Ngày 16/07/2018 Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 59/2018/TT-BTC sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 219/2015/TT-BTC ngày 31/12/2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn một số nội dung của Nghị định số 91/2015/NĐ-CP ngày 13/10/2015 của Chính phủ về đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý, sử dụng vốn, tài sản tại doanh nghiệp. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/09/2018.
Theo đó, Thông tư số 59/2018/TT-BTC ban hành hướng dẫn chi tiết việc ghi tăng và giảm vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp chi tiết như sau:
1. Doanh nghiệp nhà nước đang hoạt động thực hiện ghi tăng vốn nhà nước tại doanh nghiệp (vốn đầu tư của chủ sở hữu) và thực hiện điều chỉnh lại mức vốn điều lệ trong giấy đăng ký doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp.
Sử dụng nguồn Quỹ đầu tư phát triển tại doanh nghiệp để bổ sung vốn điều lệ. Doanh nghiệp căn cứ phương án bổ sung vốn điều lệ hoặc quyết định bổ sung vốn điều lệ đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt để hạch toán tăng vốn đầu tư của chủ sở hữu
2. Đối với doanh nghiệp thực hiện điều chỉnh giảm vốn điều lệ: Cơ quan đại diện chủ sở hữu căn cứ tình hình thực tế hoạt động của doanh nghiệp, sự cần thiết phải giảm quy mô hoạt động của doanh nghiệp, nguyên tắc xác định vốn điều lệ của doanh nghiệp nhà nước quy định tại Khoản 1 Điều 19 Nghị định số 91/2015/NĐ-CP để xác định vốn điều lệ giảm và báo cáo Thủ tướng Chính phủ quyết định xử lý giá trị vốn điều lệ giảm.
Như vậy, Thông tư số 59/2018/TT-BTC ban hành nhằm hướng dẫn chi tiết một số nội dung về đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp và vấn đề quản lý tài chính đối với các doanh nghiệp nhà nước nhằm tránh tình trạng chuyển nhượng vốn không hợp lý trong giai đoạn hiện nay.
Ngày 23/08/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 108/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 78/2015/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp. Nghị định này sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 10/10/2018,
Theo đó, Nghị định số 108/2018/NĐ-CP đã quy định nội dung mới nổi bật liên quan đến việc thủ tục đăng ký doanh nghiệp, cụ thể như sau:
Thứ nhất, Doanh nghiệp không bắt buộc phải đóng dấu trong giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp, thông báo thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp, nghị quyết, quyết định, biên bản họp trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp.
Thứ hai, trường hợp người có thẩm quyền ký văn bản đề nghị đăng ký doanh nghiệp ủy quyền cho tổ chức, cá nhân khác thực hiện thủ tục liên quan đến đăng ký doanh nghiệp thì văn bản ủy quyền đó không bắt buộc phải công chứng, chứng thực.
Thứ ba, hộ kinh doanh cá thể có thể chuyển đổi sang hoạt động theo hình thức doanh nghiệp. Thủ tục này sẽ được thực hiện tại Phòng đăng ký kinh doanh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở, Phòng đăng ký kinh doanh có trách nhiệm liên kết/liên hệ với cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện đã cấp Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh để hoàn tất thủ tục.
Thứ tư, doanh nghiệp có quyền lập địa điểm kinh doanh ở ngoài địa chỉ đăng ký trụ sở chính và không bắt buộc hộ kinh doanh chỉ được lập địa điểm kinh doanh tại tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính hoặc đặt chi nhánh như trước đây.
Thứ năm, trường hợp thực hiện thủ tục thông báo mẫu dấu qua mạng điện tử, doanh nghiệp không phải nộp hồ sơ thông báo mẫu dấu bằng bản giấy đến Phòng Đăng ký kinh doanh.
Thứ sáu, Doanh nghiệp có trách nhiệm thực hiện thông báo thay đổi thông tin của cổ đông sáng lập (do cổ đông sáng lập chưa thanh toán hoặc chỉ thanh toán một phần số cổ phần đã đăng ký mua khi thành lập doanh nghiệp) trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày kết thúc thời hạn phải thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua.
Như vậy, Nghị định số 108/2018/NĐ-CP đã sửa đổi và quy định chi tiết một số nội dung về đăng ký doanh nghiệp, đặc biệt là đối với những quy định mà trước đây còn đang chưa rõ ràng, không thống nhất gây khó khăn trong việc áp dụng giữa cơ quan có thẩm quyền với doanh nghiệp khi thực hiện các thủ tục này.
Ngày 16/08/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 107/NQ- CP về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 21/05/ 2018 của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp. Nghị quyết này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 16/08/2018.
