Nhiều ngân hàng tăng mạnh lãi suất huy động
Với mong muốn bổ sung thêm nguồn vốn trung, dài hạn để phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh cuối năm, đồng thời giảm...
Bùng nổ nhượng quyền thương hiệu vào Việt Nam
Hoạt động nhượng quyền đang được giới kinh doanh vận dụng để đưa các thương hiệu nước ngoài vào thị trường Việt Nam. Ngoài lĩnh...
6 ngành kinh tế phát triển mũi nhọn khu vực miền Trung
Có 6 lĩnh vực kinh tế biển, ven biển đang được các tỉnh miền Trung tập trung phát triển và đã đạt được những kết...
91.9% doanh nghiệp lạc quan về hoạt động sản xuất 6 tháng cuối năm
Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có tỷ lệ doanh nghiệp dự báo về khối lượng sản xuất khả...
Việt Nam chuyển dần từ nhập siêu sang xuất siêu với CPTPP
Với hầu hết các hiệp định thương mại (FTA) đã ký, Việt Nam thường nhập siêu, thì nay, khi thực hiện CPTTP, trong 7 tháng...
Giải đáp pháp luật
Quy định về việc tự thỏa thuận lãi suất vay tại Quỹ bảo lãnh tín dụng
Trả lời

Ngày 28/12/2018, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành Thông tư số 45/2018/TT-NHNN hướng dẫn các tổ chức tín dụng cho vay có bảo lãnh của Quỹ bảo lãnh tín dụng. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 12/02/2019.
Theo đó, Thông tư số 45/2018/TT-NHNN có nhưng điểm mới đáng chú ý như sau:
1. Về phối hợp trong cho vay có bảo lãnh
Trường hợp Quỹ bảo lãnh tín dụng nhận tài sản bảo đảm cho hoạt động bảo lãnh, bên cho vay, Quỹ bảo lãnh tín dụng, bên có tài sản bảo đảm và các bên liên quan (nếu có) thỏa thuận bằng văn bản để đảm bảo bên cho vay có quyền tiếp nhận và xử lý tài sản bảo đảm cho hoạt động bảo lãnh trong trường hợp Quỹ bảo lãnh tín dụng không thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh theo quy định.
Trước khi thực hiện cho vay có bảo lãnh của Quỹ bảo lãnh tín dụng, bên cho vay và Quỹ bảo lãnh tín dụng: a- Căn cứ các quy định nội bộ của bên cho vay và phương thức tổ chức điều hành hoạt động của Quỹ bảo lãnh tín dụng quy định tại Điều 14 Nghị định số 34/2018/NĐ-CP, thực hiện ký thỏa thuận khung hoặc thỏa thuận từng lần về việc phối hợp cho vay có bảo lãnh của Quỹ bảo lãnh tín dụng để thống nhất các nội dung trong quá trình thực hiện bảo lãnh, cho vay và là cơ sở để thực hiện quyền, nghĩa vụ của các bên khi phát sinh; b- Trường hợp các bên có nhu cầu sửa đổi, bổ sung thỏa thuận phối hợp đã ký kết thì việc sửa đổi, bổ sung phải được thực hiện bằng văn bản và là một bộ phận không tách rời của văn bản thỏa thuận phối hợp.
2. Về nguyên tắc cho vay
Bên cho vay xem xét, thẩm định, quyết định cho vay bằng đồng Việt Nam đối với các dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh của khách hàng được Quỹ bảo lãnh tín dụng bảo lãnh nghĩa vụ trả nợ gốc, trả lãi, trả nợ gốc và nợ lãi khoản vay theo quy định và tự chịu trách nhiệm về quyết định cho vay của mình.
Việc phân loại nợ, cơ cấu lại thời hạn trả nợ, chuyển nợ quá hạn, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro của bên cho vay đối với khoản vay của khách hàng có bảo lãnh của Quỹ bảo lãnh tín dụng được thực hiện theo quy định.
Bên cho vay và khách hàng thỏa thuận mức lãi suất cho vay đối với các khoản vay ngắn, trung, dài hạn của khách hàng có bảo lãnh của Quỹ bảo lãnh tín dụng, đảm bảo lãi suất cho vay không cao hơn lãi suất cho vay cùng kỳ hạn, cùng ngành, lĩnh vực của bên cho vay, phù hợp với quy định.

