Ngày 19/7/2019, Bộ Thông tin Truyền thông đã ban hành Thông tư 06/2019/TT-BTTTT sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2015/TT-BTTTT. Thông tư có hiệu lực từ ngày 15/09/2019.
Theo đó, Thông tư 06/2019/TT-BTTTT quy định theo hướng bổ sung, sửa đổi một số điểm mới về quản lý, sử dụng tài nguyên Internet, cụ thể:
Bổ sung quy định giải thích từ ngữ “thành viên địa chỉ” (Khoản 15 Điều 2).
Bổ sung quy định tạm ngừng hoạt động tên miền trong các trường hợp không xác định được chủ thể do mạo danh đăng ký tên miền, tên miền có thông tin đăng ký không chính xác, chủ thể tên miền là tổ chức đã giải thể hoặc không còn tồn tại (Điều 11).
Bổ sung quy định cho phép thay đổi tên chủ thể đăng ký sử dụng địa chỉ IP, số hiệu mạng (Khoản 1, Điều 22).
Sửa đổi quy định về đăng ký, sử dụng tên miền dưới đuôi “.name.vn” theo đó bổ sung thêm đối tượng tổ chức được đăng ký sử dụng tên miền dưới đuôi “.name.vn” (khoản 3, Điều 5).
Sửa đổi quy định về quản lý tên miền “.vn” trong quá trình giải quyết tranh chấp quyền sử dụng tên miền phù hợp với quy định pháp luật thi hành án dân sự theo hướng đảm bảo tính khả thi trong thực tế: sửa đổi thời hạn được ưu tiên đăng ký tên miền của người được thi hành án là nguyên đơn kể từ ngày quyết định, phán quyết, bản án giải quyết tranh chấp có hiệu lực pháp luật (khoản 3, Điều 10).
Sửa đổi quy định về chuyển đổi Nhà đăng ký theo hướng quy định rõ trách nhiệm của Nhà đăng ký đang quản lý tên miền trong việc phải thực hiện các thủ tục để chuyển đổi Nhà đăng ký quản lý tên miền khi chủ thể có yêu cầu và không được gây cản trở khi chủ thể đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ trong thỏa thuận về đăng ký, duy trì tên miền “.vn” với Nhà đăng ký (khoản 1, Điều 15).
Về tổng quan, Thông tư 06/2019/TT-BTTTT được ban hành đã tạo điều kiện thuận lợi cho chủ thể khi đăng ký sử dụng tài nguyên Internet trên cơ sở thực hiện chủ trương cải cách thủ tục hành chính, đồng thời bổ sung quy định giải quyết một số tình huống phát sinh cho phù hợp với tình hình thực tế.
Ngày 17/07/2019, Bộ Trưởng Bộ Văn Hóa, Thể Thao Và Du Lịch ban hành Thông tư số 04/2019/TT-BVHTTDL về danh mục hoạt động thể thao bắt buộc có người hướng dẫn tập luyện, danh mục hoạt động thể thao mạo hiểm. Thông tư này có hiệu lực từ ngày 01/09/2019.
Trước đó, tại Nghị định 36/2019/NĐ-CP đã quy định về điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp kinh doanh hoạt động thể thao mạo hiểm, hoạt động thể thao bắt buộc có người hướng dẫn tập luyện. Tuy nhiên, chưa có quy định cụ thể về danh mục hoạt động thể thao thuộc hai trường hợp nêu trên. Thông tư số 04/2019/TT-BVHTTDL ban hành đã quy định cụ thể về hai danh mục này, qua đó giúp doanh nghiệp có thể dễ dàng xác định, đối chiếu khi thực hiện.
Theo đó, các hoạt động thể thao bắt buộc có người hướng dẫn tập luyện được quy định trong Danh mục ban hành kèm theo Thông tư, bao gồm những hoạt động sau:
Tập luyện, thi đấu Leo núi nhân tạo;
Tập luyện, thi đấu Trượt băng;
Tập luyện, thi đấu Đua ngựa;
Tập luyện, thi đấu Kiếm thể thao;
Tập luyện, thi đấu Bắn súng;
Tập luyện, thi đấu Bắn cung;
Tập luyện, thi đấu Thể dục dụng cụ;
Tập luyện, thi đấu Thể dục nhào lộn (trên mặt lưới có lò xo);
Tập luyện, thi đấu Đua thuyền.
