Ngày 30/11/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 162/2018/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hàng không dân dụng. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 15/01/2019.
Theo đó, Nghị định số 162/2018/NĐ-CP đã có những điều chỉnh về mức xử phạt khi có vi phạm phát sinh trong lĩnh vực hàng không dân dụng, cụ thể:
Phạt tiền đến 05 triệu đồng đối với một trong các hành vi: Có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của nhân viên hàng không, hành khách hoặc người khác tại cảng hàng không, sân bay; thuê, lôi kéo hoặc xúi giục người khác đánh nhau hoặc đánh nhau tại cảng hàng không, sân bay mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Phạt tiền từ 07 đến 10 triệu đồng đối với một trong các hành vi: Không tổ chức kiểm tra an ninh tàu bay trước chuyến bay theo quy định; thuê, lôi kéo hoặc xúi giục người khác đánh nhau hoặc đánh nhau trên tàu bay mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự; giao vũ khí, công cụ hỗ trợ cho người không có đủ điều kiện, tiêu chuẩn sử dụng tại cảng hàng không, sân bay, trên tàu bay; có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của nhân viên hàng không, hành khách trên tàu bay mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Phạt tiền từ 15 đến 20 triệu đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây: Xâm nhập trái phép vào tàu bay; hành hung thành viên tổ bay, hành khách, người khác trên tàu bay mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đưa công cụ hỗ trợ, chất dễ cháy, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao, súng săn và các loại vũ khí, đồ vật khác có hình dạng, tính năng, tác dụng tương tự vào khu vực hạn chế tại cảng hàng không, sân bay, lên tàu bay trái quy định mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Có thể thấy rằng, việc ban hành Nghị định số 162/2018/NĐ-CP, là một điểm tiến bộ trong việc xử lý vi phạm hành chính, các hình thức và mức độ xử phạt phù hợp với tích chất của hành vi vi phạm hành chính, đồng thời, các quy định tại Nghị định này cũng được kỳ vọng sẽ góp phần giúp hoạt động xử phạt được chính xác, rõ ràng và minh bạch hơn.
Ngày 30/11/2018 vừa qua căn cứ theo nội dung cuộc họp do Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ về triển khai thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia, cơ chế một cửa ASEAN và công tác kiểm tra chuyên ngành của Bộ Giao thông vận tải (Cơ chế một cửa), Văn phòng Chính phủ đã ban hành Thông báo số 442/TB-VPCP thông báo các kết luận của Phó thủ tướng
Theo đó, Phó thủ tướng ghi nhận những kết quả tích cực mà Bộ giao thông vận tại đã đạt được như: xây dựng và đưa 82/87 thủ tục hành chính tham gia cơ chế một cửa; cắt giảm 80/134 danh mục sản phẩm hàng hóa kiểm tra chuyên ngành. Tuy nhiên Phó thủ tướng vẫn lưu ý Bộ về những nhiễm vụ trước mắt cần tập trung thực hiện như cải cách toàn diện công tác kiểm tra chuyên ngành hàng hóa xuất nhập khẩu theo hướng công khai minh bạch; rà soát khuôn khổ pháp lý chuyên ngành, đề xuất việc sửa đổi bổ sung đảm bảo thực hiện mục tiêu tới năm 2020, toàn bộ các thủ tục hành chính xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh được thực hiện thông qua Cơ chế một cửa dưới hình thức dịch vụ công trực tuyến cấp độ 4.
Bên cạnh đó, Phó Thủ tướng giao nhiệm vụ cho Bộ Giao thông vận tải phối hợp với các bộ ban ngành rà soát, trình Chính phủ xem xét việc sửa đổi Nghị định số 116/2017/NĐ-CP về điều kiện sản xuất, lắp rắp, nhập khẩu, kinh doanh dịch vụ bảo hành, bảo dưỡng ô tô.
