Nhiều ngân hàng tăng mạnh lãi suất huy động
Với mong muốn bổ sung thêm nguồn vốn trung, dài hạn để phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh cuối năm, đồng thời giảm...
Bùng nổ nhượng quyền thương hiệu vào Việt Nam
Hoạt động nhượng quyền đang được giới kinh doanh vận dụng để đưa các thương hiệu nước ngoài vào thị trường Việt Nam. Ngoài lĩnh...
6 ngành kinh tế phát triển mũi nhọn khu vực miền Trung
Có 6 lĩnh vực kinh tế biển, ven biển đang được các tỉnh miền Trung tập trung phát triển và đã đạt được những kết...
91.9% doanh nghiệp lạc quan về hoạt động sản xuất 6 tháng cuối năm
Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có tỷ lệ doanh nghiệp dự báo về khối lượng sản xuất khả...
Việt Nam chuyển dần từ nhập siêu sang xuất siêu với CPTPP
Với hầu hết các hiệp định thương mại (FTA) đã ký, Việt Nam thường nhập siêu, thì nay, khi thực hiện CPTTP, trong 7 tháng...
Giải đáp pháp luật
03 trường hợp buộc chấm dứt tư cách thành viên giao dịch công cụ nợ
Trả lời

Ngày 28/5/2019, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 30/2019/TT-BTC hướng dẫn đăng ký, lưu ký, niêm yết, giao dịch và thanh toán giao dịch công cụ nợ của Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh do Ngân hàng chính sách phát hành và trái phiếu chính quyền địa phương. Thông tư có hiệu lực kể từ ngày 15/7/2019.
Theo đó, thành viên giao dịch buộc chấm dứt tư cách thành viên nếu thuộc trong các trường hợp sau đây:
Không còn đáp ứng đủ tiêu chuẩn làm thành viên giao dịch theo quy định của pháp luật;
Vi phạm nghiêm trọng hoặc vi phạm mang tính hệ thống các quy định về thành viên giao dịch công cụ nợ theo quy định của Sở Giao dịch Chứng khoán;
Giải thể, phá sản, tạm ngừng hoạt động hoặc bị thu hồi Giấy phéo thành lập và hoạt động; tổ chức bị chấm dứt tồn tại sau khi hợp nhất, sáp nhập, chia; tổ chức hình thành sau khi sáp nhập, tách nhưng không đáp ứng tiêu chuẩn làm thành viên giao dịch theo quy định của pháp luật…
Bên cạnh đó, thành viên giao dịch cũng có thể tự nguyện xin chấm dứt tư cách thành viên và Được Sở Giao dịch chứng khoán chấp nhận.
Thông tư đã thay thế các văn bản gồm: Thông tư số 234/2012/TT-BTC ngày 28/12/2012l Thông tư số 10/2017/TT-BTC ngày 06 tháng 02 năm 2017; Thông tư số 46/2017/TT-BTC ngày 12 tháng 5 năm 2017.