Danh mục hoạt động thể thao mạo hiểm bao gồm:
Tập luyện, thi đấu Dù lượn có động cơ
Tập luyện, thi đấu Dù lượn không động cơ
Tập luyện, thi đấu Diều bay có động cơ
Tập luyện, thi đấu Diều bay không động cơ
Tập luyện, thi đấu Leo núi tự nhiên
Tập luyện, thi đấu Lặn biển thể thao giải trí
Tập luyện, thi đấu Mô tô nước trên biển
Tập luyện, thi đấu Ô tô thể thao địa hình
Tập luyện, thi đấu Mô tô thể thao
Tập luyện, thi đấu Xe đạp địa hình.
Khi doanh nghiệp kinh doanh hoạt động thể thao phải đối chiếu với danh mục ban hành kèm Thông tư này để xác định hoạt động thể thao bắt buộc có người hướng dẫn tập luyện hoặc hoạt động thể thao mạo hiểm hay không? Mỗi danh mục sẽ có những điều kiện nhất định cần phải đáp ứng, các điều kiện cụ thể được quy định tại Nghị định số 36/2019/NĐ-CP.
Căn cứ Thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động và Thương binh xã hội, Luật bảo hiểm xã hội 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành, chế độ thai sản đối với lao động nam từ ngày 01/7/2019 được thực hiện như sau:
Theo Điều 34, Luật Bảo hiểm xã hội 2014 quy định về nghỉ việc hưởng chế độ thai sản đối với lao động nam đang đóng bảo hiểm xã hội khi vợ sinh con, như sau:
Đối với lao động nam đang đóng BHXH có vợ sinh con thì trong vòng 30 ngày đầu kể từ ngày sinh được nghỉ:
05 ngày làm việc nếu vợ sinh thường;
07 ngày làm việc khi vợ sinh con phải phẫu thuật, sinh con dưới 32 tuần tuổi;
10 ngày làm việc trong trường hợp vợ sinh đôi, từ sinh ba trở lên thì cứ thêm mỗi con được nghỉ thêm 03 ngày làm việc;
14 ngày làm việc trong trường hợp vợ sinh đôi trở lên mà phải phẫu thuật.
Đối với trường hợp chỉ có cha tham gia BHXH mà mẹ chết sau khi sinh con hoặc gặp rủi ro sau khi sinh mà không còn đủ sức khỏe để chăm sóc con theo xác nhận của cơ sở y tế có thẩm quyền thì:
Cha được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi.
Trường hợp chỉ có mẹ tham gia BHXH hoặc cả cha và mẹ đều tham gia BHXH mà mẹ chết sau khi sinh con thì cha được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản đối với thời gian còn lại của người mẹ. Nếu mẹ tham gia BHXH nhưng không đủ điều kiện hưởng và mẹ chết sau sinh thì cha được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi.
Quy định về nghỉ việc hưởng chế độ thai sản đối với nam giới có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2019 có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo các quyền lợi của người lao động không những trên khía cạnh pháp lý, mà còn là sự thể hiện quan tâm của nhà nước đến đời sống của nhân dân.
Ngày 05/07/2019, Bộ Văn hóa thể thao và du lịch đã ban hành Thông tư số 02/2019/TT-BVHTTDL quy định quy trình giám định tư pháp về quyền tác giả và quyền liên quan. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 01/09/2019.
Giám định tư pháp về quyền tác giả, quyền liên quan là một trong các hoạt động của giám định tư pháp. Theo quy định của Luật Giám định tư pháp 2012 giám định tư pháp là việc người giám định tư pháp sử dụng kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ để kết luận về chuyên môn những vấn đề có liên quan đến hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự, giải quyết vụ việc dân sự, vụ án hành chính theo trưng cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng hoặc theo yêu cầu của người yêu cầu giám định theo quy định của Luật Giám định tư pháp.
