Ngày 27/02/2019, Cục thuế thành phố Hà Nội ban hành Công văn số 7623/CT-TTHT về việc chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp trong đó đưa ra các tiêu chí để doanh nghiệp xác định các khoản chi được trừ.
Theo đó, Công văn số 7623/CT-TTHT hướng dẫn xác định các chi phí được trừ, sau khi báo cáo Tổng cục Thuế, cụ thể:
Điều 6, Thông tư số 119/2016/TT-BTC, Sửa đổi, bổ sung Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/6/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 218/2013/NĐ-CP ngày 26/12/2013 của Chính phủ quy định và hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp như sau:
Doanh nghiệp được trừ mọi khoản chi nếu đáp ứng đủ các điều kiện sau:
a) Khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp;
b) Khoản chi có đủ hóa đơn, chứng từ hợp pháp theo quy định của pháp luật.
c) Khoản chi nếu có hóa đơn mua hàng hóa, dịch vụ từng lần có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên (giá đã bao gồm thuế GTGT) khi thanh toán phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt.
Việc ban hành Công văn số 7623/CT-TTHT của Cục thuế thành phố Hà Nội cho thấy đây là một hoạt động thường xuyên của cơ quan, nhằm hỗ trợ doanh nghiệp trong việc giải quyết những vướng mắc và áp dụng thống nhất pháp luật thuế.
Ngày 17/05/2019 vừa qua, Chính phủ đã ban hàng Nghị định số 43/2019/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 26/2014/NĐ-CP ngày 07/04/2014 về tổ chức và hoạt động của Thanh tra, Giám sát ngành Ngân Hàng.
Theo đó, một trong những nội dung quan trọng đáng được lưu tâm là việc bổ sung nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh Tranh tra, giám sát Ngân hàng. Cụ thể, kể từ thời điểm 17/05/2019, khi phát hiện các dấu hiệu vi phạm pháp luật hoặc khi có dấu hiệu rủi ro đe dọa đến sự an toàn hoạt động của tổ chức tín dụng, Chánh Tranh tra, giám sát Ngân hàng có quyền yêu cầu Giám đốc Ngân hàng Nhà Nước chi nhánh tiến hành việc thanh tra, trường hợp Giám đốc Ngân hàng Nhà Nước chi nhánh không đồng ý thực hiện việc thanh tra thì sẽ phải báo cáo và chịu trách nhiệm trước Thống đốc Ngân Hàng Nhà Nước.
Ngoài ra, Chánh Thanh Tra, giám sát Ngân hàng có quyền ban hành quyết định thanh tra lại vụ việc đối với các kết luận thanh tra trước đó nếu phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật.
Như vậy, với việc Nghị định 43/2019/NĐ-CP được ban hành, Cơ quan Thanh Tra, giám sát Ngân Hàng đã được bổ sung một số nhiệm vụ, quyền hạn để phục vụ việc kiểm tra, giám sát hoạt động các của tổ chức tín dụng, góp phần nâng cao tính minh bạch của thị trường tiền tệ.
Ngày 23/05/2019, Bộ Giao thông Vận tải đã ban hành Thông tư số 19/2019/TT-BGTVT hướng dẫn chi tiết về lĩnh vực đầu tư và nội dung báo cáo nghiên cứu khả thi dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư thuộc lĩnh vực giao thông vận tải. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 10/07/2019.
Theo đó Thông tư số 19/2019/TT-BGTVT quy định dự án đầu tư trong lĩnh vực giao thông vận tải bao gồm dự án đầu tư xây dựng, cải tạo, vận hành, kinh doanh, quản lý công trình hạ tầng, cung cấp dịch vụ công trong các lĩnh vực đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa, hàng hải, hàng không.
