Ngày 31/01/2019, Tổng Giám đốc bảo hiểm xã hội Việt Nam đã ban hành Quyết định số 116/2019/QĐ-BHXH ban hành quy trình giải quyết hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội, chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, có hiệu lực từ ngày 01/05/2019.
Theo đó, Quyết định số 166/QĐ-BHXH) đã quy định một số vấn đề liên quan đến hồ sơ hưởng chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp lần đầu. Tại bài viết này tác giả xin được đề cập đến vấn đề nêu trên theo như quy định của pháp luật hiện hành.
Các thuật ngữ sau được viết tắt:
• BHXH: Bảo hiểm xã hội
• TNLĐ: Tai nạn lao động
• BNN: Bệnh nghề nghiệp
• KNLĐ: Khả năng lao động
• GĐYK:Giám định y khoa
Tại Quy trình giải quyết hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội, chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp (Ban hành kèm theo Quyết định này) đã quy định đối với việc giải quyết hưởng trợ cấp chế độ TNLĐ, BNN trong trường hợp bị TNLĐ, BNN lần đầu hồ sơ bao gồm:
• Biên bản giám định mức suy giảm KNLĐ của Hội đồng GĐYK hoặc bản sao giấy chứng nhận bị nhiễm HIV/AIDS do tai nạn rủi ro nghề nghiệp trong trường hợp bị nhiễm HIV/AIDS do tai nạn rủi ro nghề nghiệp (tương đương mức suy giảm KNLĐ 61%), nếu GĐYK mà tỷ lệ suy giảm KNLĐ cao hơn 61% thì hồ sơ hưởng chế độ BNN trong trường hợp này phải có Biên bản GĐYK.
• Trường hợp điều trị nội trú: Bản sao giấy ra viện hoặc trích sao hồ sơ bệnh án sau khi đã điều trị TNLĐ hoặc BNN.
• Trường hợp bị BNN mà không điều trị nội trú thì có thêm giấy khám BNN.
• Chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, cơ sở chỉnh hình, phục hồi chức năng theo quy định về việc trang cấp PTTGSH (nếu có).
• Văn bản đề nghị giải quyết chế độ TNLĐ, BNN theo mẫu số 05A-HSB.
• Trường hợp thanh toán phí GĐYK thì có thêm hóa đơn, chứng từ thu phí giám định; bảng kê các nội dung giám định của cơ sở thực hiện GĐYK.
Đối với việc giải quyết chế độ TNLĐ – BNN cơ quan BHXH đã bãi bỏ quy định phải có sổ BHXH, các giấy tờ khám và điều trị thương tật ban đầu đối với trường hợp điều trị ngoại trú và một số giấy tờ chứng minh về tai nạn giao thông. So với các văn bản trước đây thì Quyết định này có sự lồng ghép thành phần hồ sơ của các thủ tục, cụ thể thành phần hồ sơ đối với trường hợp TNLĐ và BNN có sự rút gọn hơn và được lồng ghép vào nhau, không còn tách biệt như trước đây. Nội dung quy định cụ thể và rõ ràng hơn, thành phần hồ sơ cũng được tiết giảm nhiều, điều đó tạo thuận lợi cho người lao động trong quá trình hoàn thiện hồ sơ, thực hiện thủ tục và hưởng các chế độ trợ cấp của mình. Việc rút gọn các thành phần hồ sơ không đồng nghĩa với việc người thụ hưởng sẽ lợi dụng điều đó để cố tình trục lợi cho cá nhân, mà cơ quan BHXH sẽ có cơ chế riêng để kiểm soát và quản lý chặt chẽ, đảm bảo cho người lao động được hưởng các quyền lợi chính đáng nhất theo đúng quy định của pháp luật.
TNLĐ, BNN là những vấn đề khó tránh khỏi của người lao động trong quá trình làm việc, cùng với đó là số lượng người lao động tham gia BHXH ngày càng gia tăng thì việc đơn giản hóa các thủ tục là điều cần thiết và vô cùng hữu ích. Nhìn chung Quyết định này được ban hành theo hướng có lợi cho người thụ hưởng. Vì vậy, khi Quyết định này có hiệu lực đã có sự quan tâm rất lớn từ người lao động cũng như dư luận xã hội. Đây là bước đột phá mới, là sự cải tiến rất lớn trong công tác quản lý của cơ quan BHXH.
