Nhiều ngân hàng tăng mạnh lãi suất huy động
Với mong muốn bổ sung thêm nguồn vốn trung, dài hạn để phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh cuối năm, đồng thời giảm...
Bùng nổ nhượng quyền thương hiệu vào Việt Nam
Hoạt động nhượng quyền đang được giới kinh doanh vận dụng để đưa các thương hiệu nước ngoài vào thị trường Việt Nam. Ngoài lĩnh...
6 ngành kinh tế phát triển mũi nhọn khu vực miền Trung
Có 6 lĩnh vực kinh tế biển, ven biển đang được các tỉnh miền Trung tập trung phát triển và đã đạt được những kết...
91.9% doanh nghiệp lạc quan về hoạt động sản xuất 6 tháng cuối năm
Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có tỷ lệ doanh nghiệp dự báo về khối lượng sản xuất khả...
Việt Nam chuyển dần từ nhập siêu sang xuất siêu với CPTPP
Với hầu hết các hiệp định thương mại (FTA) đã ký, Việt Nam thường nhập siêu, thì nay, khi thực hiện CPTTP, trong 7 tháng...
Giải đáp pháp luật
Quy định tiếp nhận, xử lý tố cáo nặc danh có nội dung tố cáo rõ ràng
Trả lời

Ngày 12/06/2018, Quốc hội đã thông qua Luật Tố cáo 2017 quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ và hành vi vi phạm pháp luật khác về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực; bảo vệ người tố cáo; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong việc quản lý công tác giải quyết tố cáo. Luật Tố cáo 2017 có hiệu lực vào ngày 01/01/2019.
Một trong những điếm mới nổi bật của Luật Tố cáo 2017 là quy định về trường hợp xử lý tố cáo nặc danh, cụ thể:
Khi nhận được thông tin có nội dung tố cáo nhưng không rõ họ tên, địa chỉ của người tố cáo hoặc qua kiểm tra, xác minh không xác định được người tố cáo hoặc người tố cáo sử dụng họ tên của người khác để tố cáo hoặc thông tin có nội dung tố cáo được phản ánh không theo quy định của pháp luật, nhưng đáp ứng nội dung rõ ràng về người có hành vi vi phạm pháp luật, có tài liệu, chứng cứ cụ thể về hành vi vi phạm pháp luật và có cơ sở để thẩm tra, xác minh thì cơ quan, tổ chức, cá nhân tiếp nhận tiến hành việc thanh tra, kiểm tra theo thẩm quyền hoặc chuyển đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền để tiến hành việc thanh tra, kiểm tra phục vụ cho công tác quản lý.
Tố cáo nặc danh được xử lý theo quy trình sau:
1. Cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận và xử lý thông tin có nội dung tố cáo;
2. Nếu nội dung tố cáo có cơ sở để xác định người vi phạm, hành vi vi phạm pháp luật, tiến hành thụ lý tố cáo;
3. Trong quá trình nghiên cứu, xử lý vụ việc, người giải quyết tố cáo tiến hành xác minh hoặc giao cho cơ quan thanh tra cùng cấp hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác xác minh nội dung tố cáo;
4. Kết thúc việc xác minh nội dung tố cáo, người giải quyết tố cáo phải ban hành kết luận nội dung tố cáo, trên cơ sở nội dung tố cáo, kết quả xác minh nội dung tố cáo và các tài liệu, chứng cứ liên quan;
5. Cuối cùng, người giải quyết tố cáo tiến hành đưa ra các biện pháp xử lý trên cơ sở kết luận nội dung tố cáo.
Tóm lại, việc ban hành Luật Tố cáo 2017 đã cho thấy sự quyết tâm và nỗ lực của Đảng và Nhà nước ta trong hoạt động đấu tranh với những hành vi vi phạm phạm luật đang có chiều hướng gia tăng trong xã hội ngày nay. Bên cạnh đó, quy định về xử lý tố cáo có tính chất nặc danh đã cho thấy sự bảo đảm về quyền lợi cũng như việc động viên từ phía Nhà nước, khuyến khích các chủ thể mạnh dạn đấu tranh, đưa những hành vi vi phạm pháp luật ra ánh sáng, nhằm giữ gìn trật tự an toàn xã hội.