Theo đó, Thông tư số 02/2019/TT-BVHTTDL hướng dẫn hoạt động Giám định tư pháp về quyền tác giả, quyền liên quan được thực hiện theo quy trình như sau:
Bước 01. Tiếp nhận yêu cầu, trưng cầu giám định;
Bước 02. Chuẩn bị thực hiện giám định;
Bước 03. Thực hiện giám định;
Bước 04. Kết luận giám định;
Bước 05. Bàn giao kết luận giám định;
Bước 05. Lập hồ sơ, lưu giữ hồ sơ giám định.
Việc bổ sung quy trình giám định về quyền tác giả, quyền liên quan góp phần giúp người giám định, tổ chức giám định thực hiện các hoạt động động của giám định tư pháp về quyền tác giả, quyền liên quan nhanh chóng, hiệu quả.
Ngày 11/4/2019, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 21/2019/TT-BTC hướng dẫn việc bán Cổ phần lần đầu và chuyển nhượng vốn Nhà nước theo phương thức dựng sổ. Thông tư này có hiệu lực thi hành 03/06/2019.
Theo đó tại Điều 24 thông tư này quy định việc mua cổ phần nhà nước phải tiến hành đặt cọc từ 10% đến 20%, cụ thể:
Nhà đầu tư công chúng có trách nhiệm nộp tiền đặt cọc bằng 10% giá trị cổ phần đặt mua tính theo giá mở sổ;
Nhà đầu tư chiến lược có trách nhiệm nộp tiền đặt cọc, ký quỹ hoặc có bảo lãnh của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài với giá trị bằng 20% giá trị cổ phần đăng ký mua, tính theo giá khởi điểm trong phương án cổ phần hóa.
Việc thanh toán tiền mua cổ phần được thực hiện theo khoản 2 Điều này như sau:
Trong thời hạn mười (10) ngày kể từ ngày công bố kết quả dựng sổ, các nhà đầu tư hoàn tất việc mua bán cổ phần và chuyển tiền mua cổ phần vào tài khoản nhận tiền mua cổ phần theo Quy chế bán cổ phần theo phương thức dựng sổ;
Tiền đặt cọc được trừ vào tổng số tiền phải thanh toán mua cổ phần. Trường hợp số tiền đặt cọc lớn hơn số tiền phải thanh toán, nhà đầu tư được hoàn trả lại phần chênh lệch trong thời gian ba (03) ngày làm việc kể từ ngày kết thúc thời hạn nhà đầu tư thanh toán tiền mua cổ phần;
Nếu quá thời hạn thanh toán tiền mua cổ phần nêu trên mà nhà đầu tư không nộp hoặc nộp không đủ so với số tiền phải thanh toán mua cổ phần, nhà đầu tư không được hoàn trả số tiền đặt cọc tương ứng với số cổ phần không thanh toán hoặc bị phạt số tiền tương đương khoản giá trị đặt cọc trong trường hợp sử dụng hình thức ký quỹ, bảo lãnh. Số cổ phần chưa thanh toán được coi là số cổ phần không bán hết và được xử lý theo quy định.
Việc ban hành Thông tư số 21/2019/TT-BTC nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi tối đa cho các doanh nghiệp, tránh tình trạng các cá nhân, tổ chức đăng ký mua cổ phần nhưng đến thời hạn thanh toán lại không nộp hoặc không nộp đủ, dẫn tới ảnh hưởng đến việc huy động vốn của doanh nghiệp.
Theo đó, Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP đã thay thế và bổ sung một số quy định chi tiết hơn so với Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP. Cụ thể như sau:
Thứ nhất, thời hạn án lệ được nghiên cứu và áp dụng. Tại Khoản 1 Điều 8 Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP quy định Án lệ được nghiên cứu, áp dụng trong xét xử sau 30 ngày kể từ ngày công bố thay vì 45 ngày như quy định tại Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP.
Thứ hai, hướng dẫn chi tiết và rõ ràng hơn về cách thức Tòa án áp dụng án lệ để giải quyết vụ việc.
– Số, tên án lệ, tình huống pháp lý, giải pháp pháp lý trong án lệ và tình huống pháp lý của vụ việc đang được giải quyết phải được viện dẫn, phân tích trong phần “Nhận định của Tòa án. Trong khi đó, Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP chỉ quy định là phải được viện dẫn, phân tích, làm rõ trong bản án, quyết định của Toà án mà không quy định cụ thể nên quy định ở đâu.