Có thể thấy, các quy định mới của Ngân hàng Nhà nước trong hoạt động bảo lãnh cho vay tại Thông tư số 45/2018/TT-NHNN được kỳ vọng sẽ thu hút và tạo điều kiện cho sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động tín dụng trong những năm tới.

Phê duyệt đề án thành lập sở giao dịch chứng khoán Việt Nam
Trả lời

Ngày 07/01/2019, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 32/QĐ-TTg phê duyệt đề án thành lập Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam (“SGDCK Việt Nam”). Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.
Theo đó, một số nội dung quan trọng, nổi bật liên quan đến việc tổ chức và hoạt động của Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam đã được quy định trong Quyết định số 32/QĐ-TTg, cụ thể như sau:
Thứ nhất, về mô hình hoạt động: SGDCK Việt Nam hoạt động theo mô hình Công ty TNHH MTV 100% vốn nhà nước do Bộ Tài chính là cơ quan đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước, có trụ sở chính đặt tại Hà Nội. SGDCK Hà Nội và SGDCK Tp. Hồ Chí Minh là các công ty con do SGDCK Việt Nam đầu tư 100% vốn, hoạt động độc lập, có tư cách pháp nhân.
Thứ hai, về chức năng nhiệm vụ:
– Xây dựng chiến lược, kế hoạch đầu tư phát triển, kế hoạch sản xuất kinh doanh 05 năm và kế hoạch sản xuất kinh doanh hằng năm để trình cấp có thẩm quyền phê duyệt;
– Ban hành các quy chế nghiệp vụ liên quan đến tổ chức và hoạt động thị trường giao dịch chứng khoán, như: niêm yết chứng khoán, giao dịch chứng khoán, công bố thông tin, thành viên giao dịch…sau khi được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) chấp thuận;
– Thực hiện hoạt động giám sát chung và giám sát nội bộ;
– Định hướng phát triển hệ thống công nghệ thông tin, thành tựu mới để chỉ đạo tổ chức thực hiện thống nhất về việc quản lý và tổ chức trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán;
– Hỗ trợ phát triển thị trường trong lĩnh vực chứng khoán theo quy định của pháp luật;
– Làm trung gian hoà giải theo yêu cầu của thành viên giao dịch khi phát sinh tranh chấp liên quan đến hoạt động giao dịch chứng khoán;
– Tham gia hoạt động hợp tác quốc tế về chứng khoán và thị trường chứng khoán;
– Thực hiện quản lý các công ty con theo quy định pháp luật và Điều lệ hoạt động;
– Các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật và quy định của cấp có thẩm quyền.
Nhìn chung, việc thành lập SGDCK Việt Nam nhằm mục đích thống nhất thị trường giao dịch chứng khoán, đảm bảo thị trường hoạt động hiệu quả, công bằng, công khai, minh bạch, đồng thời, tăng cường công tác quản lý, giám sát, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đối tượng tham gia thị trường, góp phần nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam, nâng cao sức cạnh tranh, từng bước tiếp cận với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế.