Các điều kiện có làm mở đại lý kinh doanh xổ số tự chọn số điện toán
Trả lời

Ngày 17/06/2019, Bộ Tài Chính ban hành Thông tư 36/2019/TT-BTC hướng dẫn hoạt động kinh doanh xổ số tự chọn số điện toán. Theo đó, Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 01/08/2019.
Căn cứ theo Điều 12 Nghị định 30/2017/NĐ-CP ngày 1/3/2007, để làm đại lý xổ số, các tổ chức, cá nhân phải đảm bảo các điều kiện sau:
Là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; nếu là tổ chức phải là tổ chức kinh tế được thành lập và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam;
Có hình thức bảo đảm thanh toán theo quy định tại Điều 13 Nghị định này để bảo đảm nghĩa vụ thanh toán đối với doanh nghiệp kinh doanh xổ số.
Ngoài ra, các tổ chức, cá nhân sau đây không được làm đại lý xổ số tự chọn số điện toán:
Cán bộ, nhân viên làm việc tại các tổ chức cùng tham gia vận hành hệ thống xổ số tự chọn số điện toán với công ty xổ số điện toán (nếu có);
Vợ hoặc chồng, cha, cha nuôi, mẹ, mẹ nuôi, con, con nuôi, anh, chị, em ruột, anh, chị, em nuôi của các cá nhân giữ chức danh từ cấp phó các phòng, ban nghiệp vụ trở lên của các tổ chức cùng tham gia vận hành hệ thống xổ số tự chọn số điện toán với công ty xổ số điện toán (nếu có);
Tổ chức kinh tế có vốn góp của vợ hoặc chồng, cha, cha nuôi, mẹ, mẹ nuôi, con, con nuôi, anh, chị, em ruột, anh, chị, em nuôi của các cá nhân giữ chức danh từ cấp phó các phòng, ban nghiệp vụ trở lên của các tổ chức cùng tham gia vận hành hệ thống xổ số tự chọn số điện toán với công ty xổ số điện toán (nếu có);
Đồng thời, phải đáp ứng các tiêu chuẩn sau đây:
Có địa điểm kinh doanh ổn định, đủ diện tích mặt bằng, cơ sở vật chất và các điều kiện cần thiết khác để lắp đặt hệ thống bán vé xổ số tự chọn số điện toán;
Có nhân viên đủ tiêu chuẩn vận hành thành thạo hệ thống bán vé xổ số tự chọn số điện toán được công ty xổ số điện toán xác nhận hoặc cấp chứng chỉ;
Có văn bản cam kết tuân thủ đầy đủ các quy định của công ty xổ số điện toán khi trở thành đại lý xổ số tự chọn số điện toán.
Tóm lại, Thông tư 36/2019/TT-BTC của Bộ Tài chính sẽ là một hành lang pháp lý chặt chẽ để các cá nhân, tổ chức có ý định hoạt động trong lĩnh vực này được hiểu rõ hơn ngành nghề và các điều kiện để kinh doanh, đảm bảo tuân thủ đúng pháp luật và có cơ hội tìm kiếm lợi nhuận ở lĩnh vực trong tương lai sẽ phát triển nhiều hơn.

Quy định về kinh doanh dịch vụ karaoke, dịch vụ vũ trường
Trả lời

Ngày 19/06/2019, Chính phủ đã ban hành Nghị định 54/2019/NĐ-CP quy định về kinh doanh dịch vụ karaoke, dịch vụ vũ trường có hiệu lực từ ngày 1/9/2019.
Nghị định này đã quy định về các điều kiện và trách nhiệm của cơ sở kinh doanh dịch vụ karaoke, dịch vụ vũ trường. Đối tượng thực hiện hoạt động kinh doanh phải là doanh nghiệp hoặc hộ kinh doanh được thành lập hợp pháp theo quy định pháp luật. Những điều kiện về cơ sở vật chất được pháp luật quy định chặt chẽ, đối với kinh doanh dịch vụ karaoke phòng hát phải có diện tích sử dụng từ 20 m2 trở lên, không kể công trình phụ; đối với kinh doanh dịch vụ vũ trường phòng vũ trường phải có diện tích sử dụng từ 80 m2 trở lên không kể công trình phụ. Cơ sở kinh doanh phải bảo đảm các điều kiện về phòng, chống cháy nổ và an ninh, trật tự. Đặc biệt, tại Nghị định này đã bổ sung một quy định rất mới đối với cơ sở kinh doanh của hai loại hình này đó là “Không được đặt chốt cửa bên trong phòng vũ trường/ phòng hát hoặc đặt thiết bị báo động (trừ các thiết bị báo cháy nổ)”. Ngoài ra vì tính chất phức tạp của cơ sở kinh doanh dịch vụ vũ trường nên địa điểm đặt cơ sở phải cách trường học, bệnh viện, cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng, di tích lịch sử – văn hóa từ 200 m trở lên. Đối với những loại hình có yếu tố nhạy cảm và phức tạp như karaoke và vũ trường cần có những quy định về điều kiện kinh doanh chặt chẽ hơn, siết chặt hơn các hoạt động của các cơ sở này nhằm đảm bảo an toàn, trật tự xã hội.
Các doanh nghiệp, hộ kinh doanh khi kinh doanh dịch vụ karaoke phải có trách nhiệm bảo đảm hình ảnh phù hợp lời bài hát thể hiện trên màn hình (hoặc hình thức tương tự) và văn hóa, đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc Việt Nam. Đặc biệt thời gian hoạt động phải trước 0h và không được hoạt động từ 0 giờ sáng đến 08 giờ sáng. Cơ sở kinh doanh dịch vụ vũ trường không được hoạt động từ 2h sáng đến 8h sáng và không cung cấp dịch vụ cho người chưa đủ 18 tuổi. Như vậy, so với quy định pháp luật hiện hành thì quy định mới đã không còn ngoại lệ về việc cho phép vũ trường, phòng karaoke trong các cơ sở lưu trú du lịch được xếp hạng từ 4 sao trở lên hoặc hạng cao cấp được hoạt động sau 12 giờ đêm nhưng không quá 2 giờ sáng. Ngoài ra trong quá trình kinh doanh, doanh nghiệp hoặc hộ kinh doanh phải đảm bảo tuân thủ chấp hành các quy định về cách âm và âm thanh phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tiếng ồn; quy định về kinh doanh rượu (nếu có); quy định của pháp luật về phòng, chống tác hại của thuốc lá; tuân thủ quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường; vệ sinh an toàn thực phẩm; bản quyền tác giả; hợp đồng lao động; an toàn lao động; bảo hiểm; phòng, chống tệ nạn xã hội và các quy định của pháp luật khác có liên quan.
Nghị định 54/2019/NĐ-CP được ban hành đã quản lý và kiểm soát hoạt động kinh doanh của hai loại hình này một cách chặt chẽ hơn, vừa đảm bảo đáp ứng được nhu cầu đời sống tinh thần của đa số người dân, vừa đảm bảo được trật tự an toàn xã hội.