Thông tư số 19/2019/TT-BGTVT cũng quy định về nội dung báo cáo nghiên cứu khả thi dự án đầu tư trong lĩnh vực giao thông vận tải bao gồm các nội dung chính sau:
1. Sự cần thiết và mục tiêu đầu tư
2. Lợi thế của việc đầu tư theo hình thức đối tác công tư
3. Sự phù hợp của dự án đối với quy hoạch, kế hoạch phát triển
4. Quy mô, địa điểm dự án và nhu cầu sử dụng các nguồn tài nguyên
5. Điều kiện tự nhiên khu vực xây dựng và hiện trạng công trình
6. Thuyết minh kỹ thuật, công nghệ và các giải pháp chủ yếu
7. Kế hoạch thực hiện, tiến độ và thời hạn hợp đồng dự án
8. Giải phóng mặt bằng, tái định cư
9. Tổng mức đầu tư, tổng vốn đầu tư và phương án tài chính
10. Lựa chọn loại hợp đồng dự án
11. Vốn đầu tư, kế hoạch và tính khả thi của việc huy động vốn
12. Quản lý thực hiện dự án, quản lý khai thác và bảo trì công trình
13. Phân tích rủi ro của dự án và đề xuất ưu đãi, đảm bảo đầu tư
14. Hiệu quả kinh tế – xã hội và các tác động của dự án
15. Kết luận và kiến nghị
Như vậy, Thông tư 19/2019/TT-BGTVT đã xác định phạm rõ ràng phạm vi dự án đầu tư trong lĩnh vực giao thông vận tải và nội dung báo cáo nghiên cứu khả thi dự án, góp phần hỗ trợ các nhà đầu tư dễ dàng triển khai dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư.
Ngày 29/3/2019, Bộ Giao thông Vận tải đã ban hành Thông tư số 13/2019/TT-BGTVT về việc quy định chi tiết Chương trình an ninh hàng không và kiểm soát chất lượng an ninh hàng không Việt Nam. Thông tư này có hiệu lực từ ngày 01/6/2019.
Thông tư số 13/2019/TT-BGTVT quy định chi tiết về quy trình xử lý hành khách gây rối như sau:
Trường hợp thứ nhất: Hành khách chưa lên tàu bay
– Nhân viên kiểm soát an ninh hàng không ngăn chặn không cho phép hành khách lên tàu bay, tạm giữ người, giấy tờ về nhân thân của hành khách.
– Xử lý tiếp theo đúng nguyên tắc, quy trình xử lý đối với vụ việc vi phạm an ninh hàng không.
– Việc xử lý phải đảm bảo hạn chế đến mức tối đa ảnh hưởng hoạt động bình thường của cảng hàng không, sân bay.
Trường hợp thứ hai: Hành khách đã lên tàu bay và tàu bay đang ở mặt đất
– Người chỉ huy tàu bay phải áp dụng biện pháp xử lý thích hợp theo thẩm quyền; quyết định tạm dừng chuyến bay nếu xét thấy cần thiết vì lý do bảo đảm an toàn, an ninh cho chuyến bay; thông báo cho đại diện hãng hàng không.
– Đại diện hãng hàng không thông báo vụ việc cho lực lượng kiểm soát an ninh hàng không và Cảng vụ hàng không tại cảng hàng không, sân bay để phối hợp xử lý.
Trường hợp thứ ba: Tàu bay đang bay
Trường hợp tàu bay đang bay, người chỉ huy tàu bay có các nhiệm vụ, quyền hạn như sau:
– Phải áp dụng biện pháp xử lý thích hợp theo thẩm quyền;
– Quyết định cho tàu bay hạ cánh nếu xét thấy cần thiết vì lý do bảo đảm an toàn, an ninh cho chuyến bay;
– Thông báo vụ việc cho hãng hàng không hoặc nhà chức trách hàng không tại cảng hàng không (nếu không có đại diện hãng hàng không) nơi tàu bay hạ cánh tùy theo tính chất, mức độ vụ việc;
– Tổ chức lập biên bản vi phạm hành chính hoặc tường trình, báo cáo vụ việc theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hàng không dân dụng hoặc lập biên bản theo quy định của nước sở tại, bàn giao vụ việc cho nhà chức trách hàng không nơi hạ cánh.
