Ngày 24/5/2019 Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao đã ban hành Nghị quyết số 03/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng Điều 324 của BLHS về tội “Rửa tiền”. Nghị quyết này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 7-7.
Nghị quyết 03/2019/NQ-HĐTP làm rõ khái niệm “biết hay có cơ sở để biết là do người khác phạm tội mà có”. Bốn trường hợp được giải thích cụ thể, như: người phạm tội trực tiếp biết tiền, tài sản do người khác phạm tội mà có; biết qua các phương tiện thông tin đại chúng về tội phạm nguồn; bằng nhận thức thông thường và theo quy định của pháp luật phải biết được nguồn gốc tiền do phạm tội mà có.
Có 5 tình tiết lớn để định tội, gồm:
1- Hành vi tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào các giao dịch tài chính, ngân hàng (thực hiện, hỗ trợ thực hiện hoặc thông qua người khác để thực hiện, hỗ trợ thực hiện các hành vi nhằm che giấu nguồn gốc bất hợp pháp của tiền, tài sản do mình phạm tội mà có hoặc có cơ sở để biết là do người khác phạm tội mà có);
2- Hành vi tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào các giao dịch khác (thực hiện, hỗ trợ thực hiện hoặc thông qua người khác để thực hiện, hỗ trợ thực hiện các hành vi nhằm che giấu nguồn gốc bất hợp pháp của tiền, tài sản do mình phạm tội mà có hoặc có cơ sở để biết là do người khác phạm tội mà có);
3- Hành vi sử dụng tiền, tài sản do mình phạm tội mà có hoặc biết hay có cơ sở để biết là do người khác thực hiện hành vi phạm tội mà có vào việc tiến hành các hoạt động kinh doanh (dùng tiền, tài sản thực hiện một, một số hoặc tất cả công đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi);
4- Hành vi sử dụng tiền, tài sản do phạm tội mà có hoặc biết hay có cơ sở để biết là do người khác thực hiện hành vi phạm tội mà có vào việc tiến hành các hoạt động khác (dùng tiền, tài sản để làm dịch vụ, xây dựng trường học, bệnh viện hoặc sử dụng dưới danh nghĩa tài trợ, từ thiện, viện trợ nhân đạo hoặc các hoạt động khác);
5- Hành vi cản trở việc xác minh thông tin về nguồn gốc, bản chất tài sản (cố ý gây khó khăn, trở ngại cho việc làm rõ nguồn gốc, bản chất thực sự, vị trí, quá trình di chuyển hoặc quyền sở hữu đối với tiền, tài sản (ví dụ như cung cấp tài liệu, thông tin giả; không cung cấp, cung cấp không đầy đủ; hủy bỏ, tiêu hủy, sửa chữa, tẩy xóa tài liệu, chứng cứ…).
Nghị quyết số 03/2019/NQ-HĐTP thể hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự về tội rửa tiền có thể được tiến hành đồng thời với việc truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm nguồn và không loại trừ việc truy cứu trách nhiệm hình sự tội phạm nguồn.
Như vậy, Nghị quyết số 03/2019/NQ-HĐTP bổ sung nhiều nội dung và cụ thể hóa các tình tiết có tính chất định tính về tội “Rửa tiền” nhằm tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn áp dụng.
Ngày 24/5/2019, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 40/2019/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành luật bảo vệ môi trường. Thông tư có hiệu lực kể từ 01/7/2019.
Theo đó, chỉ có tổ chức, cá nhân có cơ sở sản xuất sử dụng phế liệu được phép nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất và phải đáp ứng các yêu cầu sau sau đây:
Đáp ứng yêu cầu và trách nhiệm về bảo vệ môi trường;
Có báo cáo đánh giá tác động môi trường được Bộ TN&MT phê duyệt, trong đó có nội dung sử dụng phế liệu nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất;
Được cấp giấy xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường hoặc giấy phép xử lý chất thải nguy hại;
Có giấy xác nhận đủ điều kiện về bảo vệ môi trường trong nhập khẩu phế liệu.
Bên cạnh đó, Nghị định quy định phế liệu nhập khẩu chỉ được phép dỡ xuống cảng khi:
Trường hợp nhận hàng trên Bản lược khai hàng hóa có giấy xác nhận đủ điều kiện môi trường trong nhập khẩu phế liệu còn hiệu lực và còn khối lượng phế liệu nhập khẩu;
Trường hợp nhận hàng trên E-Manifest có văn bản đã xác nhận ký quỹ bảo đảm phế liệu nhập khẩu.