Nội dung chính của Luật An ninh mạng
Trả lời

Ngày 12/6/2018, tại Kỳ họp thứ 5 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khóa XIV đã thông qua Luật An ninh mạng số 24/2018/QH14 (Luật An ninh mạng), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2019.
Luật An ninh mạng gồm 7 chương, 43 điều, cụ thể như sau:
Chương I. Những quy định chung, gồm 9 điều (từ Điều 1 đến Điều 9), quy định về phạm vi điều chỉnh; giải thích từ ngữ; chính sách của Nhà nước về an ninh mạng; nguyên tắc bảo vệ an ninh mạng; biện pháp bảo vệ an ninh mạng; bảo vệ không gian mạng quốc gia; hợp tác quốc tế về an ninh mạng; các hành vi bị nghiêm cấm về an ninh mạng; xử lý vi phạm pháp luật về an ninh mạng.
Chương II. Bảo vệ an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia, gồm 6 điều (từ Điều 10 đến Điều 15), quy định về hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia; thẩm định an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia; đánh giá điều kiện an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia; kiểm tra an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia; giám sát an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia; ứng phó, khắc phục sự cố an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia.
Chương III. Phòng ngừa, xử lý hành vi xâm phạm an ninh mạng, gồm 7 điều (từ Điều 16 đến Điều 22), quy định về phòng ngừa, xử lý thông tin trên không gian mạng có nội dung tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; kích động gây bạo loạn, phá rối an ninh, gây rối trật tự công cộng; làm nhục, vu khống; xâm phạm trật tự quản lý kinh tế; phòng, chống gián điệp mạng; bảo vệ thông tin thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân, bí mật gia đình và đời sống riêng tư trên không gian mạng; phòng, chống hành vi sử dụng không gian mạng, công nghệ thông tin, phương tiện điện tử để vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tấn công mạng; phòng, chống khủng bố mạng; phòng ngừa, xử lý tình huống nguy hiểm về an ninh mạng; đấu tranh bảo vệ an ninh mạng.
Chương IV. Hoạt động bảo vệ an ninh mạng, gồm 7 điều (từ Điều 23 đến Điều 29), quy định về triển khai hoạt động bảo vệ an ninh mạng trong cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị ở trung ương và địa phương; kiểm tra an ninh mạng đối với hệ thống thông tin của cơ quan, tổ chức không thuộc Danh mục hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia; bảo vệ an ninh mạng đối với cơ sở hạ tầng không gian mạng quốc gia, cổng kết nối mạng quốc tế; bảo đảm an ninh thông tin trên không gian mạng; nghiên cứu, phát triển an ninh mạng; nâng cao năng lực tự chủ về an ninh mạng; bảo vệ trẻ em trên không gian mạng.
Chương V. Bảo đảm hoạt động bảo vệ an ninh mạng, gồm 6 điều (từ Điều 30 đến Điều 35), quy định về lực lượng bảo vệ an ninh mạng; bảo đảm nguồn nhân lực bảo vệ an ninh mạng; tuyển chọn, đào tạo, phát triển lực lượng bảo vệ an ninh mạng; giáo dục, bồi dưỡng kiến thức, nghiệp vụ an ninh mạng; phổ biến kiến thức về an ninh mạng; kinh phí bảo vệ an ninh mạng.
Chương VI. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân, gồm 7 điều (từ Điều 36 đến Điều 42), quy định về trách nhiệm của Bộ Công an; trách nhiệm của Bộ Quốc phòng; trách nhiệm của Bộ Thông tin và Truyền thông; trách nhiệm của Ban Cơ yếu Chính phủ; trách nhiệm của Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; trách nhiệm của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên không gian mạng; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân sử dụng không gian mạng.
Chương VII. Điều khoản thi hành, có 01 điều (Điều 43), quy định về hiệu lực thi hành.
Quốc hội ban hành Luật an ninh mạng nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý để bảo vệ chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động trên không gian mạng; xây dựng môi trường không gian mạng lành mạnh; triển khai công tác an ninh mạng trên phạm vi toàn quốc, đẩy mạnh công tác giám sát, dự báo, ứng phó và diễn tập ứng phó sự cố an ninh mạng, bảo vệ hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia; đảm bảo hiệu quả công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực này; nâng cao năng lực tự chủ về an ninh mạng, hoàn thiện chính sách nghiên cứu, phát triển chiến lược, chia sẻ thông tin về an ninh mạng.

