Nhiều ngân hàng tăng mạnh lãi suất huy động
Với mong muốn bổ sung thêm nguồn vốn trung, dài hạn để phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh cuối năm, đồng thời giảm...
Bùng nổ nhượng quyền thương hiệu vào Việt Nam
Hoạt động nhượng quyền đang được giới kinh doanh vận dụng để đưa các thương hiệu nước ngoài vào thị trường Việt Nam. Ngoài lĩnh...
6 ngành kinh tế phát triển mũi nhọn khu vực miền Trung
Có 6 lĩnh vực kinh tế biển, ven biển đang được các tỉnh miền Trung tập trung phát triển và đã đạt được những kết...
91.9% doanh nghiệp lạc quan về hoạt động sản xuất 6 tháng cuối năm
Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có tỷ lệ doanh nghiệp dự báo về khối lượng sản xuất khả...
Việt Nam chuyển dần từ nhập siêu sang xuất siêu với CPTPP
Với hầu hết các hiệp định thương mại (FTA) đã ký, Việt Nam thường nhập siêu, thì nay, khi thực hiện CPTTP, trong 7 tháng...
Giải đáp pháp luật
Kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm đối với thực phẩm có nguồn gốc thực vật xuất khẩu
Trả lời

Ngày 28/12/2018, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành Thông tư số 44/2018/TT-BNNPTNT quy định về kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm đối với thực phẩm có nguồn gốc thực vật xuất khẩu. Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 22/02/2019.
Theo đó, Thông tư số 44/2018/TT-BNNPTNT quy định về thẩm quyền kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm đối với thực phẩm có nguồn gốc thực vật xuất khẩu thuộc về Chi cục kiểm dịch thực vật vùng hoặc Trạm kiểm dịch thực vật tại cửa khẩu.
Bên cạnh đó, Thông tư số 44/2018/TT-BNNPTNT quy định trình tự, thủ tục kiểm tra đối với thực phẩm có nguồn gốc thực vật xuất khẩu, cụ thể:
1. Tổ chức, cá nhân nộp 01 bộ hồ sơ theo quy định đến Cơ quan kiểm tra có thẩm quyền.
2. Trong thời hạn 01 ngày làm việc, kể từ khi nhận được hồ sơ, Cơ quan kiểm tra xem xét: trường hợp hồ sơ hợp lệ theo quy định thì tiếp nhận để giải quyết; trường hợp hồ sơ chưa hợp lệ thì thông báo cho tổ chức, cá nhân nêu rõ nội dung cần bổ sung, hoàn thành hồ sơ theo quy định.
3. Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Cơ quan kiểm tra phải kiểm tra hồ sơ lô hàng và ra Thông báo kết quả kiểm tra thực phẩm có nguồn gốc thực vật xuất khẩu theo quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Thông tư này hoặc theo yêu cầu của nước nhập khẩu.
Có thể thấy, việc ban hành Thông tư số 44/2018/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho thấy việc các cơ quan có thẩm quyền đang siết chặt quản lý đối với thực phẩm xuất khẩu nhằm bảo vệ sức khỏe con người, bảo đảm phát triển bền vững cũng như uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

Quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng
Trả lời

Ngày 31/12/2018, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng. Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/03/2019.
Theo đó, Tổ chức tín dụng phi ngân hàng có thời gian hoạt động từ 12 tháng trở lên (tính từ ngày khai trương hoạt động đến thời điểm đề nghị) được phép thành lập không quá 03 chi nhánh trong 01 năm tài chính khi đáp ứng các điều kiện sau:
– Có giá trị thực của vốn điều lệ tại thời điểm 31/12 của năm trước liền kề năm đề nghị không thấp hơn mức vốn pháp định;
– Hoạt động kinh doanh có lãi theo báo cáo tài chính hợp nhất và báo cáo tài chính riêng lẻ được kiểm toán của năm trước liền kề năm đề nghị. Điều kiện này không áp dụng đối với tổ chức tín dụng phi ngân hàng nộp hồ sơ đề nghị vào năm thứ hai tính từ ngày khai trương hoạt động;
– Tại thời điểm đề nghị không bị cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp không cho mở rộng địa bàn hoạt động;
– Tại thời điểm đề nghị không vi phạm quy định về tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng;
– Tỷ lệ nợ xấu so với tổng dư nợ tại thời điểm 31 tháng 12 của năm trước liền kề năm đề nghị và tại thời điểm đề nghị không vượt quá 4% hoặc một tỷ lệ khác theo quyết định của Thống đốc trong từng thời kỳ;
– Tại thời điểm đề nghị Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên, Ban kiểm soát có số lượng và cơ cấu theo đúng quy định của pháp luật, không bị khuyết chức danh Tổng giám đốc (Giám đốc);
– Tại thời điểm đề nghị không vi phạm quy định về hệ thống kiểm soát nội bộ, kiểm toán nội bộ; phân loại tài sản có và dự phòng rủi ro.
Bên cạnh đó, Thông tư này cũng quy định đối với Tổ chức tín dụng phi ngân hàng có thời gian hoạt động dưới 12 tháng (tính từ ngày khai trương hoạt động đến thời điểm đề nghị) được phép thành lập không quá 02 chi nhánh khi đáp ứng các điều kiện sau: Có giá trị thực của vốn điều lệ tại thời điểm đề nghị không thấp hơn mức vốn pháp định; Tỷ lệ nợ xấu so với tổng dư nợ tại thời điểm gần nhất thời điểm đề nghị không vượt quá 4% hoặc một tỷ lệ khác theo quyết định của Thống đốc trong từng thời kỳ; Các quy định tại điểm c, d, e, g, h, i khoản 1 Điều này.
Như vậy, thông qua việc ban hành Thông tư số 53/2018/TT-NHNN, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành Thông tư số 53/2018/TT-NHNN đã có những quy định chi tiết và cụ thể về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng, qua đó tạo cơ sở và điều kiện cho hoạt động của của các tổ chức này được thực hiện một cách thuận lợi và chính xác nhất.