Ngày 09/05/2019, Chính Phủ đã ban hành Nghị định số 38/2019/NĐ-CP quy định mức lương cơ sở đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang.
Theo đó, Nghị định số 38/2019/NĐ-CP đã quy định cụ thể về việc tăng mức lương cơ sở đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang, cụ thể như sau:
Thứ nhất, tăng mức lương cơ sở thêm 100.000 đồng/tháng, theo đó từ ngày 01/7/2019, mức lương cơ sở sẽ tăng từ 1.390.000 đồng/tháng lên thành 1.490.000 đồng/tháng.
Thứ hai, về đối tượng áp dụng, Nghị định số 38/2019/NĐ-CP có đổi mới so với quy định về người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động xếp lương theo Nghị định 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 như sau:
– Đối tượng theo Nghị định 204/2004/NĐ-CP: Người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động trong các cơ quan, đơn vị của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội được quy định tại Nghị định 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000; Người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động trong số lượng người làm việc đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt tại các đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
– Đối tượng theo quy định mới tại Nghị định số 38/2019/NĐ-CP bao gồm: Người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động trong các cơ quan, đơn vị của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội được quy định tại các văn bản: Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000; Nghị định 161/2018/NĐ-CP sửa đổi quy định về tuyển dụng công chức, viên chức, nâng ngạch công chức, thăng hạng viên chức và thực hiện chế độ hợp đồng một số loại công việc trong cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập.
Qua đây có thể thấy rằng, thời gian kể từ ngày 09/05/2019, Chính Phủ đã đưa ra quy định cụ thể về việc tăng mức lương cơ sở đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang, theo đó kể từ ngày 01/7/2019 mức lương cơ sở chính thức tăng thêm 100.000 đồng/tháng.
Quy định này đã góp phần hỗ trợ đến đời sống nhân dân của những cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang trước những biến động về giá cả, tiêu dùng, làm căn cứ cho việc tính mức phụ cấp, sinh hoạt phí cũng như tính các khoản trích và các chế độ được hưởng theo mức lương cơ sở.
Ngày 10/5/2019, Chính phủ đã ban hành Nghị định 39/2019/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ngày 10/05/2019. Nghị định này có hiệu lực từ ngày 01/07/2019.
Theo Nghị định số 39/2019/NĐ-CP, Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa là quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, do Thủ tướng Chính phủ thành lập, Quỹ hoạt động theo mô hình Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, với số vốn tối thiểu là 2.000 tỷ đồng (sau đây gọi tắt là “Quỹ”).
Quỹ thực hiện chức năng: Cho vay, tài trợ doanh nghiệp nhỏ và và vừa (sau đây gọi tắt là “DNNVV”) khởi nghiệp sáng tạo, DNNVV tham gia cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị và tiếp nhận, quản lý nguồn vốn vay, tài trợ, viện trợ, đóng góp, ủy thác của các tổ chức, cá nhận để hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa
Quỹ thực hiện cho vay dưới hai hình thức: Cho vay trực tiếp là Quỹ trực tiếp cho vay đối với DNNVV khởi nghiệp sáng tạo, DNNVV tham gia cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị có nhu cầu vay vốn và Cho vay gián tiếp là Quỹ thực hiện cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua giao vốn cho ngân hàng thương mại.
Về điều kiện vay vốn, Điều 16 quy định DNNVV khởi nghiệp sáng tạo, DNNVV tham gia cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị phải có dự án, phương án sản xuất, kinh doanh khả thi; đảm bảo nguồn vốn chủ sở hữu tối thiểu 20% tổng vốn đầu tư của dự án; đáp ứng các quy định về bảo đảm tiền vay theo quy định pháp luật. Điều 17 quy định lãi suất cho vay trực tiếp của Quỹ bằng 80% mức thấp nhất lãi suất cho vay thương mại, mức thấp nhất của lãi suất cho vay thương mại được xác định trên cơ sở so sánh lãi suất cho vay của 04 ngân hàng thương mại có vốn nhà nước và có tổng tài sản lớn nhất tại thời điểm xác định lãi suất cho vay của Quỹ. Mức cho vay đối với mỗi dự án, phương án sản xuất, kinh doanh tối đa không quá 80% tổng mức vốn đầu tư của từng dự án, phương án. Tổng mức cho vay của Quỹ đối với một DNNVV không được vượt quá 15% vốn điều lệ thực có của Quỹ, thời hạn cho vay tối đa không quá 07 năm (Điều 18).