Bản Tin Pháp Luật Số 21/2019
Trả lời

03 trường hợp buộc chấm dứt tư cách thành viên giao dịch công cụ nợ
Trả lời

Ngày 28/5/2019, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 30/2019/TT-BTC hướng dẫn đăng ký, lưu ký, niêm yết, giao dịch và thanh toán giao dịch công cụ nợ của Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh do Ngân hàng chính sách phát hành và trái phiếu chính quyền địa phương. Thông tư có hiệu lực kể từ ngày 15/7/2019.
Theo đó, thành viên giao dịch buộc chấm dứt tư cách thành viên nếu thuộc trong các trường hợp sau đây:
Không còn đáp ứng đủ tiêu chuẩn làm thành viên giao dịch theo quy định của pháp luật;
Vi phạm nghiêm trọng hoặc vi phạm mang tính hệ thống các quy định về thành viên giao dịch công cụ nợ theo quy định của Sở Giao dịch Chứng khoán;
Giải thể, phá sản, tạm ngừng hoạt động hoặc bị thu hồi Giấy phéo thành lập và hoạt động; tổ chức bị chấm dứt tồn tại sau khi hợp nhất, sáp nhập, chia; tổ chức hình thành sau khi sáp nhập, tách nhưng không đáp ứng tiêu chuẩn làm thành viên giao dịch theo quy định của pháp luật…
Bên cạnh đó, thành viên giao dịch cũng có thể tự nguyện xin chấm dứt tư cách thành viên và Được Sở Giao dịch chứng khoán chấp nhận.
Thông tư đã thay thế các văn bản gồm: Thông tư số 234/2012/TT-BTC ngày 28/12/2012l Thông tư số 10/2017/TT-BTC ngày 06 tháng 02 năm 2017; Thông tư số 46/2017/TT-BTC ngày 12 tháng 5 năm 2017.