Quy định mới về hụi, họ, biêu, phường
Trả lời

Ngày 19/02/2019, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 19/2019/NĐ-CP quy định về hụi, họ, biêu, phường. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 05/04/2019.
Theo đó, Nghị định số 19/2019/NĐ-CP có các nội dung đáng chú ý như sau:
1. Việc tổ chức họ phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật Dân sự; việc tổ chức họ chỉ được thực hiện nhằm mục đích tương trợ lẫn nhau giữa những người tham gia quan hệ về họ; không được tổ chức họ để cho vay lãi nặng, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, huy động vốn trái pháp luật hoặc các hành vi vi phạm pháp luật khác.
2. Điều kiện về thành viên: Là người từ đủ 18 tuổi trở lên và không thuộc trường hợp mất năng lực hành vi dân sự, hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo quy định tại Bộ luật Dân sự; người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu có tài sản riêng có thể là thành viên của dây họ, trường hợp sử dụng tài sản riêng là bất động sản, động sản phải đăng ký để tham gia dây họ thì phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý; điều kiện khác theo thỏa thuận của những người tham gia dây họ.
3. Điều kiện làm chủ họ: Là người từ đủ 18 tuổi trở lên và không thuộc trường hợp mất năng lực hành vi dân sự, hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo quy định tại Bộ luật Dân sự; trường hợp các thành viên tự tổ chức dây họ thì chủ họ là người được hơn một nửa tổng số thành viên bầu, trừ trường hợp các thành viên có thỏa thuận khác; điều kiện khác theo thỏa thuận của những người tham gia dây họ.
Chủ họ phải lập và giữ sổ họ, trừ trường hợp có thỏa thuận về việc một thành viên lập và giữ sổ họ. Trường hợp dây họ không có chủ họ thì các thành viên thỏa thuận giao cho một thành viên lập và giữ sổ họ.
Chủ họ phải thông báo bằng văn bản cho ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú về việc tổ chức dây họ khi thuộc một trong các trường hợp sau: Tổ chức dây họ có giá trị các phần họ tại một kỳ mở họ từ 100 triệu đồng trở lên; tổ chức từ hai dây họ trở lên.
4. Thỏa thuận về dây họ: Phải được lập thành văn bản và có thể được công chứng, chứng thực nếu những người tham gia dây họ yêu cầu. Trường hợp thỏa thuận về dây họ được sửa đổi, bổ sung thì văn bản sửa đổi, bổ sung phải được thực hiện theo quy định nêu trên.
5. Thủ tục góp họ, lĩnh họ: Khi góp họ, lĩnh họ, nhận lãi, trả lãi hoặc thực hiện giao dịch khác có liên quan thì thành viên có quyền yêu cầu chủ họ hoặc người lập và giữ sổ họ cấp giấy biên nhận về việc đó.
6. Lãi suất: Lãi suất trong họ có lãi do các thành viên của dây họ thỏa thuận hoặc do từng thành viên đưa ra để được lĩnh họ tại mỗi kỳ mở họ nhưng không vượt quá 20%/năm của tổng giá trị các phần họ phải góp trừ đi giá trị các phần họ đã góp trên thời gian còn lại của dây họ. Trường hợp mức lãi suất giới hạn nói trên được điều chỉnh bởi cơ quan có thẩm quyền theo quy định tại Khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự thì áp dụng mức lãi suất giới hạn được điều chỉnh đó. Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận hoặc do từng thành viên đưa ra để được lĩnh họ tại mỗi kỳ mở họ vượt quá lãi suất giới hạn nêu trên thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.
Có thể thấy, Nghị định số 19/2019/NĐ-CP đã quy định rõ khung pháp lý cho các hoạt động hụi, họ, biêu, phường, qua đó góp phần triệt tiêu nạn “tín dụng đen” ở nông thôn, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của những người tham gia.

Hướng dẫn thực hiện một số quy định về đầu tư theo hình thức đối tác công tư
Trả lời

Ngày 28/12/2018, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ban hành Thông tư số 09/2018/TT-BKHĐT hướng dẫn thực hiện Nghị định số 63/2018/NĐ-CP về đầu tư theo hình thức đối tác công tư do Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành. Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 15/02/2019.
Theo đó, việc lựa chọn hồ sơ đề xuất dự án trong trường hợp có từ hai nhà đầu tư trở lên cùng nộp hồ sơ đề xuất dự án được quy định như sau:
Khi có dự án đã có một nhà đầu tư nộp hồ sơ đề xuất dự án, Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tiếp nhận hồ sơ đề xuất dự án của nhà đầu tư khác khi dự án có cùng mục tiêu, địa điểm điểm thực hiện và phù hợp với quy hoạch trong thời hạn không quá 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đề xuất của nhà đầu tư đầu tiên.
Tiêu chí lựa chọn hồ sơ đề xuất của nhà đầu tư đầu tiên như sau:
– Đáp ứng các điều kiện quyết định chủ trương đầu tư như quy định pháp luật;
– Sự cần thiết đầu tư;
– Tính khả thi về mặt kỹ thuật, bao gồm phương án sử dụng mặt bằng;
– Hiệu quả kinh tế – xã hội của dự án;
– Tính khả thi về mặt tài chính của dự án;
– Năng lực, kinh nghiệm của nhà đầu tư để tổ chức lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi báo cáo nghiên cứu khả thi do mình đề xuất.
Từ việc căn cứ vào các điều kiện cụ thể và yêu cầu thực hiện dự án, Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định phương pháp đánh giá để so sánh, lựa chọn hồ sơ đề xuất dự án có tính khả thi và hiệu quả cao nhất, trong đó xác định tủ trọng giữa các yếu tố: Tính khả thi về mặt kỹ thuật, hiệu quả kinh tế – xã hội của dự án, tính khả thi về mặt tài chính của dự án, và năng lực, kinh nghiệm của nhà đầu tư để tổ chức lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo nghiên cứu khả thi do mình đề xuất.
Như vậy, Thông tư số 09/2018/TT-BKHĐT đã có nhưng quy định cụ thể về các tiêu chí đánh giá phê duyệt dự án của nhà đầu tư. Là căn cứ để các nhà đầu tư có phương hướng thực hiện đồng thời cũng là cơ sở để cơ quan nhà nước đánh giá tính phù hợp của dự án.