Đồng thời, Nghị định đã bổ sung Danh mục các loiạ hình sản xuất công nghiệp có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, đưa ra các nội dung bổ sung, thay mới Danh mục dự án phải lập Báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc phải đăng ký kế hoạch bảo vệ môi trường; đưa ra lời kêu gọi, chú trọng hơn nữa đến hoạt động bảo vệ môi trường trong mọi hoạt động kinh tế của đất nước.
Ngày 26/6/2019, Chính phủ ban hành Nghị định số 57/2019/NĐ-CP quy định biểu thuế xuất khẩu ưu đãi, biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt để thực hiện hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương giai đoạn 2019-2022 có hiệu lực ngày 26/6/2019.
Theo đó, Nghị định số 57/2019/NĐ-CP có nội dung nổi bật như sau:
Nghị định ban hành Biểu thuế xuất khẩu ưu đãi để thực hiện Hiệp định CPTPP, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt để thực hiện Hiệp định CPTPP; Danh mục hàng hóa và thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt đối với xe ô tô đã qua sử dụng áp dụng hạn ngạch thuế quan để thực hiện Hiệp định CPTPP.
Thuế suất thuế xuất khẩu ưu đãi sẽ theo các giai đoạn khi xuất khẩu sang từng nước đối với từng mặt hàng.
Các mặt hàng không thuộc Biểu thuế xuất khẩu ưu đãi được áp dụng mức thuế suất 0% khi xuất khẩu sang lãnh thổ các nước Ô-xtơ-rây-lia; Ca-na-đa; Nhật Bản; Liên bang Mê-hi-cô; Niu Di-lân; Cộng hòa Xinh-ga-po.
Mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt, các mặt hàng áp dụng hạn ngạch thuế quan sẽ áp dụng theo các giai đoạn được nhập khẩu từ các nước quy định đối với từng mã hàng.
Như vậy, Nghị định số 57/2019/NĐ-CP đã quy định chi tiết về mã hàng, mô tả hàng hóa, mức thuế suất xuất khẩu, nhập khẩu khi Việt Nam thực hiện Hiệp định CPTPP giai đoạn 2019-2022.
Ngày 20/05/2019 Chính phủ đã ban hành Nghị định 44/2019/NĐ-CP về điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng. Theo đó, Nghị định này có hiệu lực từ ngày 01/07/2019.
Cụ thể, từ ngày 01/7/2019, tăng thêm 7,19% trên mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng của tháng 6 năm 2019 đối với các đối tượng sau:
Thứ nhất, cán bộ, công chức, công nhân, viên chức và người lao động (kể cả người có thời gian tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, người nghỉ hưu từ quỹ bảo hiểm xã hội nông dân Nghệ An chuyển sang theo Quyết định số41/2009/NĐ-TTg ngày 16 tháng 3 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ); quân nhân, công an nhân dân và người làm công tác cơ yếu đang hưởng lương hưu hàng tháng.
Thứ hai, Cán bộ xã, phường, thị trấn quy định tại Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2009, Nghị định số 121/2003/NĐ-CP ngày 21 tháng 10 năm 2003 và Nghị định số 09/1998/NĐ-CP ngày 23 tháng 01 năm 1998 của Chính phủ đang hưởng lương hưu, trợ cấp hàng tháng.
Thứ ba, Người đang hưởng trợ cấp mất sức lao động hàng tháng theo quy định của pháp luật; người đang hưởng trợ cấp hàng tháng theo Quyết định số 91/2000/QĐ-TTg ngày 04 tháng 8 năm 2000, Quyết định số 613/QĐ-TTg ngày 06 tháng 5 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ; công nhân cao su đang hưởng trợ cấp hàng tháng.
Thứ tư, Cán bộ xã, phường, thị trấn đang hưởng trợ cấp hàng tháng theo Quyết định số 130/CP ngày 20 tháng 6 năm 1975 của Hội đồng Chính phủ và Quyết định số 111-HĐBT ngày 13 tháng 10 năm 1981 của Hội đồng Bộ trưởng.
Thứ năm, Quân nhân đang hưởng chế độ trợ cấp hàng tháng theo Quyết định số 142/2008/QĐ-TTg ngày 27 tháng 10 năm 2008, Quyết định số 38/2010/QĐ-TTg ngày 06 tháng 5 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ.
Thứ sau, Công an nhân dân đang hưởng trợ cấp hàng tháng theo Quyết định số 53/2010/QĐ-TTg ngày 20 tháng 8 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ.