Quy định mới về mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động
Trả lời

Ngày 16/11/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định 157/2018/NĐ-CP quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2019.
Theo Nghị định này, từ thời điểm 01/01/2019, mức lương tối thiểu vùng được ấn định như sau:
– Mức 4,18 triệu đồng/tháng áp dụng với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng I;
– Mức 3,71 triệu đồng/tháng áp dụng với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng II;
– Mức 3,25 triệu đồng/tháng áp dụng với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng III;
– Mức 2,92 triệu đồng/tháng áp dụng với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng IV.
So với năm 2018, mức lương tối thiểu vùng tăng từ 160.000 đồng/tháng – 200.000 đồng/tháng.
Chính phủ quy định mức lương tối thiểu vùng áp dụng từ 01/01/2019 tăng từ 160.000 đồng/tháng – 200.000 đồng/tháng so với năm 2018, làm cơ sở để doanh nghiệp và người lao động thỏa thuận và trả lương cho người lao động.

Quy định về kinh doanh dịch vụ kiểm định xe cơ giới
Trả lời

Ngày 08/10/2018, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 139/2018/NĐ-CP quy định về kinh doanh dịch vụ kiểm định xe cơ giới. Nghị định này có hiệu lực từ ngày 01/01/2019.
Theo nghị định này, việc kiểm định xe cơ giới là việc kiểm tra lần đầu và định kỳ về chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đối với xe cơ giới. Kinh doanh dịch vụ kiểm định xe cơ giới ngoài viêc đáp ứng đủ về cơ sở vật chất, dây chuyền kiểm định thì nhân lực trong đơn vị đăng kiểm phải đả bảo các điều kiện như sau:
– Mỗi dây chuyền kiểm định phải có tối thiểu 03 đăng kiểm viên, trong đó có ít nhất một đăng kiểm viên xe cơ giới bậc cao.
– Có phụ trách dây chuyền kiểm định. Mỗi phụ trách dây chuyền kiểm định chỉ được phụ trách tối đa hai dây chuyền kiểm định.
– Có lãnh đạo đơn vị đăng kiểm và nhân viên nghiệp vụ đáp ứng các các yêu cầu:
+ Trình độ chuyên môn tối thiểu tốt nghiệp trung cấp nghề;
+ Được tập huấn và cấp chứng chỉ tập huấn nhân viên nghiệm vụ kiểm định theo quy định của Bộ Giao thông vận tải.
Việc ban hành Nghị định số 139/2018/NĐ-CP là cơ sở pháp lý rõ ràng cho việc phát triển một ngành dịch vụ này. Đồng thời đây cũng là căn cứ về điều kiện cho các cá nhân tổ chức phải đáp ứng khi thực hiện kinh doanh dịch vụ kiểm định xe cơ giới cũng như là cơ sở cho cơ quan nhà nước có những thước đo chính xác trong việc thẩm định điều kiện và cấp giấy phép cho các doanh nghiệp.

Bản tin pháp luật số 51/2018
Trả lời

Phê duyệt kế hoạch uống bổ sung vắc xin bại liệt (bOPV) cho trẻ dưới 5 tuổi tại vùng nguy cơ cao
Trả lời