Có thể thấy, với những kết luận nêu trên, Chính phủ, Bộ Giao Thông Vận Tải đã đang thể hiện quyết tâm trong việc cải cách thủ tục hành chính theo hướng minh bạch, tiết kiệm, qua đó tạo điều kiện cho các nhân, tổ chức thực hiện các thủ tục hành chính được chính xác, nhanh chóng và hiệu quả.
Ngày 30/11/2018, Ban chỉ đạo Quốc gia chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả đã ban hành Công văn số 454/KH-BCĐ389 về kế hoạch cao điểm chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả trước, trong và sau Tết Nguyên đán Kỷ Hợi 2019. Công văn này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.
Theo đó, Công văn số 454/KH-BCĐ389 đã có những hướng dẫn về công tác chống buôn lậu, gian lận và hàng giả, cụ thể như sau:
– Xác định các tuyến, địa bàn, hàng hóa trọng điểm. Tăng cường kiểm soát tại các cửa khẩu đường bộ, đường biển, đường hàng không; các đường mòn, lối mở, khu vực cửa khẩu, khu kinh tế cửa khẩu, khu vực tập kết hàng hóa gần biên giới, các chợ đầu mối, các trung tâm thương mại, các tuyến đường bộ, đường sắt, đường sông, đường biển, cảng hàng không nội địa …;
– Xây dựng phương án tổ chức lực lượng, phương tiện tăng cường kiểm tra, kiểm soát cả biên giới, cửa khẩu và nội địa, tập trung vào các mặt hàng: ma túy, vũ khí, pháo nổ, ngoại tệ, xăng dầu, các mặt hàng tiêu dùng nhiều trong dịp Tết như thực phẩm, gia súc, gia cầm, rượu, bia, thuốc lá, bánh kẹo, hoa quả, hàng điện tử, mỹ phẩm, thời trang cao cấp,… đảm bảo ổn định thị trường.
– Chủ động tổ chức các đoàn liên ngành kiểm tra, giám sát, đôn đốc các lực lượng chức năng; chỉ đạo, điều phối công tác phối hợp lực lượng trong công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả theo lĩnh vực, địa bàn phụ trách.
Có thể thấy, Công văn số 454/KH-BCĐ389 được ban hành sẽ nâng cao tinh thần hoạt động quốc gia về công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả trong đợt cao điểm tiêu thụ hàng hóa dịp Tết Nguyên đán 2019 trên toàn lãnh thổ Việt Nam, qua đó đảm bảo quyền lợi của nhân dân, cũng như kiểm soát tình hình an ninh và trật tự xã hội.
Ngày 01/11/2018, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 43/2018/QĐ-TTg Ban hành hệ thống ngành sản phẩm Việt Nam. Quyết định này có hiệu lực thi hành từ ngày 20/12/2018.
Theo đó, danh mục hệ thống bao gồm 07 cấp được mã hóa tương ứng như sau:
– Cấp 1 gồm 21 ngành sản phẩm được mã hóa theo bảng chữ cái từ A đến U;
– Cấp 2 gồm các ngành sản phẩm mà mỗi ngành được mã hóa bằng hai số theo từng ngành cấp 1 tương ứng;
– Cấp 3 gồm các ngành sản phẩm mà mỗi ngành được mã hóa bằng ba số theo từng ngành cấp 2 tương ứng;
– Cấp 4 gồm các ngành sản phẩm mà mỗi ngành được mã hóa bằng bốn số theo từng ngành cấp 3 tương ứng;
– Cấp 5 gồm các ngành sản phẩm mà mỗi ngành được mã hóa bằng năm số theo từng ngành cấp 4 tương ứng;
– Cấp 6 gồm các nhóm sản phẩm được mã hóa bằng sáu số theo từng ngành cấp 5 tương ứng;
– Cấp 7 gồm các sản phẩm được mã hóa bằng bảy số theo từng ngành cấp 6 tương ứng.