Thứ bảy, Quân nhân, công an nhân dân, người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân, công an nhân dân đang hưởng trợ cấp hàng tháng theo Quyết định số 62/2011/QĐ-TTg ngày 09 tháng 11 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ.
Thứ tám, Người đang hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hàng tháng.
Tóm lại, việc ban hành Nghị định 44/2019/NĐ-CP đã cho thấy sự quan tâm của Nhà nước với các đối tượng trong diện được hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng, cũng như sự nỗ lực trong việc nâng cao phúc lợi và an sinh xã hội.
Ngày 13/6/2019, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khóa 14 kỳ họp thứ 7 đã thông qua Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14. Luật này có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2020.
Theo đó, Luật Quản lý thuế năm 2019 có một số điểm mới nổi bật đáng chú ý liên quan đến việc mở rộng quyền của người nộp thuế, cụ thể tại Điều 16 bên cạnh các quyền như Luật cũ, nhiều quyền mới được bổ sung nhằm đảm bảo quyền lợi của người nộp thuế như:
– Được nhận văn bản liên quan đến nghĩa vụ thuế của các cơ quan chức năng khi tiến hành thanh tra, kiểm tra, kiểm toán.
– Được biết thời hạn giải quyết hoàn thuế, số tiền thuế không được hoàn và căn cứ pháp lý đối với số tiền thuế không được hoàn.
– Được tra cứu, xem, in toàn bộ chứng từ điện tử mà mình đã gửi đến cổng thông tin điện tử của cơ quan quản lý thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế và pháp luật về giao dịch điện tử.
– Được sử dụng chứng từ điện tử trong giao dịch với cơ quan quản lý thuế và cơ quan, tổ chức có liên quan.
– Không bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế, không tính tiền chậm nộp đối với trường hợp do người nộp thuế thực hiện theo văn bản hướng dẫn và quyết định xử lý của cơ quan thuế, cơ quan nhà nước có thẩm quyền liên quan đến nội dung xác định nghĩa vụ thuế của người nộp thuế.
Luật Quản lý thuế năm 2019 được ban hành nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập của Luật Quản lý thuế hiện hành; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, xây dựng cơ chế quản lý giám sát thuế hiện đại có hỗ trợ của công nghệ thông tin, có sự phối hợp của các trung gian thuế (đặc biệt là đại lý thuế); đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ, công khai, minh bạch, đơn giản, dễ thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả, hiệu lực trong công tác quản lý thuế. Đồng thời tạo hành lang pháp lý cho việc áp dụng rộng rãi và phổ biến quản lý thuế điện tử nhằm phục vụ nâng cao hiệu quả quản lý, tạo thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân doanh nghiệp phát triển hoạt động kinh tế và góp phần thực hiện các mục tiêu trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong bối cảnh Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới.
Ngày 24/6/2019, Chính phủ ban hành Nghị định 55/2019/NĐ-CP về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 16/08/2019.
Theo đó, các doanh nghiệp nhỏ và vừa được hỗ trợ chi phí tư vấn pháp luật với các mức như sau:
Doanh nghiệp siêu nhỏ được hỗ trợ 100% chi phí tư vấn pháp luật theo văn bản thỏa thuận cung cấp dịch vụ tư vấn pháp luật giữa tư vấn viên pháp luật và doanh nghiệp, nhưng không quá 03 triệu đồng/năm;
Doanh nghiệp nhỏ được hỗ trợ tối đa 30% chi phí tư vấn pháp luật theo văn bản thỏa thuận cung cấp dịch vụ tư vấn pháp luật giữa tư vấn viên pháp luật và doanh nghiệp, nhưng không quá 05 triệu đồng/năm;
Doanh nghiệp vừa được hỗ trợ tối đa 10% chi phí tư vấn pháp luật theo văn bản thỏa thuận cung cấp dịch vụ tư vấn pháp luật giữa tư vấn viên pháp luật và doanh nghiệp, nhưng không quá 10 triệu đồng/năm;
Hộ kinh doanh chuyển đổi sang doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo, doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị được hỗ trợ chi phí tư vấn pháp luật theo quy định tại Chương IV của Nghị định số 39/2018/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa hoặc văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế Nghị định này.
Trường hợp được bộ, cơ quan ngang bộ có thẩm quyền đồng ý hỗ trợ thì doanh nghiệp nhỏ và vừa gửi hồ sơ đề nghị thanh toán chi phí tư vấn pháp luật vụ việc, vướng mắc được hỗ trợ. Hồ sơ thanh toán bao gồm:
Văn bản tư vấn pháp luật, gồm 01 bản đầy đủ và 01 bản đã loại bỏ các thông tin về bí mật kinh doanh của doanh nghiệp;
Văn bản đề nghị thanh toán chi phí tư vấn pháp luật có xác nhận của tư vấn viên và doanh nghiệp, trong đó có viện dẫn số và ngày của văn bản đồng ý hỗ trợ, tên người thụ hưởng và số tài khoản, ngân hàng của người thụ hưởng;
Hóa đơn tài chính.