Hướng dẫn về việc xác nhận, quản lý tiền ký quỹ của doanh nghiệp bán hàng đa cấp
Trả lời

Ngày 30/11/2018, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành Thông tư số 29/2018/TT-NHNN hướng dẫn việc xác nhận, quản lý tiền ký quỹ của doanh nghiệp bán hàng đa cấp. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 18/01/2019.
Theo đó, Thông tư số 29/2018/TT-NHNN quy định các nội dung chính như sau:
1. Thủ tục hồ sơ ký quỹ của doanh nghiệp
Khi có nhu cầu ký quỹ tại ngân hàng thương mại hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài, doanh nghiệp và ngân hàng nhận ký quỹ thực hiện giao kết hợp đồng ký quỹ.
Hợp đồng ký quỹ bao gồm các nội dung chính sau: Tên, địa chỉ, người đại diện hợp pháp của doanh nghiệp; tên, địa chỉ, người đại diện hợp pháp của ngân hàng (hoặc chi nhánh ngân hàng) nhận ký quỹ; số tiền ký quỹ; mục đích ký quỹ; lãi suất tiền gửi ký quỹ; hình thức trả lãi tiền ký quỹ; sử dụng tiền ký quỹ; rút tiền ký quỹ; tất toán tài khoản ký quỹ; trách nhiệm của các bên liên quan và các nội dung khác phù hợp với quy định của pháp luật.
Doanh nghiệp hoàn thiện hồ sơ, thủ tục mở tài khoản ký quỹ theo hướng dẫn của ngân hàng nhận ký quỹ và nộp số tiền ký quỹ vào tài khoản ký quỹ theo quy định tại khoản 2 Điều 50 Nghị định số 40/2018/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý hoạt động kinh doanh theo phương thức đa cấp (tương đương 5% vốn điều lệ nhưng không thấp hơn 10 tỷ đồng tại một ngân hàng thương mại hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam).
Sau khi nhận đủ số tiền ký quỹ, ngân hàng nhận ký quỹ hạch toán tiền ký quỹ vào tài khoản tiền ký quỹ bằng đồng Việt Nam, cấp giấy Xác nhận ký quỹ cho doanh nghiệp.
Trường hợp doanh nghiệp thay đổi vốn điều lệ và có nhu cầu điều chỉnh số tiền ký quỹ, ngân hàng nhận ký quỹ và doanh nghiệp thực hiện việc sửa đổi, bổ sung hợp đồng ký quỹ hoặc ký kết hợp đồng ký quỹ mới và thực hiện ký quỹ theo quy định.
Lãi suất tiền ký quỹ do hai bên thỏa thuận trong hợp đồng ký quỹ giữa doanh nghiệp và ngân hàng nhận ký quỹ đảm bảo phù hợp với quy định về lãi suất tiền gửi bằng đồng Việt Nam của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong từng thời kỳ.
2. Quy định về xử lý khoản tiền đã ký quỹ
Khi nhận được văn bản của Bộ Công Thương yêu cầu trích tiền ký quỹ của doanh nghiệp để xử lý các trường hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 53 Nghị định số 40/2018/NĐ-CP, ngân hàng nhận ký quỹ thực hiện trích tiền ký quỹ cho người tham gia bán hàng đa cấp hoặc theo quyết định xử phạt của cơ quan có thẩm quyền. Cụ thể:
– Doanh nghiệp bán hàng đa cấp chấm dứt hoạt động bán hàng đa cấp theo quy định nhưng không thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ liên quan đến hoạt động bán hàng đa cấp đối với người tham gia bán hàng đa cấp và có quyết định, bản án có hiệu lực pháp luật của cơ quan có thẩm quyền về việc xử lý các tranh chấp giữa doanh nghiệp bán hàng đa cấp với người tham gia bán hàng đa cấp liên quan đến các nghĩa vụ đó;
– Doanh nghiệp chấm dứt hoạt động bán hàng đa cấp nhưng không chấp hành quyết định xử phạt vi phạm trong hoạt động bán hàng đa cấp đã có hiệu lực của cơ quan có thẩm quyền.
Có thể thấy, Thông tư số 29/2018/TT-NHNN được kỳ vọng sẽ nâng cao hiệu quả quản lý đối với hoạt động bán hàng đa cấp, hạn chế “biến tướng” của hoạt động bán hàng đa cấp, góp phần bảo vệ quyền, lợi cho người tiêu dùng.