Có thể thấy, do hệ thống ngành sản phẩm được xây dựng dựa trên Hệ thống ngành kinh tế nên việc ban hành Hệ thống ngành sản phẩm mới là để phù hợp với Hệ thống ngành kinh tế được ban hành ngày 06/07/2018, đồng thời góp phần xây dựng hệ thống ngành sản phẩm được chi tiết và cụ thể, đáp ứng quá trình phát triển thị trường, phát triển chuyên môn hoá cao hơn, đa dạng hơn như hiện nay.
Ngày 30/11/2018, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành Thông tư số 28/2018/TT-NHNN về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 40/2011/TT-NHNN ngày 15/12/2011 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về việc cấp Giấy phép và tổ chức hoạt động của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng tại Việt Nam. Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 15/01/2019.
Thông tư số 28/2018/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung các quy định về hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép thành lập và tổ chức hoạt động của ngân hàng thương mại nước ngoài. Theo đó hồ sơ của cổ đông góp vốn thành lập bao gồm:
a) Đối với cá nhân;
(i) Đơn mua cổ phần đối với cá nhân;
(ii) Bảng kê khai người có liên quan;
(iii) Ngoài các thành phần hồ sơ nêu trên, cổ đông sáng lập phải có thêm các văn bản sau:
– Sơ yếu lý lịch theo mẫu quy định; Phiếu lý lịch tư pháp do cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp cấp, trong đó phải có đầy đủ thông tin về tình trạng án tích (bao gồm án tích đã được xóa và án tích chưa được xóa) và thông tin về việc cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã;
Phiếu lý lịch tư pháp phải được cơ quan có thẩm quyền cấp trước thời điểm nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép không quá 06 (sáu) tháng;
– Báo cáo tài chính 03 năm liền kề năm nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép của doanh nghiệp do cổ đông sáng lập quản lý hoặc Bản sao văn bằng đại học hoặc trên đại học chuyên ngành kinh tế hoặc luật;
– Bảng kê khai các loại tài sản có giá trị từ 100 triệu đồng trở lên, các khoản nợ và tài liệu chứng minh liên quan của cá nhân.
Như vậy, Thông tư số 28/2018/TT-NHNN đã sửa đổi bổ sung một cách chi tiết, cụ thể và rõ ràng hơn về hoạt động chứng minh năng lực của bộ máy quản trị, kiểm soát, điều hành của các ngân hàng thương mại nước ngoài trong hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép thành lập và tổ chức hoạt động. Qua đó góp phần nâng cao chất lượng cũng như giảm thiểu rủi ro trong hoạt động quản lý đối với các ngân hàng thương mại nói riêng và các tổ chức tín dụng nước ngoài nói chung.
Ngày 04/12/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 163/2018/NĐ-CP quy định về phát hành trái phiếu doanh nghiệp. Nghị định này sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 01/02/2019.
Theo đó, Nghị định số 163/2018/NĐ-CP có những nội dung mới, đáng chú ý như sau:
Bổ sung định nghĩa “Trái phiếu doanh nghiệp xanh”:
Trái phiếu doanh nghiệp xanh là trái phiếu doanh nghiệp được phát hành để đầu tư cho các dự án bảo vệ môi trường theo quy định của Luật bảo vệ môi trường.
Bãi bỏ một số điều kiện khi phát hành trái phiếu:
Điều kiện để phát hành trái phiếu không chuyển đổi trong nước không còn yêu cầu kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của năm liền kề trước năm phát hành phải có lãi (theo báo cáo tài chính).