Báo cáo nghiên cứu khả thi dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư theo lĩnh vực giao thông vận tải
Trả lời

Ngày 13/06/2019, Quốc hội đã thông qua Luật quản lý thuế sửa đổi năm 2019 và sẽ chính thức có hiệu lực từ ngày 01/07/2020.
Theo đó, Luật quản lý thuế sửa đổi năm 2019 có một vài điểm mới nổi bật ảnh hưởng tới hoạt động quản lý thuế của các cơ quan thuế Việt Nam trong thời gian tới, cụ thể như sau:
Quy định về quản lý thuế đối với hoạt động thương mại điện tử.
Trong xu thế các hoạt động kinh doanh thương mại điện tử phát triển ngày càng rộng rãi, các ứng dụng kinh doanh online ngày càng phổ biến trong đời sống học tập, làm việc của người dân thì việc xây dựng, ban hành các quy định về quản lý thuế trong lĩnh vực này là hoạt động hết sức cần thiết.
Mặc dù các quy định tại Dự thảo luật quản lý thuế sửa đổi mới chỉ là những quy định mang tính chất định hướng, tuy nhiên, nó đóng vai trò là nền tảng, là cơ sở để các bộ, ngành liên quan ban hành các quy định chi tiết công tác quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh thương mại điện tử
Kéo dài thời hạn quyết toán thuế thu nhập cá nhân
Theo quy định hiện hành tại Khoản 2 Điều 32 Luật Quản lý thuế 2006, thời hạn nộp hồ sơ quyết toán thuế chậm nhất là ngày thứ 90 kể từ ngày kết thức năm dương lịch, hoặc năm tài chính đối với hồ sơ quyết toán năm. 
Tuy nhiên, Luật mới cho phép cá nhân được nộp hồ sơ quyết toán thuế trong thời hạn là 120 ngày kể từ ngày kết thúc năm dương lịch – kéo dài thêm 1 tháng so với thời hạn là 120 ngày kể từ ngày kết thúc năm dương lịch – kéo dài thêm 1 tháng so với thời hạn quyết toán của doanh nghiệp.
Quy định trách nhiệm cung cấp thông tin của ngân hàng thương mại
Để hoạt động quản lý thuế diễn ra hiệu quả, Luật quản lý thuế sửa đổi 2019 chính thức quy định Ngân hàng thương mại có trách nhiệm cung cấp nội dung giao dịch qua tài khoản, số dư tài khoản của người nộp thuế trong thời hạn mười (10) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu cung cấp thông tin của cơ quan quản lý thuế;
Như vậy, Luật quản lý thuế sửa đổi năm 2019 đã góp phần tạo thuận lợi cho việc thực hiện kê khai thuế của người nộp thuế, đồng thời mở rộng phạm vi quản lý thuế tới hoạt động thương mại điện tử và ấn định trách nhiệm cung cấp thông tin của ngân hàng thương mại nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động quản lý thuế diễn ra hiệu quả, nhất là trong bối cảnh kinh tế số, hội nhập quốc tế.

Giấy khai sinh gốc là căn cứ để hoàn thiện, bổ sung và thống nhất hồ sơ công chức
Trả lời