Quy định mới về thực hiện phát triển dự án điện gió
Trả lời

Ngày 15/01/2019, Bộ Công thương đã ban hành Thông tư số 02/2019/TT-BCT quy định thực hiện phát triển dự án điện gió và hợp đồng mua bán điện mẫu cho các dự án điện gió. Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 28/2/2019.
Theo đó, Bộ Công thương đã quy định cụ thể về quy hoạch các dự án điện gió việc thực hiện phát triển dự án gió và điều kiện thi công xây dựng công trình sự án điện gió. Cụ thể như sau:
– Phát triển các dự án điện gió được thực hiện theo Quy hoạch phát triển điện lực, thẩm định, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt, bổ sung vào Quy hoạch phát triển điện lực đối với những dự án chưa có trong quy hoạch;
– Tiến độ vận hành, quy mô công suất các giai đoạn của dự án phải tuân thủ theo đúng quy hoạch phát triển điện lực, quy hoạch phát triển điện gió đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt;
– UBND tỉnh phải cập nhật quy hoạch đấu nối dự án điện gió vào hệ thống điện để đảm bảo truyền tải công suất dự án và khả năng hấp thụ hệ thống điện khu vực dự án;
– Dự án điện gió chỉ được khởi công và thi công xây dựng khi đáp ứng các điều kiện theo quy định pháp luật về quản lý đầu tư xây dựng, yêu cầu về bảo vệ môi trường và đảm bảo các điều kiện như: Hồ sơ thiết kế xây dựng được thẩm định và phê duyệt theo quy định hiện hành; Hợp đồng mua bán điện đã ký với Bên mua điện; Có hợp đồng cung cấp tài chính và cam kết về nguồn vốn để bảo đảm tiến độ xây dựng công trình đúng với tiến độ đã được phê duyệt trong dự án đầu tư xây dựng công trình.
Có thể thấy, quy định mới của Bộ Công thương sẽ thúc đẩy khai thác, phát triển và thu hút các nhà đầu tư trong lĩnh vực điện năng lượng gió, góp phần thúc đẩy phát triển nền kinh tế đất nước.

Bản tin pháp luật số 05/2019
Trả lời

Quy định tiêu chí xác định và ban hành danh mục loài ngoại lai xâm hại
Trả lời

Ngày 28/12/2018, Bộ Tài Nguyên và Môi Trường đã ban hành Thông tư số 35/2018/TT-BTNMT quy định tiêu chí xác định và ban hành danh mục loài ngoại lai xâm hại. Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 11/02/2019
Theo đó, từ ngày 11/02/2019 Thông tư liên tịch số 27/2013/TTLT-BTNMT-BNNPTNT ngày 26/09/2013 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định tiêu chí xác định loài ngoại lai xâm hại và ban hành Danh mục loài ngoại lai xâm hại hết hiệu. Thay vào đó, các Bộ, Ban, Ngành, UBND các cấp, các tổ chức, cá nhân có liên quan sẽ áp dụng các tiêu chí được nêu trong Thông tư số 35/2018/TT-BTNMT để xác định loài ngoại lai xâm hại.
Khác với Thông tư liên tịch số 27/2013/TTLT-BTNMT-BNNPTNT, Thông tư số 35/2018/TT-BTNMT đã bổ sung thêm những tiêu chí cần nội dung cần đánh giá như: lịch sử xâm hại của loài tại Việt nam và trên thế giới, khả năng chống chịu của loài trước các thay đổi về thời tiết. Đồng thời thông tư số 35 cũng có thay đổi cơ bản về các tiêu chí đánh giá loài ngoại lai xâm hại hay loài ngoại lai có nguy cơ xâm hại. Ngoài ra, Thông tư số 35 cũng cập nhật lại danh mục các loài ngoại lai xâm hại và loài ngoại lai có nguy cơ xâm hại tại Phụ lục 1 và Phụ lục 2 đính kèm ở Thông tư này.
Có thể thấy, với việc ban hành Thông tư số 35/2018/TT-BTNMT nêu trên, Bộ Tài Nguyên và Môi Trường đã kịp thời cập nhật các tiêu chí mới để kịp thời đưa ra đánh giá, xác định chính xác về mức độ nguy hại đối với hệ sinh thái trong nước của các loài ngoại lai, từ đó có những biện pháp kịp thời để phòng ngừa, ngăn chặn sự xâm hại, bảo vệ đa dạng sinh học tại Việt Nam.