Tăng cường công tác chỉ đạo, đẩy mạnh công tác cơ cấu, sắp xếp, đổi mới, cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn nhà nước
Trả lời

Ngày 05/01/2019, Thủ tướng ChÍnh phủ đã ban hành Chỉ thị số 01/CT-Ttg về việc tăng cường công tác chỉ đạo, đẩy mạnh công tác cơ cấu lại, sắp xếp, đổi mới, cổ phần hóa và thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và doanh nghiệp có vốn nhà nước. Chỉ thị này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.
Theo đó, Thủ tướng đã chỉ rõ những hạn chế còn tồn tại, hạn chế trong công tác cơ cấu lại, sắp xếp, cổ phần hóa, thoái vốn tại các danh nghiệp nhà nước, đồng thời đưa ra những phân tích về nguyên nhân khách quan, chủ quan dẫn tới những tồn tại, hạn chế này. Trên cơ sở đó, Thủ tướng đã giao các Bộ trưởng, Trưởng ngành, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, lãnh đạo các tập đoàn, tổng công ty, DNNN đề cao trách nhiệm của người đứng đầu, tập trung chỉ đạo và triển khai tốt các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu sau:
– Khẩn trương hoàn thành hệ thống cơ chế, chính sách, văn bản pháp luật phục vụ công tác tái cơ cấu, thoái vốn tại các DNNN;
– Các Bộ, ngành, địa phương, tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, DNNN trước ngày 15 tháng 01 năm 2019 hoàn thành việc phê duyệt hoặc trình cấp có thẩm quyền phê duyệt phương án cơ cấu lại các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực quản lý;
– Rà soát lại quỹ đất đang được các DNNN quản lý để thực hiện việc xác định giá trị doanh nghiệp đúng quy định của pháp luật;
– Tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm toán, tránh việc thất thoát tài sản, vốn nhà nước trong quá trình thoái vốn, cơ cấu lại tại DNNN;
– Kiên quyết xử lí các DNNN, các dự án đầu tư hoạt động thua lỗ, kém hiệu quả;
– Công bố công khai thông tin về cổ phần hóa, thoái vốn doanh nghiệp nhà nước làm.
Có thể thấy, thông qua việc ban hành Chỉ thị số 01/CT-Ttg, Thủ tướng Chính phủ đang thể hiện rõ quyết tâm trong việc tiếp tục cơ cấu lại, sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước qua đó góp phần hoàn thành kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2019.

Quy định về đánh giá tác động môi trường các dự án nạo vét trong vùng nước cảng biển
Trả lời

Ngày 28/11/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 159/2018/NĐ-CP về quản lý hoạt động nạo vét trong vùng nước cảng biển và vùng nước đường thủy nội địa. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 11/01/2019.
Theo đó, Nghị định số 159/2018/NĐ-CP có những nội dung mới nổi bật đáng chú ý như sau:
– Các dự án nạo vét cơ bản trong vùng nước cảng biển và vùng nước đường thủy nội địa phải được đánh giá tác động môi trường theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường;
– Đối với các dự án, công trình nạo vét duy tu với khối lượng thực hiện hàng năm có tính quy luật, việc đánh giá tác động môi trường hoặc kế hoạch bảo vệ môi trường được thực hiện theo thời hạn từng năm hoặc theo chu kỳ đến 05 năm;
– Việc xác định vị trí đổ chất nạo vét trên bờ đối với hoạt động nạo vét trong vùng nước cảng biển phải báo cáo lên Ủy ban nhân cấp tỉnh và được chấp thuận;
– Các dự án nạo vét cơ bản thuộc đường thủy nội địa phải được Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chấp thuận phương án thực hiện theo quy định của pháp luật về tài nguyên nước. Trường hợp các dự án nạo vét cơ bản thuộc đường thủy nội địa có đê còn phải lấy ý kiến của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý; đối với dự án nạo vét cơ bản ở các tuyến đường thủy nội địa có đê từ cấp III đến cấp đặc biệt hoặc thuộc địa bàn từ 02 tỉnh trở lên, phải lấy ý kiến của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trước khi phê duyệt dự án.
Có thể thấy, Nghị định số 159/2018/NĐ-CP đã có những hướng dẫn chi tiết về việc đánh giá tác động môi trường khi thực hiện hoạt động nạo vét trong vùng nước cảng biển, qua đó góp phần nhằm bảo đảm an toàn hàng hải, an ninh hàng hải, trật tự an toàn giao thông đường thủy nội địa, phòng ngừa ô nhiễm môi trường, đảm bảo an toàn cộng đồng dân cư, hệ thống công trình đê điều, thủy lợi, phòng chống thiên tai.