Ngày 10/12/2018, Bộ Y tế đã ban hành Quyết định số 7319/QĐ-BYT về việc phê duyệt kế hoạch uống bổ sung vắc xin bại liệt (bOPV) cho trẻ dưới 5 tuổi tại vùng nguy cơ cao năm 2018 – 2019. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.
Theo đó, kế hoạch này sẽ được triển khai tại 23 tỉnh với 564.277 trẻ dưới 05 tuổi, bao gồm cả những trẻ đã từng uống hoặc tiêm vắc xin bại liệt trước đó (trừ trường hợp mới uống vắc xin bại liệt trong vòng 01 tháng trước ngày triển khai tiêm chủng).
Kế hoạch sẽ tổ chức 02 vòng bổ sung vắc xin bại liệt cách nhau 01 tháng; mỗi trẻ sẽ được uống 02 liều vắc xin (mỗi liều hai giọt). Cuối mỗi buổi, cần rà soát các hoạt động để kịp thời đưa ra kế hoạch uống bù và các hoạt động điều chỉnh, đảm bảo không để sót đối tượng tiêm chủng.
Bên cạnh đó, Quyết định số 7319/QĐ-BYT cũng quy định về trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong việc thực hiện kế hoạch, cụ thể như sau:
UBND tỉnh, thành phố tại các địa phương có nguy cơ cao có trách nhiệm phê duyệt Kế hoạch và chỉ đạo Sở Y tế và các đơn vị liên quan tổ chức thực hiện Kế hoạch triển khai uống bổ sung vắc xin phòng chống bệnh bại liệt cho trẻ em dưới 5 tuổi tại địa phương. Đảm bảo nguồn lực cho việc triển khai chiến dịch uống vắc xin bổ sung. Chỉ đạo việc tuyên truyền về tiêm chủng và phòng chống dịch bệnh. Huy động sự tham gia của các ban, ngành, đoàn thể và người dân thực hiện có hiệu quả các hoạt động phòng chống bệnh bại liệt hoang dại.
Sở Y tế có nhiệm vụ xây dựng, trình UBND tỉnh phê duyệt Kế hoạch và triển khai Kế hoạch tại địa phương, bố trí đủ nhân lực, trang thiết bị cho điểm tiêm chủng bao gồm cả các đội cấp cứu lưu động, tổ chức buổi tiêm chủng và theo dõi, đáp ứng kịp thời các trường hợp phản ứng sau tiêm chủng. Chỉ đạo các đơn vị liên quan tăng cường giám sát công tác tổ chức thực hiện kế hoạch.
Cục Y tế dự phòng chỉ đạo triển khai Kế hoạch uống bổ sung vắc xin bOPV, chỉ đạo các đơn vị liên quan triển khai thực hiện việc sử dụng vắc xin, theo dõi, xử lý các phản ứng sau tiêm chủng trên cơ sở nội dung Kế hoạch đã được phê duyệt.
Có thể thấy, trên tinh thần thực hiện chiến lược thanh toán bệnh bại liệt của Tổ chức Y tế Thế giới, bằng việc phê duyệt kế hoạch uống bổ sung vắc xin bại liệt (bOPV) cho trẻ dưới 5 tuổi tại vùng nguy cơ cao năm 2018 – 2019, Bộ Y tế đã thể hiện quyết tâm chủ động tích cực phòng chống bệnh bại liệt xâm nhập, qua đó góp phần nâng cao chất lượng sức khỏe của trẻ em nói riêng, cũng như mọi tầng lớp nhân dân nói chung trước các nguy cơ ảnh hưởng do các mầm bệnh nguy hiểm gây ra.

Quy định về quản lý mẫu bệnh phẩm bệnh truyền nhiễm
Trả lời

Ngày 07/12/2018, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 40/2018/TT-BYT quy định về quản lý mẫu bệnh phẩm bệnh truyền nhiễm. Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 25/01/2019.
Theo đó, Thông tư số 40/2018/TT-BYT quy định việc quản lý mẫu bệnh phẩm bệnh truyền nhiễm nhằm mục đích dự phòng, nghiên cứu, chẩn đoán, chữa bệnh cho người, bao gồm: thu thập, bảo quản, đóng gói, lưu giữ, sử dụng, trao đổi, tiêu hủy, vận chuyển mẫu bệnh phẩm bệnh truyền nhiễm ra khỏi cơ sở xét nghiệm.
Thông tư này cũng quy định đơn vị thu thập mẫu bệnh phẩm phải thông báo cho phòng xét nghiệm, nơi nhận về loại mẫu bệnh phẩm; ngày gửi; phương tiện vận chuyển và thời gian dự kiến mẫu sẽ tới đơn vị nhận. Mẫu bệnh phẩm phải được bảo quản theo quy định tại Phụ lục III ban hành kèm.
Bên cạnh đó, kích thước, khối lượng, thể tích đóng gói mẫu bệnh phẩm khi vận chuyển cũng được quy định chi tiết, cụ thể như sau:
– Vận chuyển bằng đường hàng không:
+ Đối với mẫu bệnh phẩm chứa chất lây nhiễm loại A: Mỗi kiện mẫu bệnh phẩm chất lỏng không quá 50 ml cho máy bay chở khách hoặc không quá 04 lít cho máy bay chở hàng. Mỗi kiện mẫu bệnh phẩm chất rắn không quá 50 g cho máy bay chở khách hoặc không quá 04 kg cho máy bay chở hàng;
+ Đối với mẫu bệnh phẩm chứa chất lây nhiễm loại B: Mỗi kiện mẫu bệnh phẩm chất lỏng không quá 01 lít, tổng các kiện mẫu bệnh phẩm sau khi đóng gói không quá 04 lít. Mỗi kiện mẫu bệnh phẩm chất rắn không quá 04 kg/kiện.
– Vận chuyển mẫu bệnh phẩm bằng đường biển, đường bộ, đường sắt: Mỗi kiện đóng gói bên ngoài có kích thước tối thiểu mỗi mặt là 100 mm x 100 mm, không giới hạn kích thước tối đa. Người vận chuyển mẫu bệnh phẩm phải sử dụng các trang thiết bị, dụng cụ sẵn có để ngăn ngừa sự lây lan tác nhân lây nhiễm cho con người và môi trường.
Như vậy, Thông tư số 40/2018/TT-BYT đã có những quy định chi tiết và cụ thể về quản lý mẫu bệnh phẩm bệnh truyền nhiễm, qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động dự phòng, nghiên cứu, chẩn đoán, chữa bệnh được chính xác, an toàn và hiệu quả, đồng thời tăng cường sự quản lý của các cơ quan chức năng trong các hoạt động này.

Nguyên tắc mới về ghi chép trên chứng từ kế toán
Trả lời

Ngày 15/11/2018, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 112/2018/TT-BTC sửa đổi, bổ sung một số điều tại Thông tư số 174/2015/TT-BTC ngày 10/11/2015 hướng dẫn kế toán nghiệp vụ thuế và thu khác đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2019.
Theo đó, Thông tư số 112/2018/TT-BTC đã sửa đổi, bổ sung quy định về lập, ký và lưu giữ chứng từ kế toán đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Cụ thể quy định mới như sau:
1. Mọi phát sinh liên quan đến việc ghi sổ kế toán thuế và thu khác đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đều phải lập chứng từ kế toán.
2. Chứng từ kế toán phải lập theo nội dung quy định trên mẫu cho từng loại nghiệp vụ, phải bảo đảm đủ nội dung và bảo đảm tính pháp lý đối với từng loại chứng từ theo quy định của Luật Kế toán và Nghị định số 174/2016/NĐ-CP.
3. Ghi chép trên chứng từ kế toán
Việc ghi chép trên chứng từ phải đầy đủ, rõ ràng, kịp thời, chính xác theo quy định tại Điều 18 của Luật Kế toán và Nghị định số 174/2016/NĐ-CP; chữ viết trên chứng từ phải liên tục, không ngắt quãng, không được viết tắt, không được tẩy xóa, sửa chữa; khi viết phải dùng bút bi hoặc bút mực; không viết bằng mực đỏ, bằng bút chì; số tiền viết bằng chữ phải đúng với số tiền viết bằng số. Chữ đầu tiên phải viết in hoa, những chữ còn lại viết thường; phải viết sát đầu dòng, chữ viết và chữ số phải viết liên tục không để cách quãng, ghi hết dòng mới xuống dòng khác, không viết chèn dòng, không viết đè lên chữ in sẵn; chỗ trống phải gạch chéo để không thể sửa chữa, thêm số hoặc thêm chữ. Chứng từ bị tẩy xóa, sửa chữa đều không có giá trị thanh toán và ghi sổ kế toán. Khi viết sai vào mẫu chứng từ in sẵn thì phải hủy bỏ bằng cách gạch chéo chứng từ viết sai.
4. Chứng từ kế toán phải được lập đủ số liên. Trường hợp phải lập nhiều liên chứng từ kế toán cho một nghiệp vụ kinh tế, tài chính thì nội dung các liên phải giống nhau.
5. Chứng từ kế toán được lập dưới dạng chứng từ điện tử phải tuân theo Điều 17, Điều 18, Điều 19 của Luật Kế toán và Nghị định số 174/2016/NĐ-CP.
6. Ký chứng từ kế toán
Chứng từ kế toán phải được ký theo đúng quy định tại Điều 19 Luật Kế toán và Nghị định số 174/2016/NĐ-CP. Chữ ký trên chứng từ kế toán của một người phải thống nhất và phải giống với mẫu chữ ký đã đăng ký; người lập, người duyệt và những người khác ký tên trên chứng từ kế toán phải chịu trách nhiệm về nội dung của chứng từ kế toán; người có trách nhiệm ký chứng từ kế toán chỉ được ký chứng từ khi đã ghi đầy đủ nội dung thuộc trách nhiệm của mình theo quy định.
Như vậy, bằng việc ban hành Thông tư số 112/2018/TT-BTC, Bộ Tài chính đã có những hướng dẫn chi tiết và cụ thể về lập, ký và lưu giữ chứng từ kế toán đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, qua đó tạo điều kiện để các cá nhân, tổ chức thực hiện hiện các hoạt động kế toán này được nhanh chóng, chính xác, đồng thời thắt chặt sự quản lý nhà nước đối với các hoạt động này.