Hướng dẫn về phương án thực hiện hạn chế khai thác nước dưới đất
Trả lời

Ngày 26/12/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 167/2018/NĐ-CP quy định việc hạn chế khai thác nước dưới đất. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 10/02/2019.
Theo đó, Chính phủ quy định về phương án tổ chức thực hiện việc hạn chế khai thác nước dưới đất phải được xây dựng cụ thể cho từng khu vực, từng vùng hạn chế, bao gồm các nội dung sau đây:
– Danh sách các công trình khai thác hiện có (đã có giấy phép, không có giấy phép) thuộc từng khu vực, từng vùng;
– Biện pháp hạn chế khai thác cụ thể đối với từng công trình;
– Kế hoạch, lộ trình thực hiện từng biện pháp hạn chế khai thác đối với từng công trình.
Vùng hạn chế khai thác nước dưới đất được phân loại thành: Vùng hạn chế 1; Vùng hạn chế 2; Vùng hạn chế 3; Vùng bạn chế 4; Vùng hạn chế hỗn hợp.
Các tổ chức, cá nhân khai thác nước dưới đất có trách nhiệm cung cấp thông tin, số liệu liên quan đến công trình khai thác và hoạt động khai thác của công trình theo yêu cầu của Sở Tài nguyên và Môi trường để phục vụ việc khoanh định các vùng hạn chế khai thác; phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường trong việc xác định phương án, lộ trình thực hiện các biện pháp hạn chế khai thác nước dưới đất và thực hiện các biện pháp hạn chế khai thác nước dưới đất theo phương án đã được phê duyệt.
Có thể thấy, quy định mới của Chính phủ nhằm hạn chế khai thác nước dưới đất ở các vùng chứa nước ngọt thuộc lãnh thổ nước Việt Nam, không cấp phép thăm dò, khai thác để xây dựng thêm công trình khai thác nước dưới đất mới nhằm bảo vệ nguồn nước trong lòng đất trên lãnh thổ nước ta.