Nghị định số 39/2019/NĐ-CP quy định chi tiết Điều 20 Luật Hỗ trợ DNNVV, về cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ và phương thức hoạt động của Quỹ Phát triển DNNVV. Quỹ tập trung hỗ trợ các DNNVV khởi nghiệp sáng tạo, DNNVV tham gia cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị. Đối với các nguồn vốn tiếp nhận, tài trợ, viện trợ, đóng góp, ủy thác của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước thì Quỹ sẽ hỗ trợ các DNNVV đáp ứng các điều kiện của nhà tài trợ và phù hợp với pháp luật Việt Nam.
Ngày 12/03/2019, Tổng cục thuế đã ban hành Công văn 786/TCT-KK hướng dẫn chuyển hộ kinh doanh lên doanh nghiệp theo Nghị định 108/2018/NĐ-CP. Công văn này có hiệu lực cùng ngày.
– Theo đó, nguyên tắc chuyển đổi từ hộ kinh doanh lên doanh nghiệp được thực hiện như sau:
– Doanh nghiệp chuyển đổi từ hộ kinh doanh được cấp mới mã số doanh nghiệp theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Mã số thuế của hộ kinh doanh chấm dứt hiệu lực.
– Mã số thuế của Hộ kinh doanh khi chấm dứt hiệu lực vẫn được sử dụng làm mã số thuế của cá nhân của người đại diện hộ kinh doanh
– Hộ kinh doanh phải có trách nhiệm hoàn thành nghĩa vụ thuế, trường hợp không hoàn thành thì phải:
• Kế thừa toàn bộ quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của hộ kinh doanh theo quy định (nếu chuyển thành doanh nghiệp nhỏ và vừa)
• Chủ hộ kinh doanh (người đại diện) chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với khoản nợ chưa thanh toán của hộ kinh doanh, trừ trường hợp có thỏa thuận khác theo quy định (nếu chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần).
Như vậy, Công văn 786/TCT-KK đã kịp thời góp phần giải quyết các vướng mắc về mã số thuế của hộ kinh doanh và trách nhiệm của hộ kinh doanh, chủ hộ kinh doanh sau khi chuyển đổi lên doanh nghiệp trong thời gian vừa qua.
Ngày 03/5/2019, Bộ Giao thông Vận tải ban hành Thông tư số 17/2019/TT-BGTVT về việc ban hành Khung giá dịch vụ vận chuyển hành khách trên các đường bay nội địa. Thông tư này có hiệu lực từ ngày 01/07/2019.
Theo Thông tư số 17/2019/TT-BGTVT, giá dịch vụ vận chuyển hành khách một chiều hạng phổ thông cơ bản tối đa như sau:
– Đối với khoảng cách đường bay dưới 500 km:
+ Nhóm đường bay phát triển kinh tế xã hội: 1.600.000 đồng/vé.
+ Nhóm đường bay khác dưới 500 km: 1.700.000 đồng/vé.
– Đối với khoảng cách đường bay từ 500 km đến dưới 850 km: 2.200.000 đồng/vé.
– Đối với khoảng cách đường bay từ 850 km đến dưới 1.000 km: 2.790.000 đồng/vé.
– Đối với khoảng cách đường bay từ 1.000 km đến dưới 1.280 km: 3.200.000 đồng/vé.
– Đối với khoảng cách đường bay từ 1.280 km trở lên: 3.750.000 đồng/vé.
Giá vé trên đã bao gồm toàn bộ chi phí hành khách phải trả cho 01 vé máy bày, trừ: Thuế GTGT; giá phục vụ hành khách tại ga hành khách; giá đảm bảo an ninh hành khách, hành lý; giá dịch vụ đối với các hạng mục tăng thêm; Giá dịch vụ đối với các dịch vụ tăng thêm do các hãng hàng không quyết định trên cơ sở cân đối khả năng cung cấp dịch vụ của hãng hàng không và nhu cầu của thị trường.
