghỉ lễ không căn cứ vào lương tháng trước liền kề
Theo Nghị định này, tiền lương làm căn cứ để trả cho người lao động trong những ngày nghỉ hàng năm, ngày nghỉ lễ, tết và ngày nghỉ việc riêng có hưởng lương được tính như sau:
Tiền lương trong HĐLĐ: số ngày làm việc bình thường trong tháng x số ngày người lao động nghỉ.
5. Bổ sung quy định về tiền lương làm căn cứ bồi thường khi chấm dứt HĐLĐ trái luật
Nghị định hướng dẫn Bộ luật Lao động mới nhất còn bổ sung quy định về tiền lương làm căn cứ bồi thường khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật. Theo đó, đây là tiền lương theo HĐLĐ lao đồng tại thời điểm người sử dụng lao động hoặc người lao động đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái luật.
Như vậy, có thể thấy, với những hướng dẫn chi tiết và cụ thể, Nghị định số 148/2018/NĐ-CP được kỳ vọng sẽ góp phần khắc phục các vấn đề bất cập tồn tại trong việc thực hiện Bộ luật lao động 2012 trong thời gian qua, phù hợp với sự thay đổi của đời sống xã hội, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động cũng như0020người sử dụng lao động.

Sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số quy định về quản lý an toàn và kiểm định kỹ thuật an toàn lao động thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ công thương
Trả lời

Ngày 25/10/2018, Bộ Công thương ban hành Thông tư số 37/2018/TT-BCT sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số quy định về quản lý an toàn và kiểm định kỹ thuật an toàn lao động thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Công thương. Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 10/12/2018.
Theo đó, Thông tư số 37/2018/TT-BCT có nội dung nổi bật như sau:
1. Sửa đổi, bổ sung Thông tư số 41/2011/TT-BCT ngày 16/12/ 2011 của Bộ trưởng Bộ Công thương quy định về quản lý an toàn trong lĩnh vực khí dầu mỏ hoá lỏng, theo đó cơ sở kinh doanh LPG phải có đủ điều kiện về phòng cháy chữa cháy theo quy định.
2. Sửa đổi, bổ sung Thông tư số 09/2017/TT-BCT ngày 13/07/2017 của Bộ trưởng Bộ Công thương quy định hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Công Thương, theo đó tổ chức, cá nhân có nhu cầu cấp, gia hạn, cấp lại Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động (Giấy chứng nhận đủ điều kiện), Chứng chỉ kiểm định viên (Chứng chỉ) lập 01 bộ hồ sơ theo quy định gửi qua đường bưu điện, nộp trực tiếp tại Cục Kỹ thuật an toàn và Môi trường công nghiệp hoặc qua Cổng thông tin điện tử của Bộ Công Thương theo hình thức dịch vụ công trực tuyến
Như vậy, Thông tư số 37/2018/TT-BCT đã có những sửa đổi, bổ sung quan trọng và kịp thời về quản lý an toàn trong lĩnh vực khí dầu mỏ hoá lỏng và hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động, qua đó có những hướng dẫn phù hợp đãm bảo các hoạt động này được thực hiện chính xác và hiệu quả.