Nghị định 55/2019/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 16/8/2019. Theo đó, chính sách hỗ trợ pháp lý nêu trên góp phần giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa nâng cao hiểu biết, ý thức và thói quen tuân thủ pháp luật, hạn chế rủi ro, vướng mắc pháp lý trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật.
Ngày 13/5/2019, Chính phủ ban hành Nghị định số 40/2019/NĐ-CP quy định sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành luật bảo vệ môi trường có hiệu lực ngày 01/07/2019.
Theo đó, Nghị định số 40/2019/NĐ-CP có nội dung nổi bật quy định về thực hiện quan trắc môi trường định kỳ của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và khu công nghiệp như sau:
Đối tượng phải quan trắc nước thải định kỳ bao gồm:
Các cơ sở, khu công nghiệp và dự án đã đi vào vận hành có quy mô, công suất tương đương với đối tượng phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường và có tổng khối lượng nước thải thải ra môi trường;
Các cơ sở, dự án đã đi vào hoạt động, có quy mô công suất tương đương với đối tượng phải đăng ký kế hoạch bảo vệ môi trường và có tổng khối lượng nước thải thải ra môi trường;
Các cơ sở nêu trên đấu nối nước thải vào hệ thống xử lý nước thải tập trung của khu công nghiệp thực hiện quan trắc nước thải định kỳ theo quy định của chủ đầu tư xây dựng và kinh doanh cơ sở hạ tầng khu công nghiệp.
Đối tượng phải quan trắc khí thải định kỳ bao gồm:
Các cơ sở, khu công nghiệp và dự án đã đi vào vận hành có quy mô, công suất tương đương với đối tượng phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường và có tổng khối lượng nước thải thải ra môi trường;
Các cơ sở, dự án đã đi vào hoạt động, có quy mô công suất tương đương với đối tượng phải đăng ký kế hoạch bảo vệ môi trường và có tổng khối lượng nước thải thải ra môi trường.
Đối tượng phải phân định bùn thải, chất thải rắn có chứa thành phần nguy hại loại một sao để quản lý theo quy định về quản lý chất thải nguy hại.
Như vậy, Nghị định số 40/2019/NĐ-CP đã quy định chi tiết về các đối tượng phải thực hiện quan trắc môi trường định kỳ, đảm bảo sự tuân thủ pháp luật của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và khu công nghiệp nhằm mục tiêu phát triển kinh tế một cách bền vững.
Ngày 07/06/2019, Chính phủ ban hành Nghị định số 50/2019/NĐ-CP quy định về việc cấp chứng chỉ hành nghề đối với người hành nghề khám bênh, chưa bệnh và cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong quân đội, Nghị định số 50/2019/NĐ-CP có hiệu lực từ 24/7/2019
Theo đó, Nghị định số 50/2019/NĐ-CP quy định về việc cấp chứng chỉ hành nghề đối với người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh như sau:
Việc cấp chứng chỉ hành nghề áp dụng đối với các trường hợp: Cấp lần đầu chứng chỉ hành nghề; cấp điều chỉnh chứng chỉ hành nghề; cấp lại chứng chỉ hành nghề. Việc cấp lại chứng chỉ hành nghề áp dụng đối với trường hợp: Chứng chỉ hành nghề bị mất hoặc hư hỏng; đủ điều kiện cấp lại chứng chỉ hành nghề đã bị thu hồi theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Luật khám bệnh, chữa bệnh;
Việc cấp điều chỉnh chứng chỉ hành nghề áp dụng đối với trường hợp: Bổ sung phạm vi hoạt động chuyên môn trong chứng chỉ hành nghề; bổ sung kỹ thuật chuyên môn trong chứng chỉ hành nghề; thay đổi phạm vi hoạt động chuyên môn trong chứng chỉ hành nghề; thay đổi thông tin cá nhân và văn bằng chứng chỉ trong chứng chỉ hành nghề.
Mỗi người hành nghề chỉ được cấp một chứng chỉ hành nghề có giá trị sử dụng trên phạm vi toàn quốc.