Thực hiện quy định nêu trên, các hãng hàng không có trách nhiệm:
– Quy định giá vé cụ thể trên đường bay hoặc nhóm đường bay theo phương thức đa dạng giá vé cho mỗi đường bay và chính sách giá giảm thường xuyên dành cho đồng bào, chiến sỹ thường trú tại các địa phương vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo;
– Thực hiện kê khai mức giá cụ thể với Cục Hàng không Việt Nam và thực hiện công bố công khai giá theo quy định của pháp luật;
– Trường hợp mở đường bay mới chưa được công bố trong nhóm cự ly bay do Cục Hàng không Việt Nam thông báo, hãng hàng không có trách nhiệm báo cáo Cục Hàng không Việt Nam xem xét, quy định bổ sung đường bay mới vào các nhóm cự ly bay thông dụng trước thời điểm hãng kê khai giá với Cục Hàng không Việt Nam.
Việc Bộ Giao thông vận tải ban hành Thông tư số 17/2019/TT-BGTVT quy định chính thức khung giá dịch vụ vận chuyển hành khách trên các đường bay nội địa theo hướng giữ nguyên khung giá tối đa như thời điểm tháng 8/2015 nhằm thực hiện chỉ đạo của Chính phủ về việc bình ổn giá, đảm bảo quyền lợi cho người tiêu dùng.
Ngày 07/05/2019 vừa qua, Chính Phủ đã chính thức ban hành Nghị định 37/2019/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quy Hoạch với nội dung điều chỉnh các Điều 15 (nhiệm vụ lập quy hoạch), 17 (tổ chức tư vấn lập quy hoạch), 19 (lấy ý kiến về quy hoạch), 22 (nội dung quy hoạch tổng thể quốc gia), 23 (nội dung quy hoạch không gian biển quốc gia), 24 (nội dung quy hoạch sử dụng đất quốc gia), 25 (nội dung quy hoạch ngành quốc gia), 26 (nội dung quy hoạch vùng), 27 (nội dung quy hoạch tỉnh), 30 (Hội đồng thẩm định quy hoạch), 40 (hình thức công bố quy hoạch), 41 (hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu quốc gia về quy hoạch) và 49 (trách nhiệm đánh giá thực hiện quy hoạch) của Luật Quy hoạch.
Theo đó, Chính phủ đã có quy định cụ thể về thời hạn, thời gian lập quy hoạch. Thời hạn lập quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch không gian biển quốc gia, quy hoạch sử dụng đất quốc gia, quy hoạch vùng không quá 30 tháng tính từ ngày nhiệm vụ lập quy hoạch được phê duyệt, trong đó, thời hạn lập hợp phần quy hoạch không quá 18 tháng đối với quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch không gian biển quốc gia, quy hoạch vùng. Thời hạn lập quy hoạch ngành quốc gia, quy hoạch tỉnh không quá 24 tháng tính từ ngày nhiệm vụ lập quy hoạch được phê duyệt.
Ngoài ra, thông qua việc ban hành Nghị định này, Chính Phủ cũng đã quy định việc xây dựng hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu quốc gia về quy hoạch dưới hình thức một cổng thông tin điện tử kết nối giữa các bộ, cơ quan ngang bộ và UBND cấp tỉnh trên môi trường mạng nhằm phục vụ công tác lập quy hoạch, lấy ý kiến về quy hoạch, công bố, cung cấp thông tin về quy hoạch; giám sát, đánh giá quá trình thực hiện quy hoạch.
Như vậy, với việc ban hành Nghị định 31/2019 nêu trên, Chính Phủ đang từng bước tháo gỡ các khó khăn trong việc thi hành Luật Quy Hoạch, tạo điều kiện để các địa phương thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội; hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ đã được đề ra.
Ngày 03/04/2019, Bộ tài chính ban hành Thông tư số 18/2019/TT-BTC quy định bãi bỏ thông tư số 134/2014/TT-BTC ngày 12 tháng 9 năm 2014 của Bộ tài chính hướng dẫn thủ tục gia hạn thời hạn nộp thuế và hoàn thuế giá trị gia tăng đối với máy móc, thiết bị nhập khẩu để tạo tài sản cố định của dự án đầu tư có hiệu lực ngày 20/05/2019.
Theo đó, Thông tư số 18/2019/TT-BTC có nội dung nổi bật như sau:
– Bãi bỏ toàn bộ Thông tư số 134/2014/TT-BTC ngày 12/9/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn thủ tục gia hạn thời hạn nộp thuế và hoàn thuế giá trị gia tăng đối với máy móc, thiết bị nhập khẩu để tạo tài sản cố định của dự án đầu tư.