Điều chỉnh cơ chế khuyến khích phát triển dự án điện mặt trời tại Việt Nam
Trả lời

Ngày 08/01/2019, Thủ tường Chính phủ đã ban hành Quyết định số 02/2019/QĐ-TTg sửa đổi Quyết định số 11/2017/QĐ-TTg về cơ chế khuyến khích phát triển dự án điện mặt trời tại Việt Nam. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.
Theo đó, cơ chế khuyến khích phát triển các dự án điện mặt trời tại Việt Nam được sửa đổi theo Quyết định số 02/2019/QĐ-TTg được sửa đổi như sau:
Đối với giá điện đối với dự án trên mái nhà:
– Các dự án trên mái nhà được thực hiện cơ chế mua bán điện theo chiều giao và chiều nhận riêng biệt của công tơ điện đo đếm hai chiều. Bên bán điện thực hiện thanh toán lượng điện năng nhận từ lưới điện theo quy định hiện hành. Bên mua điện thực hiện thanh toán lượng điện năng từ dự án trên mái nhà phát lên lưới điện với giá mua bán điện theo quy định. Các bên có trách nhiệm thực hiện các quy định pháp luật hiện hành về thuế và phí.
– Giá mua bán điện đối với dự án trên mái nhà cho năm tiếp theo được xác định trên cơ sở tỷ giá trung tâm của đồng Việt Nam so với đô la Mỹ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố vào ngày công bố tỷ giá cuối cùng của năm trước.
Đối với trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước cụ thể là Bộ Công thương được điều chỉnh như sau:
– Ban hành quy chuẩn kỹ thuật về điện mặt trời, quy định về đấu nối, đo đếm điện năng đối với dự án điện mặt trời và hướng dẫn thủ tục đấu nối, lắp đặt công tơ của các dự án điện mặt trời trên mái nhà.
– Hướng dẫn thực hiện tính toán thanh toán tiền điện đối với các dự án điện mặt trời theo biến động của đồng Việt Nam so với đô la Mỹ.
Như vậy, Quyết định số 02/2019/QĐ-TTg đã có những điều chỉnh phù hợp hơn với tình hình kinh tế xã hội hiên tại. Bên cạnh đó việc điều chỉnh cơ chế quản lý cũng góp phần giúp công tác quản lý của cơ quan nhà nước trở nên rõ ràng và thuận tiện hơn.