Quy định cụ thể về quy trình phát hành trái phiếu:
+ Bước 1: Doanh nghiệp phát hành chuẩn bị hồ sơ phát hành trái phiếu;
+ Bước 2: Doanh nghiệp phát hành công bố thông tin trước đợt phát hành
+ Bước 3: Doanh nghiệp phát hành tổ chức phát hành trái phiếu
+ Bước 4: Doanh nghiệp phát hành công bố thông tin về kết quả phát hành trái phiếu và báo cáo kết quả phát hành
+ Bước 5: Doanh nghiệp phát hành thực hiện lưu ký trái phiếu
+ Bước 6: Doanh nghiệp phát hành thực hiện thanh toán gốc, lãi trái phiếu
+ Bước 7: Doanh nghiệp phát hành thực hiện công bố thông tin và báo cáo định kỳ kể từ khi hoàn thành đợt phát hành trái phiếu cho đến khi đáo hạn trái phiếu
Bên cạnh đó, Nghị định này còn quy định trái phiếu phải được đăng ký, lưu ký tại tổ chức lưu ký được phép, không còn được ký gửi tại các tổ chức tín dụng như quy định hiện hành.
Ngoài ra, từ ngày 01/02/2019, doanh nghiệp phát hành trái phiếu theo Nghị định số 90/2011/NĐ-CP phải thực hiện công bố thông tin theo quy định tại Điều 24, 25, 26 và lưu ký theo quy định tại Điều 16 Nghị định số 163/2018/NĐ-CP.
Có thể thấy, Nghị định số 163/2018/NĐ-CP đã quy định khá chi tiết trình tự thủ tục trong việc phát hành trái phiếu của doanh nghiệp so với Nghị định 90/2011/NĐ-CP, qua đó giúp quá trình triển khai thực hiện của doanh nghiệp được cụ thể, rõ ràng hơn, đồng thời góp phần giúp quá trình quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực này được đồng bộ và chính xác hơn.
Ngày 15/10/2018, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành Thông tư số 33/2018/TT-BVHTTDL quy định về hoạt động thư viện lưu động và luân chuyển tài liệu. Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/12/2018.
Theo đó, Thông tư số 33/2018/TT-BVHTTDL quy định về hoạt động thư viện lưu động và luân chuyển tài liệu; trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động thư viện lưu động và luân chuyển tài liệu. Đối tượng áp dụng là các thư viện và tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động thư viện lưu động và luân chuyển tài liệu.
Bên cạnh đó, Thông tư này cũng quy định hoạt động thư viện lưu động và luân chuyển tài liệu phải tuân thủ theo các nguyên tắc nhất định, cụ thể: Tuân thủ quy tắc, quy trình nghiệp vụ thư viện và các quy định của pháp luật có liên quan; đảm bảo an toàn về con người và tài sản của thư viện; Chủ động, kịp thời, linh hoạt; Đảm bảo cung cấp cơ hội tiếp cận với tài liệu, xây dựng không gian đọc, phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và giải trí cho mọi đối tượng, đặc biệt là thiếu nhi, người cao tuổi và người khuyết tật; Ứng dụng công nghệ thông tin và các dịch vụ thư viện điện tử nhằm nâng cao chất lượng, đáp ứng nhu cầu của người sử dụng; Có sự phối hợp giữa thư viện và các cơ quan liên quan nhằm chia sẻ và phát huy hiệu quả nguồn lực, tiện ích cho người sử dụng.
Như vậy, Thông qua các quy định tại Thông tư số 33/2018/TT-BVHTTDL, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã có những hướng dẫn cụ thể về hoạt động thư viện lưu động và luân chuyển tài liệu, qua đó góp phần tạo điều kiện giúp các các nhân, tổ chức thực hiện các hoạt động này được nhanh chóng, chính xác, đảm bảo tính bảo mật, đồng thời góp phần tăng cường hiệu quả của quản lý Nhà nước trong lĩnh vực này.
Ngày 15/10/2018, Bộ Thông tin và Truyền thông đã ban hành Thông tư số 12/2018/TT-BTTTT quy định về mức giá cước tối đa dịch vụ bưu chính phổ cập. Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/12/2018.