Hướng dẫn chế độ kế toán cho doanh nghiệp siêu nhỏ
Trả lời

Ngày 28/12/2018, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 132/2018/TT-BTC hướng dẫn chế độ kế toán cho doanh nghiệp siêu nhỏ. Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 15/02/2019, áp dụng cho năm tài chính bắt đầu hoặc sau ngày 01/04/2019.
Theo đó, đối tượng áp dụng Thông tư số 132/2018/TT-BTC là các doanh nghiệp siêu nhỏ (là doanh nghiệp có không quá 10 lao động đóng BHXH; doanh thu năm hoặc nguồn vốn không quá 03 tỷ đồng nếu thuộc lĩnh vực nông – lâm nghiệp, thủy sản, công nghiệp và xây dựng; Có không quá 10 lao động đóng BHXH và tổng doanh thu không quá 10 tỷ đồng hoặc tổng vốn không quá 03 tỷ đồng nếu thuộc lĩnh vực thương mại, dịch vụ), bao gồm các doanh nghiệp siêu nhỏ nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo phương pháp tính trên thu nhập tính thuế và phương pháp theo tỷ lệ % trên doanh thu bán hàng hóa, dịch vụ.
Chế độ kế toán cho doanh nghiệp siêu nhỏ có các điểm đặc thù như sau:
– Về tổ chức bộ máy: Doanh nghiệp siêu nhỏ được bố trí phụ trách kế toán mà không bắt buộc phải có kế toán trưởng;
– Về Sổ kế toán: Doanh nghiệp siêu nhỏ được tự xây dựng biểu mẫu sổ kế toán phù hợp. Nếu không tự xây dựng được thì sử dụng biểu mẫu và phương thức ghi chép tại Thông tư này;
– Về phương pháp kế toán: Doanh nghiệp siêu nhỏ không có nhu cầu thì không bắt buộc phải mở các tài khoản kế toán mà chỉ ghi đơn trên sổ kế toán để theo dõi các khoản doanh thu và thu nhập;
– Về báo cáo tài chính: Doanh nghiệp siêu nhỏ không bắt buộc phải lập báo cáo tài chính để nộp cho cơ quan thuế. Ngoài các báo cáo theo quy định, doanh nghiệp siêu nhỏ có thể lập các báo cáo kế toán phục vụ cho quản trị, điều hành của doanh nghiệp.
Có thể thấy, với những điểm mới nêu trên, Thông tư số 132/2018/TT-BTC được kỳ vọng sẽ giảm bớt chi phí, gánh nặng về nhân sự, gọn nhẹ về chế độ sổ sách kế toán, giải quyết những điểm vướng mắc khi các hộ kinh doanh chuyển đổi sang loại hình doanh nghiệp.

Quy định tính đầy đủ của bằng chứng kiểm toán
Trả lời

Ngày 28/12/2019, Tổng kiểm toán Nhà nước đã ban hành Quyết định số 03/2018/QĐ-KTNN Hướng dẫn về bằng chứng kiểm toán. Quyết định này có hiệu lực thi hành từ ngày 11/02/2019.
Theo đó, Quyết định số 03/2018/QĐ-KTNN quy định tính đầy đủ của bằng chứng kiểm toán gồm:
– Là tiêu chuẩn đánh giá về số lượng bằng chứng kiểm toán. Số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập chịu ảnh hưởng bởi đánh giá của Kiểm toán viên nhà nước (KTVNN) về rủi ro có sai sót trọng yếu và chất lượng của những bằng chứng kiểm toán đó;
– Tính đầy đủ của bằng chứng kiểm toán không đặt ra một số lượng cụ thể mà phụ thuộc vào xét đoán chuyên môn của KTVNN, tức là KTVNN phải đánh giá được các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến tính đầy đủ như đánh giá được rủi ro có sai sót trọng yếu và chất lượng của bằng chứng kiểm toán thu thập. Rủi ro có sai sót trọng yếu được đánh giá ở mức độ càng cao thì thường cần càng nhiều bằng chứng kiểm toán, chất lượng của mỗi bằng chứng kiểm toán càng cao thì có thể cần ít bằng chứng kiểm toán hơn;
– Tính đầy đủ của bằng chứng kiểm toán yêu cầu KTVNN phải thu thập số lượng bằng chứng cần thiết đảm bảo đủ căn cứ hỗ trợ cho KTVNN đưa ra đánh giá, xác nhận, kết luận và kiến nghị kiểm toán;
– Bằng chứng kiểm toán phải đạt được tính đầy đủ để một KTVNN có kinh nghiệm nhưng không có bất kỳ thông tin nào trước về cuộc kiểm toán có thể hiểu được kết quả của các thủ tục kiểm toán đã thực hiện, hiểu được căn cứ hình thành đánh giá, xác nhận, kết luận và kiến nghị kiểm toán.
Có thể thấy, Quyết định số 03/2018/QĐ-KTNN đã có những hướng dẫn cụ thể về tính đầy đủ của bằng chứng kiểm toán, qua đó góp phần giúp cho việc thu thập, chứng minh và tổng hợp các bằng chứng này sẽ được thực hiện đầy đủ, chính xác, công khai và minh bạch.