Theo đó, Nghị quyết số 107/NQ- CP ban hành với mục tiêu xây dựng hệ thống chính sách tiền lương quốc gia một cách khoa học, minh bạch, phù hợp với tình hình thực tiễn đất nước, đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường với mục tiêu cụ thể như sau:
– Đến năm 2021: thực hiện áp dụng chế độ tiền lương mới theo vị trí việc làm; tiền lương thấp nhất của cán bộ, công chức, viên chức bằng mức lương thấp nhất bình quân các vùng của khu vực doanh nghiệp.
– Đến năm 2025: thực hiện nâng mức tiền lương của khu vực công; tiền lương thấp nhất của cán bộ, công chức, viên chức cao hơn mức lương thấp nhất bình quân các vùng của khu vực doanh nghiệp.
Có thể thấy, Nghị quyết số 107/NQ- CP được ban hành nhằm tạo điều kiện đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và chủ động hội nhập quốc tế, xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ; tạo động lực giải phóng sức sản xuất, nâng cao năng suất lao động, chất lượng nguồn nhân lực; góp phần xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; phòng, chống tham nhũng, lãng phí; bảo đảm đời sống của người hưởng lương và gia đình người hưởng lương, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.
Ngày 20/08/2018, Bộ Kế hoạch và Đầu tư – Cục quản lý đăng ký kinh doanh ban hành Công văn số 234/ĐKKD-NV hướng dẫn một số nội dung liên quan đến việc thi hành Quyết định số 27/2018/QĐ-TTg. Công văn này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.
Theo đó, Công văn số 234/ĐKKD-NV có một số quy định mới, đáng lưu ý, cụ thể như sau:
1. Đối với hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp, thông báo thay đổi ngành, nghề kinh doanh, đề nghị cấp đổi sang Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, Phòng Đăng ký kinh doanh tiến hành rà soát ngành, nghề kinh doanh mà doanh nghiệp đã triển khai:
– Trường hợp tên, mã ngành, nghề kinh doanh cảu doanh nghiệp đã kê khai trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp theo Quyết định số 10/2007/QĐ-TTg không có sự thay đổi so với Hệ thống ngành mới, Phòng Đăng ký kinh doanh thực hiện cấp đăng ký doanh nghiệp theo quy định.
– Trường hợp tên, mã ngành, nghề kinh doanh của doanh nghiệp đã kê khai trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp theo Quyết định số 10/2007/QĐ-TTg có sự thay đổi so với Hệ thống ngành mới, Phòng Đăng ký kinh doanh hướng dẫn doanh nghiệp/đơn vị trực thuộc sửa đổi, bổ sung hồ sơ đăng ký doanh nghiệp theo Hệ thống ngành mới.
2. Trường hợp hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp, thông báo thay đổi ngành, nghề kinh doanh, đề nghị cấp đổi sang Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp nộp qua mạng điện tử sử dụng Tài khoản đăng ký kinh doanh đã được Phòng Đăng ký kinh doanh ra Thông báo về việc hồ sơ hợp lệ trước ngày 20/8/2018 nhưng doanh nghiệp nộp hồ sơ bằng bản giấy sau ngày 20/8/2018 và mã ngành, nghề kinh doanh của doanh nghiệp đã kê khai trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp theo Quyết định số 10/2007/QĐ-TTg có sự thay đổi so với Hệ thống ngành mới, Phòng Đăng ký kinh doanh thực hiện theo trình tự sau:
– Chấp thuận hồ sơ đăng ký doanh nghiệp trên Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.
– Hướng dẫn doanh nghiệp làm đề nghị cập nhật, bổ sung thông tin theo mẫu để Phòng Đăng ký kinh doanh cập nhật ngành, nghề kinh doanh theo Hệ thống ngành mới trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp (theo quyết định của Trưởng phòng).
3. Đối với các hồ sơ đăng ký doanh nghiệp/đơn vị trực thuộc khác không được nêu tại Mục 1 nêu trên, Phòng Đăng ký kinh doanh thực hiện cấp đăng ký doanh nghiệp theo quy định.
Có thể thấy, bằng những hướng dẫn cụ thể và chi tiết, Công văn số 234/DKKD-NV được kỳ vọng sẽ góp phần tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy quá trình giải quyết hồ sơ cho doanh nghiệp và làm cho quá trình thực hiện đăng ký kinh doanh được nhanh chóng và chính xác hơn.
Ngày 15/08/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 107/2018/NĐ-CP về kinh doanh xuất khẩu gạo. Nghị định sẽ có hiệu lực kể từ ngày 01/10/2018.