Ngày 01/6/2019, Bộ Nội vụ đã ban hành Thông tư 06/2019/TT-BNV về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2012/TT-BNV ngày 17 tháng 12 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ quy định về chế độ báo cáo thống kê và quản lý hồ sơ công chức.
Theo đó, Thông tư 06/2019/TT-BNV đã đưa ra một số thay đổi quan trọng như sau:
Trước đây, tại Thông tư 11/2012/TT-BNV quy định:
Nếu thông tin công chức trong các thành phần hồ sơ không thống nhất thì căn cứ giấy khai sinh gốc, sổ hộ khẩu, sổ bảo hiểm và hồ sơ Đảng viên (nếu công chức là đảng viên) để hoàn thiện, bổ sung và thống nhất với giấy khai sinh gốc.
Trường hợp các thông tin trong hồ sơ của công chức (ngày, tháng, năm sinh, họ, tên, tên đệm) không thống nhất giữa các thành phần hồ sơ thì căn cứ vào hồ sơ gốc lập lần đầu khi công chức được tuyển dụng vào cơ quan, tổ chức, đơn vị của nhà nước để xác định, kể cả thông tin trong hồ sơ đảng viên.
Từ ngày 15/7/2019, việc sửa chữa thông tin trong hồ sơ công chức được quy định cụ thể như sau:
Trường hợp các thành phần hồ sơ (quyển Lý lịch cán bộ, công chức, giấy khai sinh, sổ bảo hiểm xã hội, văn bằng, chứng chỉ) không thống nhất thì căn cứ giấy khai sinh gốc để hoàn thiện, bổ sung và thống nhất các thành phần hồ sơ khác theo giấy khai sinh này.
Nếu không có giấy khai sinh thì căn cứ quyển Lý lịch cán bộ, công chức được lập khi công chức được tuyển dụng lần đầu vào cơ quan, tổ chức, đơn vị của Nhà nước để thống nhất;
Đặc biệt không thực hiện sửa chữa, điều chỉnh ngày, tháng, năm sinh trong hồ sơ của công chức là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Lúc này, việc xác định ngày, tháng, năm sinh (tuổi) của công chức theo tuổi khai trong hồ sơ lý lịch đảng viên (hồ sơ gốc) khi được kết nạp vào Đảng.
Qua đây, có thể thấy rằng việc sửa chữa thông tin trong hồ sơ công chức được quy định rõ ràng và chi tiết hơn tại Thông tư 06/2019/TT-BNV. Theo đó, góp phần tháo gỡ các vướng mắc của cán bộ, công chức; cơ quan quản lý công chức trong trường hợp cần thực hiện việc sửa chữa các dữ liệu thông tin.

Bãi bỏ 06 văn bản lĩnh vực việc làm, an toàn vệ sinh – lao động
Trả lời

Ngày 24/05/2019 Bộ lao động – thương binh và xã hội ban hành Thông tư 09/2019/TT-BLĐTBXH bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật do Bộ trưởng Bộ lao động – thương binh và xã hội ban hành, liên tịch ban hành. Thông tư có hiệu lực vào ngày 01/08/2019.
Theo đó, Thông tư 09/2019/TT-BLĐTBXH bãi bỏ 06 văn bản về việc làm và an toàn – vệ sinh lao động sau đây:
(1) Thông tư 40/2009/TT-BLĐTBXH hướng dẫn cách tính số lao động sử dụng thường xuyên theo quy định tại Nghị định số 108/2006/NĐ-CP ngày 22/09/2006.
(2) Thông tư liên tịch 19/2005/TTLT-BLĐTBXH-BTC-BKHĐT hướng dẫn thi hành Nghị định 81/CP ngày 23/11/1995 và Nghị định số 116/2004/NĐ-CP ngày 23/4/2004.
(3) Thông tư 27/2013/TT-BLĐTBXH quy định về công tác huấn luyện an toàn lao động, vệ sinh lao động.
(4) Thông tư 06/2014/TT-BLĐTBXH quy định hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động đối với máy, thiết bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động.
(5) Thông tư 49/2015/TT-BLĐTBXH về việc ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn lao động đối với Hệ thống đường ống dẫn khí đốt cố định bằng kim loại.
(6) Thông tư liên tịch 01/2007/TTLT/BLĐTBXH-BCA-VKSNDTC về việc hướng dẫn phối hợp trong việc giải quyết các vụ tai nạn lao động chết người, tai nạn lao động khác có dấu hiệu tội phạm.
Việc bãi bõ các quy định nhằm hướng những quy pháp luật mang tính cập nhật hơn, tạo điều kiện việc thực thi pháp luật được hiệu quả.

Quy định siết chặt điều kiện kinh doanh dịch vụ karaoke, dịch vụ vũ trường
Trả lời