Theo đó, Thông tư số 12/2018/TT-BTTTT quy định về mức giá cước tối đa dịch vụ bưu chính phổ cập cụ thể như sau:
1. Quy định về mức giá cước tối đa dịch vụ thư cơ bản trong nước:
– Khối lượng đến 20g, mức giá cước tối đa 4.000 đồng;
– Khối lượng trên 20g đến 100g, mức giá cước tối đa 6.000 đồng;
– Khối lượng trên 100g đến 250g, mức giá cước tối đa 8.000 đồng;
– Mỗi 250g tiếp theo đến 2.000g, mức giá cước tối đa 2.000 đồng.
2. Quy định về mức giá cước tối đa dịch vụ thư cơ bản từ Việt Nam đi các nước:
TT Nấc khối lượng Mức giá cước tối đa (đồng)
Vùng 1 Vùng 2 Vùng 3 Vùng 4
1 Đến 20g 15.000 19.000 21.000 23.000
2 Trên 20g đến 100g 37.000 46.000 59.000 63.000
3 Trên 100g đến 250g 90.000 109.000 140.000 155.000
4 Mỗi 250g tiếp theo đến 2.000g 84.000 115.000 136.000 136.000
Bên cạnh đó, Thông tư này cũng quy định Sở Thông tin và Truyền thông các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm kiểm tra, giám sát việc thực hiện giá cước dịch vụ bưu chính phổ cập trên địa bàn. Bộ Thông tin và Truyền thông giao Tổng công ty Bưu điện Việt Nam thực hiện:
– Quyết định giá cước dịch vụ bưu chính phổ cập bảo đảm không cao hơn mức giá cước tối đa nêu trên;
– Báo cáo Bộ về giá cước dịch vụ 30 ngày trước khi triển khai dịch vụ;
– Niêm yết, công khai giá cước dịch bưu chính phổ cập theo quy định.
Như vậy, có thể thấy, Thông tư 12/2018/TT-BTTTT đã có những quy định chi tiết và cụ thể về mức giá mới đối với cước tối đa dịch vụ bưu chính phổ cập, qua đó tạo cơ sở thực hiện chính xác, nhanh chóng và hợp pháp đối với các hoạt động trong lĩnh vực này.
Ngày 21/09/2018, Tòa án Nhân dân Tối cao đã ban hành Thông tư số 02/2018/TT-TANDTC quy định chi tiết về việc xét xử các vụ án hình sự có người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi tại Tòa gia đình và người chưa thành niên. Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/12/2018
Theo đó kể từ ngày 01/12/2018, việc xét xử các vụ án hình sự có người tham giao tố tụng là người dưới 18 tuổi sẽ được thực hiện như sau:
– Các vụ án với tội danh rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì mới tiến hành xét xử trong phòng xử án hình sự, các vụ án về xâm hại tình dục, bạo hành hoặc bị mua bán sẽ phải tiến hành xét xử kín. Còn lại các vụ án khác sẽ thực hiện việc xét xử tại phòng xét xử thân thiện;
– Tuyệt đối không xét xử lưu động với các vụ án có người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi;
– Thẩm phán, hội thẩm nhân dân được phân công giải quyết vụ án phải là người đã được bồi dưỡng, đạo tạo, tập huấn về tâm lí học, khoa học giáo dục đối với người dưới 18 tuổi;
– Bị can, bị cáo, bị hại trong vụ án hình sự nếu là người dưới 18 tuổi thì bắt buộc phải có sự tham gia của người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, trường hợp không lựa chọn được người bào chữa thì Tòa án yêu cầu Đoàn luật sư phân công luật sư tham gia bảo vệ, bào chữa cho người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi.
Như vậy, với việc Thông tư số 02/2018/TT-TANDTC được ban hành, Tòa án Nhân dân Tối cao đã có hướng dẫn quan trọng tới Tòa án nhân dân các cấp qua đó sẽ góp phần đảm bảo quyền lơi hợp pháp của người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự.