Ngày 22/01/2019, Chính phủ đã ban hành Thông tư số 03/2019/TT-BCT quy định quy tắc xuất xứ hàng hóa trong Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương. Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 08/03/2019.
Theo đó, Thông tư số 03/2019/TT-BCT có nội dung nổi bật về chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O), cụ thể như sau:
– Chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa có hiệu lực trong vòng 01 năm sau ngày phát hành hoặc lâu hơn theo quy định pháp luật của Nước thành viên nhập khẩu;
– Cơ quan có thẩm quyền của Nước thành viên nhập khẩu sẽ không từ chối chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa vì lỗi nhỏ hoặc các khác biệt trên chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa đó;
– Trường hợp nhà xuất khẩu, nhà sản xuất nhận thấy những thông tin, dữ liệu trong chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa chưa chính xác hoặc chưa đáp ứng các quy định về xuất xứ, nhà xuất khẩu, nhà sản xuất có nghĩa vụ thông báo bằng văn bản kịp thời cho nhà nhập khẩu và cơ quan có thẩm quyền của Nước thành viên nhập khẩu.
Như vậy, Thông tư số 03/2019/TT-BCT đã hướng dẫn chi tiết về quy tắc xuất xứ hàng hóa trong Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương, qua đó tạo cơ sở để các cá nhân, tổ chức thực hiện các hoạt động kinh doanh sản xuất được chính xác, thuận tiện, đồng thời sẽ nâng cao chất lượng quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
Ngày 28/12/2018 Bộ Thông tin và Truyền thông đã ban hành Thông tư số 22/2018/TT-BTTTT về danh mục hàng hóa nhập khẩu, xuất khẩu trong lĩnh vực in, phát hành xuất bản phẩm. Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 12/02/2019.
Theo đó, ban hành kèm theo Thông tư số 22/2018/TT-BTTTT là Danh mục hàng hóa nhập khẩu, xuất khẩu trong lĩnh vực in, phát hành xuất bản phẩm, bao gồm:
– Danh mục hàng hóa theo mã số HS và hình thức quản lý đối với hàng hóa nhập khẩu, xuất khẩu trong lĩnh vực in gồm: Máy in sử dụng các bộ phận in như khuôn in (bát chữ), trục lăn và các bộ phận in khác của nhóm 84.42; máy in khác, máy copy (copying machines) và máy fax, có hoặc không kết hợp với nhau; bộ phận và các phụ kiện của chúng;
– Danh mục hàng hóa theo mã số HS và hình thức quản lý đối với hàng hóa nhập khẩu, xuất khẩu trong lĩnh vực phát hành xuất bản phẩm gồm: Các loại sách in, sách gấp, sách mỏng và các ấn phẩm in tương tự, dạng tờ đơn hoặc không phải dạng tờ đơn; Sách tranh ảnh, sách vẽ hoặc sách tô màu cho trẻ em; Bản đồ và biểu đồ thủy văn hoặc các loại biểu đồ tương tự, kể cả tập bản đồ, bản đồ treo tường, bản đồ địa hình và quả địa cầu, đã in; Các loại lịch in, kể cả bloc lịch; Các ấn phẩm in khác, kể cả tranh và ảnh in.
Có thể thấy, việc ban hành danh mục hàng hóa nhập khẩu, xuất khẩu trong lĩnh vực in và phát hành xuất bản phẩm sẽ tạo cơ sở cho các doanh nghiệp cũng như nhà quản lý có căn cứ rõ ràng hơn trong việc thực hiện các hoạt động này.
Ngày 22/11/2018, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành Thông tư số 27/2018/TT-NHNN quy định các trường hợp phong tỏa, chấm dứt phong tỏa vốn và tài sản của chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Thông tư này có hiệu lực thi ành từ ngày 10/01/2019.
Theo đó, Thông tư số 27/2018/TT-NHNN có những quy định mới đáng chú ý như sau:
1. Về các trường hợp phong tỏa vốn và tài sản
Ngân hàng Nhà nước xem xét, quyết định phong tỏa vốn và tài sản của chi nhánh ngân hàng nước ngoài trong các trường hợp sau:
– Giá trị thực của vốn được cấp của chi nhánh ngân hàng nước ngoài giảm thấp hơn mức vốn pháp định liên tục quá thời gian 06 tháng.
– Vi phạm tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng quy định tại Điều 130 Luật các tổ chức tín dụng và Ngân hàng Nhà nước đã có văn bản yêu cầu khắc phục nhưng không có biện pháp khắc phục hoặc không khắc phục được trong thời hạn theo yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước.
– Số lỗ lũy kế của chi nhánh ngân hàng nước ngoài lớn hơn 50% giá trị của vốn được cấp và các quỹ dự trữ ghi trong báo cáo tài chính đã được kiểm toán gần nhất.
– Ngân hàng Nhà nước đã có yêu cầu nhưng ngân hàng mẹ không thực hiện đúng các nghĩa vụ đã cam kết đối với chi nhánh hoạt động tại Việt Nam.
– Khi có thông tin về việc ngân hàng mẹ có dấu hiệu mất khả năng chi trả, mất khả năng thanh toán hoặc bị cơ quan có thẩm quyền của nước nguyên xứ đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt hoặc có yêu cầu phải giải thể, thanh lý, phá sản, hoặc bị rút giấy phép thành lập và hoạt động.
2. Về các trường hợp chấm dứt phong tỏa vốn và tài sản
Ngân hàng Nhà nước xem xét, quyết định chấm dứt phong tỏa vốn và tài sản của chi nhánh ngân hàng nước ngoài trong các trường hợp sau: 1- Chi nhánh ngân hàng nước ngoài đã khắc phục được các vi phạm, tồn tại. 2- Ngân hàng mẹ đã thực hiện đúng các nghĩa vụ đã cam kết đối với chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước. 3- Ngân hàng Nhà nước nhận được thông tin từ cơ quan có thẩm quyền của nước nguyên xứ về việc ngân hàng mẹ đã khắc phục được các tồn tại.
Có thể thấy, Thông tư số 27/2018/TT-NHNN được ban hành được kỳ vọng sẽ chi tiết hơn về việc phong tỏa, chấm dứt phong toả vốn và tài sản của chi nhánh ngân hàng nước ngoài qua đó sẽ góp phần đảm bảo các hoạt động này được công khai, minh bạch, bảo vệ tốt hơn cho quyền lợi của người gửi tiền.
Ngày 05/12/2018, Bộ Tài Chính đã ban hành Thông tư số 119/2018/TT-BTC quy định về tổ chức thực hiện dự toán ngân sách nhà nước năm 2019. Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 20/01/2019.
Theo đó, Bộ Tài chính lưu ý các cơ quan tổ chức triển khai một số nội dung để đảm bảo tăng nguồn thư ngân sách như triển khai có hiệu quả các quy định về thuế; tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; tổ chức thực hiện hiệu quả Luật hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ; tăng cường hoạt động theo dõi, kiểm tra, kiểm soát trong lĩnh vực thuế, hải quan; triển khai đầy đủ, kịp thời Luật quản lý tài sản công.
Ngoài ra một trong những nhiệm vụ quan trọng được chú trọng thực hiện trong năm 2019 là thực hiện cơ chế tạo nguồn thu để thực hiện chế độ tiền lương, trợ cấp năm 2019. Nhằm hiện thực hóa mục tiêu nâng mức lương cơ sở lên mức 1,49 triệu đồng/tháng kể từ ngày 01/07/2019, Bộ Tài Chính đã quy định rõ nhiệm vụ của các bộ, cơ quan trung ương, ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố có nhiệm vụ tiết kiệm 10% dự toán chi thường xuyên để tạo nguồn cải cách tiền lương. Sau khi cân đối nguồn thu, các địa phương chủ động sử dụng nguồn cải cách tiền lương còn dư để thực hiện các chính sach, chế độ an sinh xã hội.
Có thể thấy, với việc Thông tư số 119/2018/TT-BTC được ban hành, Bộ Tài chính đang thể hiện quyết tâm trong việc thực hiện các nhiệm vụ trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và dự toán ngân sách nhà nước được Thủ tướng chính phủ đề ra cho năm 2019.
Ngày 30/11/2018, Bộ Y Tế đã ban hành Thông tư số 38/2018/TT-BYT hướng dẫn công tác thi đua khên thưởng trong ngành Y tế. Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 21/01/2019.
Theo đó, nội dung, đối tượng, nguyên tắc thi đua, khen thưởng; tổ chức phát động phong trào thi đua; danh hiệu và tiêu chuẩn danh hiệu thi đua; hình thức và tiêu chuẩn khen thưởng; thẩm quyền quyết định, tuyến trình, thủ tục đề nghị công nhận danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng và tổ chức trao tặng; Hội đồng thi đua, khen thưởng và Hội đồng sáng kiến; quỹ thi đua, khen thưởng trong ngành y tế sẽ được thực hiện theo các quy định của Thông tư số 38/2018/TT-BYT.
Một trong những điểm khác biệt quan trong giữa Thông tư này so với Thông tư số 20/2011/TT-BYT trước đây là việc Bộ Y Tế đã bổ thêm hai quy định về việc trao tặng kỷ niệm chương: “Vì sức khỏe nhân dân” và “Vì sự nghiệp dân số”. Kỷ niệm chương“Vì sức khỏe nhân dân” được trao tặng để ghi nhận những đóng góp của các tổ chức, cá nhân trong hoạt động phòng chống các bệnh hiểm nghèo như Lao, Phong, HIV/AIDS. Và kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp dân số” được trao để ghi nhận những đóng góp cho sự nhiệp dân số của các cơ quan, tổ chức cá nhân hoạt động trong công tác dân số.
Có thể thấy, Với việc ban hành Thông tư sốm số 38/2018/TT-BYT cho thấy sự đổi mới kịp thời của Bộ Y Tế trong hoạt động thi đua khen thưởng, giúp đánh giá, ghi nhận xứng đáng những thành tích, đóng góp của các cá nhân, tổ chức hoạt động trong ngành y tế.
Ngày 21/01/2019, Bộ Lao đông – Thương binh và Xã hội đã ban hành Thông tư số 04/2019/TT-BLĐTBXH hướng dẫn thực hiện quản lý lao động, tiền lương, thù lao, tiền thưởng đối với Quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa . Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 08/03/2019.
Theo đó, Thông tư số 04/2019/TT-BLĐTBXH quy định một số nội dung nổi bật liên quan đến việc Hướng dẫn thực hiện quản lý lao động, tiền lương, thù lao, tiền thưởng đối với quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa giành cho người lao động, cụ thể:
Liên quan tới thang lương, bảng lương và phụ cấp lương, Quỹ bảo lãnh tín dụng được xây dựng căn cứ trên quy định tại:
1. Điều 93 của Bộ luật Lao động 2012;
2. Nghị định số 49/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ;
3. Thông tư số 17/2015/TT-BLĐTBXH ngày 22 tháng 4 năm 2015 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội.
Liên quan tới việc quản lý lao động, xác định quỹ tiền lương, tạm ứng quỹ tiền lương, phân phối tiền lương, tiền thưởng.
1. Quỹ bảo lãnh tín dụng thực hiện quản lý lao động, xác định quỹ tiền lương kế hoạch, quỹ tiền lương thực hiện, tạm ứng và phân phối tiền lương, tiền thưởng đối với người lao động theo quy định tại Mục 2; Điều 9, 10, 13 Mục 3 và Mục 4 Thông tư số 26/2016/TT-BLĐTBXH ngày 01 tháng 9 năm 2016 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
2. Đồng thời, khi xác định mức tiền lương bình quân kế hoạch, mức tiền lương bình quân thực hiện để tính quỹ tiền lương kế hoạch, quỹ tiền lương thực hiện, căn cứ vào Điều 9 và Điều 14 Thông tư số 26/2016/TT-BLĐTBXH thì chỉ tiêu lợi nhuận (lợi nhuận kế hoạch, lợi nhuận thực hiện trong năm và lợi nhuận thực hiện của năm trước liền kề) được tính bằng chỉ tiêu số chênh lệch giữa tổng số thu nhập và tổng số chi phí (sau đây gọi tắt là chênh lệch thu trừ chi) của Quỹ bảo lãnh tín dụng.
Như vậy, việc Thông tư 04/2019/TT-BLĐTBXH được ban hành đã thế hiện sự quan tâm của Nhà nước đối với doanh nghiệp trong hoạt động quản lý lao động, tiền lương, thù lao, tiền thưởng đối với Quỹ bảo lãnh tín dụng, xác định rõ ràng cơ chế quản lý tài chính trong doanh nghiệp, qua đó bảo vệ tối đa quyền và lợi ích của người lao động, tăng cường dân chủ, minh bạch trong hoạt động của doanh nghiệp.
Ngày 15/11/2018, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Thông tư số 23/2018/TT-BTNMT quy định về tổ chức xác định, thẩm định và phê duyệt kết quả xác định chi phí đánh giá tiềm năng khoáng sản, chi phí thăm dò khoáng sản phải hoàn trả do Nhà nước đã đầu tư. Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 08/1/2019.
Theo đó, việc xác định chi phí đánh giá tiềm năng khoáng sản, chi phí thăm dò khoáng sản phải hoàn trả do Nhà nước đã đầu tư được thực hiện theo trình từ sau đây:
(1) Thu thập số liệu, tài liệu:
Thu thập các báo cáo, đánh giá tiềm năng khoáng sản; báo cáo thăm dò khoảng sản; các quyết định phê duyệt trữ lượng khoáng sản; kết quả chuyển đổi trữ lượng khoáng sản; giấy phép thăm dò, khai thác khoáng sản;
(2) Khảo sát thực tế
– Kiểm tra tính chính xác thực tế về vị trí diện tích các công trình địa chất đã thi công, các yếu tố liên quan đến điều kiện thi công các công trình địa chất;
– Kiểm tra hiện trạng khoáng sản;
– Kết thúc khảo sát, đơn vị xác định chi phí hoàn trả lập Biên bản khảo sát thực tế.
(3) Đơn vị xác định chi phí hoàn trả lập Báo cáo kết quả xác định chi phí đánh giá tiềm năng khoáng sản, chi phí thăm dò khoáng sản phải hoàn trả cho Nhà nước đã đầu tư;
(4) Họp kỹ thuật để xem xét về cơ sở pháp lý, phương pháp xác định chi phí hoàn trả; khối lượng các hạng mục công trình địa chất, việc áp dụng định mức kinh tế – kỹ thuật, đơn giá và trữ lượng khoáng sản;
(5) Họp Hội đồng thẩm định kết quả xác định chi phí hoàn trả;
(6) Trình cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt kết quả xác định chi phí hoàn trả;
(7) Thông báo kết quả xác định chi phí hoàn trả.
Như vậy,có thể thấy quy định này có hiệu lực sẽ hướng dẫn cụ thể cho cơ quan quản lý Nhà nước, các đơn vị sự nghiệp thực hiện việc xác định, thu, quản lý và sử dụng tiền hoàn trả chi phí đánh giá tiềm năng khoáng sản, chi phí thăm dò khoáng sản của Nhà nước. Đồng thời, thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đối với lĩnh vực thăm dò, đánh giá tiềm năng và quản lý chặt chẽ việc khai thác khoáng sản, hạn chế việc khai thác bừa bãi, dẫn đến cạn kiệt nguồn khoáng sản của quốc gia.
Ngày 10/12/2018, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 120/218/TT-BTC quy định về mức lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư, thanh toán phần vốn đầu tư của Nhà nước tham gia thực hiện dự án và quyết toán công trình dự án hoàn thành theo hình thức đối tác công tư thuộc Dự án xây dựng một số đoạn đường bộ cao tốc trên tuyến Bắc – Nam phía Đông giai đoạn 2017 – 2020. Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 23/01/2019.
Theo đó, việc quản lý thanh toán phần vốn đầu tư của Nhà đầu tư nước tham gia thực hiện dự án PPP được quy định như sau:
– Đối với phần vốn đầu tư công bố trí cho các hạng mục công việc do cơ quan nhà nước thực hiện, việc quản lý, thanh toán theo quy định về quản lý, thanh toán vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước.
– Đối với phần vốn đầu tư của Nhà nước hỗ trợ một phần chi phí xây dựng công trình, Nhà nước sẽ thực hiện thanh toán phần giá trị khối lượng hoàn thành sau khi nhà đầu tư đã giải ngân hết 50% số vốn chủ sở hữu và đủ điều kiện giải ngân phần vốn vay đảm bảo các quy tắc sau:
+ Việc thanh toán song song theo tỷ lệ giữa phần vốn đầu tư của Nhà nước, vốn vay thương mại và vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư phải được quy định cụ thể tại hợp đồng dự án giữa Cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư.
+ Việc thanh toán phù hợp với khối lượng, giá trị xây dựng hoàn thành đã được nghiệm thu đồng thời đảm bảo nằm trong phạm vi kế hoạch vốn đầu tư công trung hạn và hằng năm nguồn vốn ngân sách nhà nước được cấp có thẩm quyền phê duyệt để thực hiện các dự án PPP.
– Việc phân bổ và kiểm tra phân bổ vốn đầu tư công bố trí hỗ trợ phần chi phí xây dựng công trình thực hiện theo quy định về quản lý, thanh toán vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước.
Như vậy, thông qua các quy định khá rõ ràng về việc thanh toán và quản lý phần vốn đầu tư của Nhà nước tham gia thực hiện dự án và quyết toán công trình dự án hoàn thành theo hình thức đối tác công tư của Dự án xây dựng một số đoạn đường bộ cao tốc trên tuyến Bắc – Nam phía Đông giai đoạn 2017 – 2020 sẽ góp phần giúp việc quản lý của cơ quan nhà nước được dễ dàng, minh bạch và nhà đầu tư cũng có cơ sở về nghĩa vụ của mình phải thực hiện.
Ngày 29/11/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 161/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số quy định về tuyển dụng công chức, viên chức, nâng ngạch công chức, thăng hạng viên chức và thực hiện chế độ hợp đồng một số loại công việc trong cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập. Nghị định này có hiệu lực thị hành kể từ ngày 15/01/2019.
Theo đó, Nghị định số 161/2018/NĐ-CP đã có những sửa đổi bổ sung đáng chú ý cụ thể như sau:
1. Không phân biệt văn bằng khi tuyển dụng công chức, viên chức
Các cơ quan sử dụng công chức, viên chức được xác định điều kiện tuyển dụng các công chức, viên chức theo yêu cầu của vị trí dự tuyển, tuy nhiên không được phân biệt loại hình đào tạo, văn bằng, chứng chỉ, trường công lập, trường ngoài công lập.
Qua đó, sẽ không còn sự phân biệt giữa bằng chính quy và bằng tại chức, văn bằng 2, bằng đào tạo từ xa… khi tuyển dụng công chức, viên chức.
2. Điểm ưu tiên trong thi tuyển công chức, viên chức
Theo Nghị định số 161/2018/NĐ-CP, một số đối tượng thi tuyển công chức, viên chức không còn được hưởng nhiều điểm ưu tiên như trước đây.
Cụ thể, nếu như trước đây, thương binh, người hưởng chính sách như thương binh, Anh hùng Lao động… được cộng 30 điểm vào điểm thi tuyển hoặc xét tuyển thì nay, chỉ còn được cộng 7,5 điểm vào kết quả thi vòng 2. Tương tự, người dân tộc thiểu số, sĩ quan quân đội, công an; quân nhân chuyên nghiệp, con thương binh, liệt sĩ cũng chỉ còn được cộng 5 điểm vào kết quả thi vòng 2, thay vì 20 điểm vào tổng điểm.
3. Được phép ký 02 lần hợp đồng có thời hạn với viên chức
Khác với Nghị định số 29/2012/NĐ-CP, Nghị định số 161/2018/NĐ-CP quy định khá chi tiết về hợp đồng làm việc của viên chức.
Theo đó, viên chức được tuyển dụng vào đơn vị sự nghiệp công lập phải ký hợp đồng làm việc lần đầu từ đủ 12 tháng – 36 tháng. Sau khi hết thời hạn này, người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập xem xét quyết định ký tiếp hợp đồng xác định thời hạn hoặc không xác định thời hạn hoặc chấm dứt hợp đồng làm việc. Nếu ký tiếp hợp đồng xác định thời hạn thì sau khi hết hạn hợp đồng, người đứng đầu đơn vị phải xem xét ký tiếp hợp đồng không xác định thời hạn hoặc chấm dứt hợp đồng.
Như vậy, có thể thấy, Nghị định số 161/2018/NĐ-CP đã có những điều chỉnh kịp thời và thiết thực, phù hợp với chủ trương công bằng, công khai, minh bạch và hiệu quả của Nhà nước trong hoạt động thi tuyển, xét tuyển công chức, viên chức, qua đó góp phần không nhỏ trong việc xây dựng đội ngũ công chức, viên chức thực sự có chất lượng, đặc biệt là trong giai đoạn phát triển mới với nhiều thách thức của đất nước như hiện nay.
Ngày 30/11/2018, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã ban hành Thông tư số 21/2018/TT-BLĐTBXH quy định tiêu chí xác định chương trình chất lượng cao trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/01/2019.
Theo đó, chương trình đào tạo chất lượng cao phải đáp ứng đầy đủ các quy định đối với một chương trình đào tạo thông thường được xây dựng theo quy định tại Thông tư số 03/2017/TT-BLĐTBXH ngày 1/3/2017 của Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và đáp ứng các tiêu chí sau đây:
1. Có chuẩn đầu ra cao hơn chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo thông thường về kiến thức chuyên môn, kỹ năng và phẩm chất nghề nghiệp;
2. Năng lực ngoại ngữ của người học khi tốt nghiệp ra trường phải đạt bậc 4/6 đối với nhóm ngành ngôn ngữ và văn hóa nước ngoài theo Khung năng lực ngoại ngữ của Việt Nam hoặc tương đương; đạt bậc 2/6 ở trình độ trung cấp, bậc 3/6 ở trình độ cao đẳng đối với các nhóm ngành, nghề khác;
3. Năng lực về công nghệ thông tin của người học những ngành, nghề không thuộc nhóm ngành, nghề công nghệ thông tin và máy tính phải đạt tối thiểu chuẩn kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin theo quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông;
4. Đối với chương trình chuyển giao, chương trình liên kết đào tạo với nước ngoài, chương trình đào tạo theo đặt hàng của doanh nghiệp thỏa mãn các tiêu chí quy định tại Thông tư này thì được công nhận là chương trình đào tạo chất lượng cao.
Bên cạnh đó, Thông tư này cũng quy định nhà giáo giảng dạy chương trình chất lượng cao phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn về chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm đối với từng ngành, nghề đào tạo theo các quy định hiện hành. Nhà giáo dạy những nội dung kiến thức cơ sở và nội dung chuyên môn phải có bằng tốt nghiệp đại học trở lên đối với đào tạo trung cấp, thạc sỹ trở lên đối với đào tạo cao đẳng và đúng với chuyên môn ngành, nghề tham gia giảng dạy. Nhà giáo hướng dẫn, giảng dạy các nội dung thực hành, thực tập phải có kinh nghiệm thực tế làm việc trong lĩnh vực của ngành, nghề đào tạo từ 3 năm trở lên. Nhà giáo giảng dạy các nội dung bằng ngoại ngữ trong chương trình chất lượng cao phải có trình độ ngoại ngữ tối thiểu bậc 4/6 theo Khung năng lực ngoại ngữ của Việt Nam hoặc tương đương.
Như vậy, Thông tư số 21/2018/TT-BLĐTBXH đã có những hướng dẫn chi tiết và cụ thể về tiêu chí xác định chương trình chất lượng cao trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng, qua đó tạo cơ sở cho các hoạt động giảng dạy cũng như học tập được diễn ra phù hợp, hiệu quả và có chất lượng.