Hướng dẫn lập báo cáo tài chính tổng hợp của đơn vị kế toán nhà nước là đơn vị kế toán cấp trên
Trả lời

Ngày 01/11/2018, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 99/2018/TT-BTC hướng dẫn lập báo cáo tài chính tổng hợp của đơn vị kế toán nhà nước là đơn vị kế toán cấp trên. Thông tư này có Hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2019.
Theo đó, Thông tư số 99/2018/TT-BTC áp dụng cho các đơn vị kế toán nhà nước bao gồm: cơ quan nhà nước; đơn vị sự nghiệp công lập; tổ chức, đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước; ban quản lý dự án có tư cách pháp nhân do cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập thành lập; cơ quan, tổ chức quản lý quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách nhà nước; các tổ chức được nhà nước cấp vốn để tổ chức hoạt động theo mục tiêu chính trị – xã hội cụ thể.
Về kỳ lập báo cáo, Thông tư này nêu rõ: Báo cáo tài chính tổng hợp của đơn vị kế toán cấp trên được lập theo kỳ kế toán năm. Trường hợp pháp luật có quy định theo kỳ hạn lập khác thì ngoài báo cáo theo kỳ hạn năm, đơn vị còn phải lập báo cáo tài chính tổng hợp theo kỳ hạn đó. Báo cáo bổ sung thông tin tài chính được lập theo kỳ hạn kế toán của báo cáo tài chính tổng hợp.
Bên cạnh đó, báo cáo tài chính tổng hợp được lập sau khi kết thúc kỳ kế toán năm (vào thời điểm 31/12 hàng năm). Báo cáo tài chính tổng hợp của đơn vị kế toán cấp trên phải được tổng hợp đầy đủ, bao gồm thông tin tài chính của tất cả đơn vị kế toán cấp dưới trực thuộc theo quy định; trong đó các chỉ tiêu tài sản, nợ phải trả, tài sản thuần, doanh thu, chi phí và các luồng tiền của đơn vị kế toán cấp trên được trình bày trên các biểu mẫu báo cáo tương ứng giống như là các báo cáo của một đơn vị kế toán độc lập.
Có thể thấy, việc lập báo cáo tài chính tổng hợp sẽ góp phần cung cấp thông tin kinh tế, tài chính cho người sử dụng xem xét, đánh giá tình hình tài chính, kết quả hoạt động, khả năng tạo tiền của đơn vị kế toán cấp trên trong kỳ kế toán, làm cơ sở cho việc đưa ra các quyết định về quản lý, điều hành đầu tư và quyết định khác của các cấp lãnh đạo và những người có liên quan, đồng thời nâng cao trách nhiệm giải trình của các đơn vị kế toán cấp trên về việc tiếp nhận và sử dụng các nguồn lực của nhà nước theo quy định của pháp luật.

Quy định về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc
Trả lời

Ngày 07/11/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 149/2018/NĐ-CP về quy định chi tiết Khoản 3 Điều 63 của Bộ luật Lao động về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc. Nghị định này có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2019.
Theo đó, người sử dụng lao động phải công khai: Tình hình thực hiện nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh; nội quy, quy chế và các văn bản quy định khác của doanh nghiệp liên quan đến nghĩa vụ, quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động; thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp, thỏa ước lao động tập thể ngành, thỏa ước lao động tập thể khác mà doanh nghiệp tham gia; nghị quyết Hội nghị người lao động; việc trích lập, sử dụng quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi và các quỹ do người lao động đóng góp (nếu có); việc trích nộp kinh phí công đoàn, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp; tình hình thực hiện thi đua, khen thưởng, kỷ luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động.
Bên cạnh đó, Nghị định này cũng quy định người lao động được tham gia ý kiến về xây dựng, sửa đổi, bổ sung nội quy, quy chế và các văn bản quy định khác của doanh nghiệp liên quan đến nghĩa vụ, quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động; xây dựng, sửa đổi, bổ sung thang lương, bảng lương, định mức lao động; đề xuất nội dung thương lượng tập thể; đề xuất, thực hiện giải pháp tiết kiệm chi phí, nâng cao năng suất lao động, cải thiện điều kiện làm việc, bảo vệ môi trường, phòng chống cháy nổ; các nội dung khác liên quan đến quyền và nghĩa vụ người lao động theo quy định của pháp luật.
Có thể thấy, Chính phủ đã có những hướng dẫn chi tiết và cụ thể về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc, qua đó đảm bảo mục tiêu cao nhất về chủ trương của nhà nước là dân chủ cho người lao động và thông qua dân chủ, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng cho người lao động.