Theo đó, thương nhân kinh doanh xuất khẩu gạo phải thường xuyên duy trì mức dự trữ lưu thông tối thiểu tương đương 5% số lượng gạo mà thương nhân đã xuất khẩu trong 06 tháng trước đó, giảm 5% so với quy định hiện hành.
Bên cạnh đó, Nghị định đã quy định cụ thể về điều kiện của thương nhân trong kinh doanh xuất khẩu gạo. Cụ thể như sau:
– Có ít nhất 01 kho chuyên dùng để chứa thóc, gạo phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về kho chứa thóc gạo;
– Có ít nhất 01 cơ sở xay, xát hoặc cơ sở chế biến thóc, gạo phù hợp với tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia về kho chứa và cơ sở xay, xát, chế biến thóc, gạo.
Kho chứa, cơ sở xay, xát, chế biến thóc, gạo có thể thuộc sở hữu của thương nhân hoặc thuê của tổ chức, cá nhân khác có hợp đồng thuê bằng văn bản với thời hạn thuê tối thiểu 05 năm.
Có thể thấy, quy định mới về mức dự trữ lưu thông tối thiểu trong xuất khẩu gạo sẽ tạo điều kiện thuận lợi giúp cho các thương nhân vừa đảm bảo cung cấp kịp thời nhu cầu tiêu dùng gạo tại từng thời điểm cụ thể, vừa tránh gây ảnh hưởng đến đời sống kinh tế – xã hội, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp khi kinh doanh xuất khẩu gạo.
Ngày 21/08/2018, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 22/2018/TT-BCT hướng dẫn về đấu giá thí điểm hạn ngạch thuế quan nhập khẩu đường năm 2018. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 21/08/2018
Theo đó, Thông tư số 22/2018/TT-BCT đã quy định nội dung mới nổi bật liên quan đến việc thí điểm đấu giá hạn ngạch thuế quan nhập khẩu đường năm 2018, cụ thể như sau:
Thứ nhất, đối tượng áp dụng:
– Các thương nhân trực tiếp sử dụng đường làm nguyên liệu sản xuất và thương nhân sử dụng đường thô để sản xuất đường tinh luyện.
– Các cá nhân, tổ chức có liên quan đến việc nhập khẩu đường theo hạn ngạch thuế quan năm 2018.
Thứ hai, lượng hạn ngạch thuế quan nhập khẩu đường đấu giá năm 2018 được đấu giá là 94.000 tấn.
Thứ ba, nguyên tắc đấu giá:
– Việc đấu giá hạn ngạch thuế quan nhập khẩu đường năm 2018 được thực hiện thông qua Hội đồng đấu giá thí điểm hạn ngạch thuế quan nhập khẩu đường năm 2018.
– Nguyên tắc, trình tự, thủ tục bán đấu giá tài sản thực hiện theo quy định về pháp luật bán đấu giá phù hợp với tính chất tài sản bán đấu giá.
Thứ ba, thủ tục nhập khẩu:
– Sau khi có Báo cáo kết quả đấu giá của Hội đồng đấu giá, Bộ Công Thương có văn bản thông báo giao quyền sử dụng hạn ngạch thuế quan nhập khẩu đường cho thương nhân trúng đấu giá.
– Khi làm thủ tục nhập khẩu đường, ngoài việc thực hiện các quy định hiện hành, thương nhân nộp văn bản thông báo giao quyền sử dụng hạn ngạch thuế quan nhập khẩu đường của Bộ Công Thương với cơ quan Hải quan nơi làm thủ tục hải quan nhập khẩu hàng hóa theo quy định của pháp luật hải quan.
Như vậy, so với năm 2017 thì lượng hạn ngạch thuế quan nhập khẩu đường được đấu giá năm 2018 tăng lên 4,5 tấn. Việc đấu giá thí điểm hạn ngạch thuế quan đối với mặt hàng này là phương thức tổ chức công khai, minh bạch, công bằng, phân bổ toàn bộ hạn ngạch nhập khẩu đường cho các doanh nghiệp.
Ngày 15/08/2018, Bộ công an ban hành Quyết định số 4513/QĐ-BCA-V03 Phê duyệt phương án cải cách hoạt động kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hoá xuất, nhập khẩu và đơn giản hoá, cắt giảm điều kiện kinh doanh thuộc trách nhiệm của Bộ Công an.Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/08/2018.