Chứng chỉ hành nghề của sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, công chức, viên chức quốc phòng trong biên chế theo quy định của Bộ Quốc phòng do cá nhân tự quản lý; chứng chỉ hành nghề của lao động hợp đồng do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh quản lý.
Một người hành nghề chỉ được phụ trách một khoa của một cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
Nghị định quy định rõ nguyên tắc đăng ký hành nghề. Cụ thể, một người hành nghề chỉ được đăng ký chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của một cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc Bộ Quốc phòng.
Một người hành nghề chỉ được phụ trách một khoa của một cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc Bộ Quốc phòng, không được đồng thời phụ trách từ hai khoa trở lên trong cùng một cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc đồng thời làm phụ trách khoa của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác thuộc Bộ Quốc phòng.
Người hành nghề chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc Bộ Quốc phòng có thể kiêm nhiệm phụ trách một khoa trong cùng một cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và phải phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn trong chứng chỉ hành nghề đã được cấp.
Người hành nghề tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc Bộ Quốc phòng được đăng ký hành nghề ngoài giờ và làm người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của một cơ sở khám bệnh, chữa bệnh ngoài giờ không thuộc Bộ Quốc phòng.
Người hành nghề được đăng ký hành nghề tại một hoặc nhiều cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không thuộc Bộ Quốc phòng nhưng không được đăng ký hành nghề cùng một thời gian tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác nhau và tổng thời gian làm ngoài giờ thực hiện theo quy định của Bộ luật lao động. Người hành nghề phải bảo đảm hợp lý về thời gian đi lại giữa các địa điểm hành nghề đã đăng ký.
Người hành nghề tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc Bộ Quốc phòng không được đăng ký là người đứng đầu của bệnh viện tư nhân hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được thành lập và hoạt động theo Luật doanh nghiệp, Luật hợp tác xã.
Như vậy, Nghị định số 50/2019/NĐ-CP có những quy định rất chặt chẽ về nguyên tắc đăng ký hành nghề của Người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh. Quy định này tạo một hành lang pháp lý vứng chắc đảm bảo hoạt động đăng ký hành nghề có hiệu quả và thiết thực trên thực tiễn.
Ngày 24/06/2019, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 56/2019/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành một số điều liên quan đến lĩnh vực giao thông vận tải trong luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 37 luật có liên quan đến quy hoạch. Nghị định này có hiệu lực từ ngày 24/06/2019.
Một số nội dung đáng chú ý trong nghị định:
Quy định chi tiết về việc lập, thẩm định, phê duyệt, công bố, thực hiện, đánh giá và điều chỉnh các quy hoạch có tính chất kỹ thuật, chuyên ngành được quy định tại khoản 2 Điều 1, khoản 6 Điều 2, khoản 10 Điều 2, khoản 2 Điều 3 của Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của 37 luật có liên quan đến quy hoạch.
Nghị định áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia lập, thẩm định, phê duyệt, công bố, tổ chức thực hiện, đánh giá và điều chỉnh liên quan đến quy hoạch có tính chất kỹ thuật, chuyên ngành trong lĩnh vực giao thông vận tải.
Việc lấy ý kiến của các bộ, ngành, UBND cấp tỉnh và các tổ chức có liên quan về quy hoạch được thực hiện như sau: cơ quan tổ chức lập quy hoạch gửi hồ sơ lấy ý kiến về quy hoạch gồm báo cáo quy hoạch, bản đồ thể hiện nội dung quy hoạch; các cơ quan được hỏi ý kiến có trách nhiệm trả lời bằng văn bản trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được hồ sơ lấy ý kiến về quy hoạch; cơ quan lập quy hoạch tổng hợp ý kiến và giải trình, tiếp thu ý kiến, báo cáo cơ quan tổ chức lập quy hoạch xem xét trước khi trình thẩm định quy hoạch.
Các quy hoạch về giao thông vận tải đã được phê duyệt có phạm vi, quy mô tương đương các quy hoạch có tính chất kỹ thuật, chuyên ngành theo quy định của Nghị định này được thực hiện, điều chỉnh cho đến khi các quy hoạch có tính chất kỹ thuật, chuyên ngành được lập, thẩm định, phê duyệt theo quy định tại Nghị định này. Các quy hoạch giao thông vận tải có tính chất kỹ thuật, chuyên ngành được lập, thẩm định, phê duyệt theo quy định của Nghị định này.
Tóm lại, việc ban hành Nghị định số 56/2019/NĐ-CP có ý nghĩa trong việc đảm bảo sự phát triển có định hướng trong lĩnh vực giao thông vận tải, đóng góp vào công cuộc phát triển kinh tế xã hội