Bản tin pháp luật số 02/2019
Trả lời

Bản tin pháp luật số 01/2019
Trả lời

Quy định tầm nhìn của quy hoạch sử dụng đất quốc gia
Trả lời

Ngày 20/11/2018, Quốc hội ban hành Luật số 35/2018/QH14 sửa đổi, bổ sung một số Điều của 37 Luật có liên quan đến quy hoạch 2018. Luật này có hiệu lực từ ngày 01/01/2019.
Theo đó, Luật số 35/2018/QH14 quy định về nguyên tắc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải tuân thủ quy định của pháp luật về quy hoạch và các nguyên tắc như sau:
– Quy hoạch sử dụng đất quốc gia phải bảo đảm tính đặc thù, liên kết của các vùng; quy hoạch sử dụng đất cấp huyện phải thể hiện nội dung sử dụng cấp xã;
– Bảo vệ nghiêm ngặt đất chuyên trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng;
– Bảo đảm sự cân bằng giữa nhu cầu sử dụng đất của các ngành, lĩnh vực, địa phương và khả năng, quỹ đất của quốc gia nhằm sử dụng đất tiết kiệm và có hiệu quả;
– Khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên; thích ứng với biến đổi khí hậu;
– Nội dung phân bổ và sử dụng đất trong quy hoạch ngành quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh phải bảo đảm phù hợp với quy hoạch sử dụng đất quốc gia.
Ngoài ra, Luật quy định việc lập kế hoạch sử dụng đất phải tuân thủ các nguyên tắc sau đây:
– Phù hợp với chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh;
– Kế hoạch sử dụng đất phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất cùng cấp đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; đối với kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh phải phù hợp với phương án phân bổ, khoanh vùng đất đai trong quy hoạch tỉnh;
– Sử dụng đất tiết kiệm và có hiệu quả;
– Khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường; thích ứng với biến đổi khí hậu;
– Bảo vệ, tôn tạo di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh;
– Kế hoạch của ngành, lĩnh vực, địa phương có sử dụng đất phải bảo đảm phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, phê duyệt.
Như vậy, việc bổ sung nguyên tắc quy hoạch sử dụng đất là một cơ sở pháp lý quan trọng cho cơ quan nhà nước trong việc phê duyệt thẩm định tính phù hợp với nền kinh tế xã hội, môi trường ở tình hình hiện nay.

Quy định về công bố nội dung quy hoạch
Trả lời

Ngày 24/11/2017, Quốc hội đã thông qua Luật Quy hoạch 2017, quy định việc lập, thẩm định, quyết định hoặc phê duyệt, công bố, thực hiện, đánh giá, điều chỉnh quy hoạch trong hệ thống quy hoạch quốc gia; trách nhiệm quản lý nhà nước về quy hoạch. Luật này có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2019.
Theo đó, Luật Quy hoạch 2017 có quy định về việc công bố quy hoạch, cụ thể:
Chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày quy hoạch được cơ quan có thẩm quyền quyết định hoặc phê duyệt, toàn bộ nội dung của quy hoạch phải được công bố công khai, trừ những nội dung liên quan đến bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước.
Việc công bố nội dung quy hoạch được thực hiện theo các hình thức đăng tải trên trang thông tin điện tử của cơ quan tổ chức lập quy hoạch, cơ quan lập quy hoạch, một cách thường xuyên, liên tục. Bên cạnh đó, quy hoạch có thể được công bố theo một số hình thức sau đây:
• Thông tin trên phương tiện thông tin đại chúng;
• Trưng bày mô hình, hệ thống sơ đồ, bản đồ, hệ thống cơ sở dữ liệu về quy hoạch;
• Tổ chức hội nghị, hội thảo;
• Phát hành ấn phẩm.
Về việc tổ chức công bố quy hoạch, Luật Quy hoạch 2017 có quy định trách nhiệm đối với từng cơ quan có thẩm quyền, cụ thể như sau:
• Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức công bố quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch vùng.
• Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức công bố quy hoạch không gian biển quốc gia, quy hoạch sử dụng đất quốc gia.
• Bộ, cơ quan ngang Bộ tổ chức công bố quy hoạch ngành quốc gia thuộc thẩm quyền tổ chức lập.
• Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức công bố quy hoạch tỉnh.
Nhìn chung, việc thông qua Luật Quy hoạch 2017 đã cho thấy nỗ lực của Nhà nước ta trong việc đổi mới phương thức quản lý liên quan đến vấn đề quy hoạch của quốc gia. Trong đó, việc công bố nội dung quy hoạch đã thể hiện đúng đường lối, phương châm mạnh mẽ của Đảng ta, đó là: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, mục đích tăng cường ý kiến, phản ánh của nhân dân đối với những vấn đề của quốc gia, qua đó góp phần xây dựng tính dân chủ của nhân dân trong công cuộc đổi mới của đất nước.