Thông tư nêu rõ, khi nhận được thông báo, lực lượng kiểm soát an ninh hàng không tại cảng hàng không, sân bay lên ngay tàu bay để phối hợp với tổ bay, áp dụng các biện pháp cưỡng chế cần thiết để áp giải hành khách xuống khỏi tàu bay, tạm giữ giấy tờ về nhân thân của hành khách, đồ vật vi phạm; tổ bay lập bản tường trình báo cáo vụ việc chuyển giao cho Cảng vụ hàng không để xử lý theo thẩm quyền và đại diện hãng hàng không phải có mặt chứng kiến, phối hợp trong quá trình xử lý vụ việc.
Cảng vụ hàng không liên quan nhận được thông báo phải đến ngay nơi xử lý vụ việc để trực tiếp đánh giá và quyết định việc xử lý theo thẩm quyền; giám sát toàn bộ quá trình xử lý vụ việc, kể cả trên tàu bay; chủ trì phối hợp với lực lượng kiểm soát an ninh hàng không tại cảng hàng không, sân bay, hãng hàng không đánh giá vụ việc, quyết định áp dụng các biện pháp an ninh cần thiết; yêu cầu chuyển giao hồ sơ vụ việc; đình chỉ hoặc cho phép tiếp tục thực hiện chuyến bay; lập biên bản, xử phạt vi phạm hành chính; trường hợp vượt quá thẩm quyền, chuyển vụ việc cho cơ quan chức năng có đủ thẩm quyền xử lý.
Thông tư số 13/2019/TT-BGTVT quy định cụ thể, chi tiết về quy trình xử lý hành khách gây rối, góp phần đảm bảo an ninh hàng không và nâng cao chất lượng an ninh hàng không.
Ngày 08/10/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 140/2018/NĐ-CP về việc sửa đổi, bổ sung các nghị định liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh và thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Lao động – Thương Binh và xã hội. Nghị định này có hiệu lực từ ngày 08/10/2018.
Theo đó, Nghị định số 140/2018/NĐ-CP về việc Sửa đổi một số quy định trong Đăng ký sử dụng, điều chỉnh thông tin và ngừng sử dụng phương thức giao dịch điện tử trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội, cụ thể như sau:
Thứ nhất, khi có nhu cầu đăng ký tham gia giao dịch điện tử, điều chỉnh thông tin và ngừng sử dụng phương thức giao dịch điện tử trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội thì cơ quan, tổ chức, cá nhân lập Tờ khai đăng ký sử dụng, điều chỉnh thông tin và ngừng sử dụng phương thức giao dịch điện tử trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội theo Mẫu số 01 Phụ lục III ban hành kèm theo Nghị định này và gửi bản điện tử đến Cổng thông tin điện tử của Bảo hiểm xã hội Việt Nam hoặc gửi bản giấy đến Bảo hiểm xã hội Việt Nam.
Thứ hai, trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được Tờ khai đăng ký sử dụng, điều chỉnh thông tin và ngừng sử dụng phương thức giao dịch điện tử trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội của cơ quan, tổ chức, cá nhân, Bảo hiểm xã hội Việt Nam gửi thông báo chấp thuận đến địa chỉ thư điện tử của cơ quan, tổ chức, cá nhân; trường hợp không chấp thuận, Bảo hiểm xã hội Việt Nam phải thông báo và nêu rõ lý do.
Thứ ba, đối với trường hợp đăng ký ngừng sử dụng phương thức giao dịch điện tử, kể từ thời điểm Bảo hiểm xã hội Việt Nam thông báo chấp thuận thì cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện giao dịch với cơ quan bảo hiểm xã hội bằng hồ sơ giấy theo quy định. Trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân muốn tiếp tục sử dụng lại phương thức giao dịch điện tử thì phải thực hiện đăng ký theo quy định tại khoản 1 Điều 22 Nghị định này.