Ngày 19/6/2019, Chính phủ ban hành Nghị định số 54/2019/NĐ-CP quy định về kinh doanh dịch vụ karaoke, dịch vụ vũ trường. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 01/9/2019.
Nghị định số 54/2019/NĐ-CP có các nội dung chính như sau:
1. Điều kiện kinh doanh dịch vụ karaoke
Là doanh nghiệp hoặc hộ kinh doanh được thành lập theo quy định của pháp luật;
Bảo đảm các điều kiện về phòng, chống cháy nổ và an ninh, trật tự theo quy định tại Nghị định 96/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện an ninh trật tự đối với một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện;
Phòng hát phải có diện tích sử dụng từ 20m2 trở lên, không kể công trình phụ;
Không được đặt chốt cửa bên trong phòng hát hoặc đặt thiết bị báo động (trừ các thiết bị cháy nổ).
2. Điều kiện kinh doanh dịch vụ vũ trường
Là doanh nghiệp hoặc hộ kinh doanh được thành lập theo quy định của pháp luật;
Bảo đảm các điều kiện về phòng, chống cháy nổ và an ninh, trật tự theo quy định tại Nghị định 96/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện an ninh trật tự đối với một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện;
Phòng vũ trường phải có diện tích sử dụng từ 80m2 trở lên, không kể công trình phụ;
Không được đặt chốt cửa bên trong phòng vũ trường hoặc đặt thiết bị báo động (trừ các thiết bị cháy nổ);
Địa điểm kinh doanh phải cách trường học, bệnh viện, cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng, di tích lịch sử, văn hóa từ 200m trở lên.
3. Trách nhiệm của người kinh doanh dịch vụ karaoke, vũ trường
Không được hoạt động từ 0h đến 8h sáng (đối với karaoke), không được hoạt đồng từ 2h đến 8h sáng (đối với vũ trường, so với quy định của Nghị định 103/2009/NĐ-CP Quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng,  thì thời gian hoạt động của vũ trường tăng thêm 2h, trước đây Không được hoạt động sau 12 giờ đêm đến 8 giờ sáng.
Bảo đảm hình ảnh phù hợp với lời bài hát thể hiện trên màn hình hoặc hình thức tương tự và văn hóa, đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc Việt Nam;
Chỉ sử dụng các bài hát được phép phổ biến, lưu hành
Tuân thủ các quy định của pháp luật về phòng, chống tác hại của thuốc lá…
Tuân thủ quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường; vệ sinh an toàn thực phẩm, bản quyền tác giả; hợp đồng lao động, an toàn lao động; bảo hiểm, phòng chống tệ nạn xã hội và các quy định pháp luật khác có liên quan.
Tuân thủ quy định tại Nghị định 105/2017/NĐ-CP ngày 14/9/2017 của Chính phủ về kinh doanh rượu.
Không cung cấp dịch vụ vũ trường cho người chưa đủ 18 tuổi…
Sau 01/12, doanh nghiệp, hộ kinh doanh đã được cấp Giấy phép đủ điều kiện kinh doanh trước ngày Nghị định này có hiệu lực nhưng không đảm bảo các điều kiện kinh doanh mới phải chấm dứt hoạt động.
Nghị định số 54/2019/NĐ-CP được ban hành nhằm tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh karaoke, vũ trường thông qua các quy định theo hướng siết chặt các điều kiện về phòng, chống cháy nổ và an ninh, trật tự …

Xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động khoa học và công nghệ, chuyển giao công nghệ
Trả lời

Ngày 13/6/2019, Chính phủ ban hành Nghị định số 51/2019/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động khoa học và công nghệ, chuyển giao công nghệ có hiệu lực ngày 01/08/2019.
Theo đó, Nghị định số 51/2019/NĐ-CP có nội dung nổi bật như sau:
Đối với mỗi hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động khoa học và công nghệ, chuyển giao công nghệ, cá nhân, tổ chức phải chịu một trong các hình thức xử phạt chính là cảnh cáo hoặc phạt tiền.
Mức phạt tiền tối đa trong hoạt động khoa học và công nghệ, chuyển giao công nghệ đối với cá nhân là 50.000.000 đồng, đối với tổ chức là 100.000.000 đồng.
Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm còn có thể bị áp dụng một hoặc nhiều hình thức xử phạt bổ sung như: tước quyền sử dụng có thời hạn từ 01 đến 03 tháng, tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính.
Như vậy, Nghị định số 51/2019/NĐ-CP đã quy định chi tiết về hành vi vi phạm, hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động khoa học và công nghệ, chuyển giao công nghệ.