Theo đó, Quyết định số 4513/QĐ-BCA-V03 có nội dung nổi bật là Đơn giản hóa các điều kiện để kinh doanh dịch vụ phòng cháy, chữa cháy, cụ thể:
– Điều kiện đối với doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh về tư vấn thiết kế, tư vấn thẩm định, tư vấn giám sát, tư vấn kiểm tra, kiểm định kỹ thuật về phòng cháy và chữa cháy: Cắt giảm hoặc đơn giản hoá điều kiện “Có địa điểm hoạt động; phương tiện, thiết bị, địa điểm bảo đảm thực hiện tư vấn thiết kế, tư vấn thẩm định, tư vấn giám sát, tư vấn kiểm tra, kiểm định kỹ thuật về phòng cháy và chữa cháy”.
– Điều kiện đối với doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh về hoạt động tư vấn chuyển giao công nghệ phòng cháy và chữa cháy; huấn luyện, hướng dẫn về nghiệp vụ phòng cháy và chữa cháy: Cắt giảm hoặc đơn giản hoá điều kiện “Có địa điểm hoạt động; phương tiện, thiết bị, địa điểm bảo đảm thực hiện tư vấn chuyển giao công nghệ; phương tiện, thiết bị phục vụ huấn luyện, địa điểm tổ chức huấn luyện, hướng dẫn về nghiệp vụ phòng cháy và chữa cháy”.
– Điều kiện đối với doanh nghiệp, cơ sở thi công, lắp đặt hệ thống phòng cháy và chữa cháy: Cắt giảm hoặc đơn giản hoá điều kiện “Có địa điểm hoạt động và cơ sở vật chất, phương tiện, thiết bị, máy móc bảo đảm cho việc thi công, lắp đặt hệ thống phòng cháy và chữa cháy”.
– Điều kiện đối với doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, lắp ráp phương tiện, thiết bị phòng cháy và chữa cháy: Cắt giảm hoặc đơn giản hoá điều kiện “Có địa điểm hoạt động; có nhà xưởng, phương tiện, thiết bị bảo đảm cho hoạt động sản xuất, lắp ráp phương tiện, thiết bị, vật tư phòng cháy và chữa cháy”.
– Điều kiện đối với doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh phương tiện, thiết bị, vật tư phòng cháy và chữa cháy: Cắt giảm hoặc đơn giản hoá điều kiện “Có địa điểm hoạt động và cơ sở vật chất, phương tiện, thiết bị bảo đảm cho hoạt động kinh doanh kinh doanh phương tiện, thiết bị, vật tư phòng cháy và chữa cháy”.
Như vậy, Quyết định số 4513/QĐ-BCA-V03 của Bộ Công an đã nâng cao trách nhiệm của các doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh trong việc đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, cơ sở mình, hạn chế sự can thiệp không cần thiết của cơ quan quản lý nhà nước vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của các tổ chức, doanh nghiệp.
Ngày 20/08/2018, Bộ Công thương ban hành Thông tư số 21/2018/TT-BCT về việc sửa đổi một số điều của Thông tư số 47/2014/TT-BCT ngày 05/12/2014 của Bộ Công thương quy định về quản lý website thương mại điện tử và Thông tư số 59/2015/TT-BCT ngày 31/12/2015 của Bộ Công thương quy định về quản lý hoạt động thương mại điện tử qua ứng dụng trên thiết bị di động. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 18/10/2018.
Theo đó, Thông tư số 21/2018/TT-BCT có một số điểm đáng lưu ý như sau:
– Bãi bỏ quy định về thông báo website thương mại điện tử bán hàng tại Điều 8 và đăng ký hoạt động đánh giá tín nhiệm website thương mại điện tử tại Điều 21 Thông tư 47/2014/TT-BCT.
– Đối tượng phải đăng ký website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử (Điều 13), bao gồm tất cả thương nhân hoặc tổ chức có website cung cấp ít nhất một trong các dịch vụ: sàn giao dịch thương mại điện tử, khuyến mại trực tuyến, đấu giá trực tuyến. Trước đó, tổ chức phải đăng ký website dịch vụ thương mại điện tử chỉ gồm tổ chức hoạt động trong lĩnh vực xúc tiến thương mại hoặc hỗ trợ doanh nghiệp.
Ngoài ra, so với quy định tại Điều 10 Thông tư 59/2015/TT-BCT (miễn thông báo đối với cá nhân không thuộc đối tượng phải đăng ký kinh doanh), Thông tư này cũng mở rộng phạm vi đối tượng phải thông báo ứng dụng bán hàng trên thiết bị di động, bao gồm tất cả thương nhân, tổ chức hoặc cá nhân đã được cấp mã số thuế có sở hữu ứng dụng bán hàng.
Có thể thấy, Thông tư số 21/2018/TT-BCT với các điểm mới nổi bật như trên được đánh giá là những điều chỉnh, thay đổi cần thiết, phù hợp với thực tiễn hoạt động thương mại điện tử hiện nay.