Qua đây có thể thấy rằng, thời gian kể từ ngày 08/10/2019, Chính phủ đã ban hành văn bản về việc sửa đổi một số quy định trong đăng ký sử dụng, điều chỉnh thông tin và ngừng sử dụng phương thức giao dịch điện tử trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội. Quy định này đã góp phần khắc phục những bất cập, thiếu sót trong quy định trước đó về “đăng ký sử dụng phương thức giao dịch điện tử” trong Nghị định số 166/2016/NĐ-CP ngày 24/12/2016 quy định về giao dịch điện tử trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp, góp phần tháo gỡ các vướng mắc của nhà đầu tư và xây dựng hành lang pháp lý rõ ràng, phù hợp với sự phát triển kinh tế hiện nay.
Ngày 22/05/2019 vừa qua, thực hiện Chỉ thị số 11/CT-TTg, Bộ xây dựng đã ban hành Quyết định số 398/QĐ-BXD nhằm triển khai một cách đồng bộ, hiệu quả Chị thị của Chính Phủ về các nhóm giải pháp thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển ổn định và lành mạnh
Theo đó, Cục Quản lý nhà và thị trường bất động sản sẽ là đơn vị chủ trì, phối hợp cùng Vụ Pháp chế, Vụ Khoa học môi trường và Công nghệ, Tổng cục thống kê, Viện Kiến trúc Quốc Gia, Viện Kinh tế xây dựng tập trung hoàn thành trong năm 2020 sáu nhóm nhiệm vụ chính bao gồm:
Hoàn thành dự án Luật sửa đổi, bổ sung Luật Xây dựng, Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản
Nghiên cứu, ban hành sửa đổi, bổ sung quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng đối với các loại hình nhà ở chung cư, công trình căn hộ du lịch (condotel), biệt thự du lịch (resort villa), văn phòng kết hợp lưu trú ngắn hạn (officetel), nhà trọ, phòng trọ cho thuê.
Nghiên cứu, đề xuất ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định về quy chế quản lý, vận hành loại hình công trình văn phòng kết hợp lưu trú ngắn hạn (officetel)
Đôn đốc các địa phương hoàn thiện và đưa vào vận hành hệ thống thông tin về nhà ở và thị trường bất động sản theo Nghị định số 117/2015/NĐ-CP ngày 12/11/2015 của Chính phủ
Nghiên cứu, sửa đổi chính sách pháp luật và đôn đốc đẩy mạnh phát triển nhà ở xã hội
Phối hợp với các bộ, ngành, địa phương tăng cường kiểm tra việc tuân thủ pháp luật của các Chủ đầu tư
Tổng hợp tình hình theo định kỳ hoặc đột xuất để báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về diễn biến của thị trường bất động sản để kịp thời có biện pháp bình ổn thị trường khi có dấu hiệu không bình thường hoặc biến động lớn.
Với việc ban hành Quyết định số 389 nêu trên, Chính Phủ; Bộ Xây dựng đã và đang có những biện pháp mạnh mẽ góp phần xây dựng một thị trường bất động sản lành mãnh, minh bạch, bền vững.
Ngày 13/5/2019, Bộ Công thương đã ban hành Quyết định 1230/QĐ-BCT về việc áp dụng biện pháp chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại. Quyết định có hiệu lực kể từ ngày 27/5/2019.
Theo đó, quyết định đã quy định cụ thể các loại hàng hóa thuộc đối tượng áp dụng biện pháp chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại. Cụ thể là các sản phẩm thép cuộn, thép dây có mã HS: 7213.91.90, 7217.10.10, 7217.10.29, 7229.90.99, 9839.10.00 nhập khẩu vào Việt Nam từ các nước/vùng lãnh thổ khác nhau. Bên cạnh đó, quyết định đã nêu cụ thể 04 nhóm thép không áp dụng biện pháp chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại. Cụ thể:
1. Thép chứa một trong các nguyên tố có hàm lượng phần trăm (%) theo khối lượng thuộc phạm vi sau: Các-bon (C) > 0,37%; Si-líc (Si) > 0,60%; Crôm (Cr) > 0,60%; Ni-ken (Ni) > 0,60%; Đồng (Cu) > 0,60%.