– Tùy từng trường hợp cụ thể có thể trích dẫn toàn bộ hoặc một phần nội dung của án lệ để làm rõ quan điểm của Tòa án trong việc xét xử, giải quyết vụ việc tương tự. Trong khi đó, Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP không quy định về vấn đề này.
Qua những nội dung mới được phân tích nêu trên, Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP ra đời sẽ giúp các án lệ nhanh chóng đi vào thực tiễn áp dụng hơn nhằm đáp ứng nhu cầu cấp bách và ngày càng cao trong giải quyết vụ việc của hệ thống tư pháp. Ngoài ra, việc quy định chi tiết, cụ thể hơn của Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP còn giúp cho cơ quan tiến hành tố tụng nói riêng và các chủ thể có liên quan đến quá trình giải quyết vụ án nói chung tháo gỡ được nhiều các vướng mắc đang gặp phải trong quá trình áp dụng án lệ hiện nay, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động giải quyết vụ án. Đồng thời, xây dựng khung pháp lý cụ thể và rõ ràng giúp nâng cao, cải thiện tính hiệu quả và chuyên nghiệp trong lĩnh vực thủ tục tố tụng Việt Nam hiện nay.
Ngày 12/6/2019, Bộ Giao thông Vận tải ban hành Thông tư 22/2019/TT-BGTVT về quy định về đăng ký xe máy chuyên dùng.
Xe máy chuyên dùng gồm xe máy thi công, xe máy nông nghiệp, lâm nghiệp và các loại xe đặc chủng khác sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh có tham gia giao thông đường bộ. Theo đó, đối với các loại xe máy chuyên dùng chưa đăng ký, khi di chuyển trên đường bộ phải được đăng ký tạm thời và giấy này có thời hạn 20 ngày kể từ ngày cấp.
Thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận đăng ký tạm thời xe máy chuyên dùng được quy định như sau:
– Cơ quan tiến hành: Sở Giao thông Vận tải nơi chủ sở hữu có trụ sở chính hoặc đăng ký thường trú.
– Hồ sơ đăng ký gồm:
+ Tờ khai cấp Giấy chứng nhận đăng ký tạm thời xe máy chuyên dùng;
+ Bản sao có chứng thực hoặc bản sao và xuất trình bản chính để đối chiếu một trong những Giấy tờ xác định quyền sở hữu xe máy chuyên dùng;
+ Bản sao có chứng thực hoặc bản sao và xuất trình bản chínhđể đối chiếu một trong những Giấy tờ xác định nguồn gốc xe máy chuyên dùng;
– Trình tự thực hiện:
+ Bước 1: Chủ sở hữu xe máy chuyên dùng chuẩn bị 01 (một) bộ hồ sơ và nộp trực tiếp tại Sở Giao thông vận tải.
+ Bước 2: Trong thời gian tối đa 01 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ, Sở Giao thông vận tải tiếp nhận, kiểm tra nội dung hồ sơ và thông báo cho chủ sở hữu
Trường hợp hồ sơ đăng ký chưa đầy đủ theo quy định thì Sở Giao thông vận tải hướng dẫn chủ sở hữu bổ sung, hoàn thiện lại;
Trường hợp hồ sơ đăng ký đầy đủ theo quy định, trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở Giao thông vận tải cấp Giấy chứng nhận đăng ký tạm thời và vào sổ quản lý đăng ký xe máy chuyên dùng. Trường hợp không cấp phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Thông tư 22/2019/TT-BGTVT có hiệu lực từ ngày 01/8/2019. Theo đó, quy định về việc khi di chuyển trên đường bộ, xe máy chuyên dùng chưa đăng ký phải được đăng ký tạm thời góp phần tạo thuận lợi cho các cơ quan có thẩm quyền trong việc quản lý các loại xe máy chuyên dùng.
Ngày 21/5/2019, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 45/2019/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực du lịch. Nghị định có hiệu lực kể từ ngày 01/8/2019.
Theo đó, các tổ chức, cá nhân Việt Nam hoạt động du lịch trên lãnh thổ Việt Nam và ở nước ngoài; tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động du lịch trên lãnh thổ Việt Nam vi phạm các quy định về hoạt động kinh doanh du lịch, lữ hành sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định tại Chương II Nghị định này.