2. Thép chứa đồng thời các nguyên tố có hàm lượng phần trăm (%) theo khối lượng thuộc phạm vi sau: Măng-gan (Mn) từ 0,70% đến 1,15%; Lưu huỳnh (S) từ 0,24% đến 0,35%.
3. Thép có mặt cắt ngang hình tròn từ 14mm trở lên.
4. Các sản phẩm thép trong nước chưa sản xuất được.
Quyết định cũng đã quy định về các thủ tục để được miễn trừ áp dụng biện pháp thương mại đối với các doanh nghiệp khi nhập khẩu các sản phẩm thép thuộc các nhóm nêu trên.
Quy định mới của Bộ Công thương đã thể hiện sự quản lý sát sao về hoạt động nhập khẩu các mặt hàng thép, miễn trừ thuế chống lẩn tránh phòng vệ phương mại cho các doanh nghiệp nhập khẩu các mặt hàng thép thuộc danh mục không áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại, tạo điều kiện cho hoạt động kinh doanh các mặt hàng thép diễn ra sôi động hơn trên thị trường Việt Nam.
Ngày 11/04/2019, Bộ tài chính ban hành Thông tư 21/2019/TT-BTC quy định hướng dẫn việc bán cổ phần lần đầu và chuyển nhượng vốn nhà nước theo phương thức dựng sổ có hiệu lực ngày 03/06/2019.
Theo đó, Thông tư 21/2019/TT-BTC có nội dung nổi bật như sau:
– Việc chuyển nhượng vốn nhà nước, vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước tại công ty cổ phần phải được xây dựng phương án theo đúng quy định pháp luật.
– Phương án chuyển nhượng vốn theo phương thức dựng sổ phải được công bố công khai tối thiểu 20 ngày trước ngày mở sổ lệnh tại trụ sở chính của Chủ sở hữu vốn (doanh nghiệp nhà nước), công ty cổ phần có vốn được chuyển nhượng, Tổ chức quản lý sổ lệnh, trên phương tiện thông tin đại chúng (ba số báo liên tiếp của một tờ báo phát hành trong toàn quốc và một tờ báo địa phương nơi Chủ sở hữu vốn có trụ sở chính, nơi công ty cổ phần có trụ sở chính) và đăng tải trên trang thông tin điện tử của Chủ sở hữu vốn, Tổ chức quản lý sổ lệnh, công ty cổ phần có vốn được chuyển nhượng (nếu có).
Như vậy, Thông tư 21/2019/TT-BTC đã hướng dẫn quy trình chuyển nhượng vốn nhà nước, vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước tại công ty cổ phần theo phương thức dựng sổ.
Ngày 28/03/2019, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 03/2019/TT-BYT về Danh mục thuốc sản xuất trong nước đáp ứng yêu cầu về điều trị, giá thuốc và khả năng cung cấp. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 01/06/2019.
Theo đó Thông tư số 03/2019/TT-BYT đã liệt kê 640 thuốc sản xuất trong nước đáp ứng yêu cầu về điều trị, giá thuốc và khả năng cung cấp. Chi tiết tại danh mục thuốc sản xuất trong nước đáp ứng yêu cầu về điều trị, giá thuốc và khả năng cung cấp.
Như vậy, Thông tư 03/2019/TT-BYT góp phần quan trọng trong việc xác định các loại thuốc được chào thầu trong đấu thầu. Vì trong hồ sơ mời thầu của các cơ sở y tế phải quy định rõ việc không được chào thầu thuốc nhập khẩu có cùng tiêu chí kỹ thuật với thuốc nằm trong Danh mục của Thông tư 03/2019/TT-BYT.
Việc chào thầu thuốc nhập khẩu chỉ được thực hiện trong trường hợp Bộ Y tế ra quyết định cho phép chào thầu thuốc nhập khẩu trong một thời hạn nhất định vì nhu cầu sử dụng thuốc tăng đột biến và cơ sở y tế do đó phải sử dụng thuốc nhập khẩu.