Đặc biệt, trường hợp các tổ chức, cá nhân hoạt động kinh doanh du lịch, lữ hành sẽ bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi bán không đúng giá hàng hóa, dịch vụ trong cơ sở lưu trú du lịch.
Bên cạnh đó, đối với các hành vi ứng xử không văn minh, không tôn trọng phong tục, tập quán, bản sắc văn hóa địa phương nơi đến du dịch sẽ bị xử phạt đến 3.000.000 đồng; hành vi gây phương hại đến hình ảnh truyền thống văn hóa dân tộc của Việt Nam có thể bị xử phạt đến 5.000.000 đồng.
Quy định mới của Chính phủ về hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch đã góp phần phổ biến, nêu cao tinh thần bảo vệ văn hóa, hình ảnh, bản sắc của dân tộc Việt Nam, thu hút, gia tăng thêm lượt khách du lịch trong nước và ngoài nước
Ngày 27/6/2019, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc vừa ký Quyết định số 23/2019/QĐ-TTg ban hành Danh mục hàng hóa nhập khẩu phải làm thủ tục hải quan tại cửa khẩu nhập. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày 01/9/2019 và thay thế Quyết định số 15/2017/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 12/5/2017.
Quyết định số 23/2019/QĐ-TTg có nội dung chính liên quan tới việc sửa đổi, bổ sung danh mục hàng hóa nhập khẩu phải làm thủ tục hải quan tại cửa khẩu nhập
Về cơ bản, danh mục hàng hóa nhập khẩu vẫn giữ nguyên một số mặt hàng như Quyết định 15/2017/QĐ-TTg. Tuy nhiên tên một số mặt hàng đã được sửa đổi cho phù hợp, cụ thể như: bia sản xuất từ malt, xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh nguyên chiếc có động cơ đốt trong kiểu piston có dung tích xi lanh trên 125cc; máy bay, du thuyền; điều hòa không khí có công suất từ 90.000 BTU trở xuống; giấy vàng mã…
Bên cạnh đó, Quyết định 23/2019/QĐ-TTg đã cắt giảm một số mặt hàng thuộc Danh mục hàng hóa nhập khẩu phải làm thủ tục hải quan tại cửa khẩu nhập như: vàng lá; hàng hóa phải kiểm dịch động vật, kiểm dịch thủy sản, kiểm dịch thực vật theo Danh mục do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn quy định; Phế liệu theo Danh mục do Thủ tướng Chính Phủ quy định.
Quyết định 23/2019/QĐ-TTg đã sửa đổi, bổ sung danh mục mặt hàng gồm: Hàng hóa nhập khẩu từ các quốc gia, vùng lãnh thổ có cảnh báo về nguy cơ dịch bệnh theo thông báo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn; Hàng hóa trong các vụ việc áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại và biện pháp chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại theo quyết định do Bộ trưởng Bộ Công Thương ban hành.
Ngoài nội dung trên, Quyết định 23/2019/QĐ-TTg còn sửa đổi, bổ sung một số nội dung về địa điểm làm thủ tục hải quan và cửa khẩu nhập để làm thủ tục hải quan
Quyết định 23/2019/QĐ-TTg được ban hành nhằm đảm bảo sự thống nhất quy định về cửa khẩu nhập, về địa điểm làm thủ tục hải quan giữa các văn bản quy phạm pháp luật. Việc điều chỉnh về danh mục hàng hóa cho phù hợp, tạo thuận lợi cho các hoạt động kinh doanh, sản xuất của doanh nghiệp, đồng thời, đảm bảo sự công bằng giữa các loại hình doanh nghiệp (doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) khi làm thủ tục hải quan đối với cùng loại hình, cùng chủng loại hàng hóa. Bên cạnh đó, việc điều chỉnh danh mục cũng nhằm tăng cường quản lý, kiểm soát việc nhập khẩu đối với các mặt hàng thuộc diện không khuyến khích nhập khẩu, các mặt hàng có độ rủi ro cao, dễ có khả năng gian lận thương mại, trốn thuế hoặc ảnh hưởng đến môi trường.