– Đối với Hồ sơ xin gia hạn nộp thuế giá trị gia tăng khâu nhập khẩu theo quy định tại Thông tư số134/2014/TT-BTC ngày 12/9/2014 của Bộ Tài chính mà doanh nghiệp đã nộp cho cơ quan hải quan trước ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành thì cơ quan hải quan tiếp tục giải quyết gia hạn nộp thuế theo quy định tại Thông tư số 134/2014/TT-BTC .
– Đối với Hồ sơ đề nghị hoàn thuế giá trị gia tăng theo quy định tại Thông tư số 134/2014/TT-BTCngày 12/9/2014 của Bộ Tài chính mà doanh nghiệp đã nộp cho cơ quan thuế trước ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành thì cơ quan thuế tiếp tục giải quyết hoàn thuế theo quy định tại Thông tư số 134/2014/TT-BTC
Như vậy, Thông tư số 18/2019/TT-BTC đã bãi bỏ thủ tục gia hạn thời hạn nộp thuế và hoàn thuế giá trị gia tăng đối với máy móc, thiết bị nhập khẩu để tạo tài sản cố định của dự án đầu tư.
Ngày 18/3/2019, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 16/2019/TT-BTC hướng dẫn quản lý, sử dụng kinh phí được trích để thực hiện chế độ ưu tiên đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động của Kiểm toán nhà nước. Thông tư có hiệu lực kể từ ngày 10/5/2019.
Theo đó, Kiểm toán nhà nước sử dụng kinh phí được trích để chi cho các nội dung sau đây:
Chi khuyến khích, thưởng cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động của Kiểm toán nhà nước (ngoài khoản chi khen thưởng hàng năm theo quy định của Luật Thi đua, Khen thưởng) không vượt quá 0,8 lần mức lương do Nhà nước quy định, bao gồm:
– Lương ngạch bậc, chức vụ;
– Các khoản phụ cấp gồm:
• Phụ cấp chức vụ;
• Phụ cấp vượt khung;
• Phụ cấp ưu đãi theo nghề.
Số kinh phí còn lại sau khi khuyến khích, thưởng cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động của Kiểm toán nhà nước được sử dụng để đầu tư cơ sở vật chất và tăng cường năng lực hoạt động của ngành, bao gồm: Chi tăng cường đầu tư xây dựng trụ sở làm việc của Kiểm toán Nhà nước; Bổ sung chi đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn, hội nghị, hội thảo nâng cao nghiệp vụ, tổ chức các đoàn đi học tập kinh nghiệm trong và ngoài nước của kiểm toán viên…
Hướng dẫn mới của Bộ Tài chính đã hạn chế vướng mắc trong quá trình thực hiện quy định về việc quản lý, sử dụng kinh phí cho các chế độ ưu tiên, bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động của Kiểm toán nhà nước.
Ngày 11/04/2019, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 21/2019/TT-BTC hướng dẫn việc bán cổ phần lần đầu và chuyển nhượng vốn nhà nước theo phương thức dựng sổ (book building). Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 03/06/2019.
Nhà đầu tư khi mua cổ phần bán lần đầu của Doanh nghiệp nhà nước theo phương thức dựng sổ phải tiến hành đặt cọc như sau:
– Nhà đầu tư công chúng phải nộp tiền đặt cọc bằng 10% giá trị cổ phần đăng ký mua theo giá mở sổ.
– Nhà đầu tư chiến lược phải số tiền đặt cọc, ký quỹ phải bằng 20% giá trị cổ phần đăng ký mua, tính theo giá khởi điểm trong phương án cổ phần hóa đã được phê duyệt.
Tiền đặt cọc sẽ được trừ vào tổng số tiền phải thanh toán mua cổ phần. Trường hợp số tiền đặt cọc lớn hơn số tiền cần thanh toán thì phần chênh lệch sẽ trả lại cho nhà đầu tư trong vòng 03 ngày sau khi kết thúc thời hạn thanh toán.
Thời hạn thanh toán số cổ phần đăng ký mua là 10 ngày, kể từ ngày công bố kết quả dựng sổ. Nếu nhà đầu tư không thanh toán đủ tiền mua cổ phần đúng hạn, nhà đầu tư sẽ không được trả lại tiền đặt cọc.
Như vậy, Thông tư số 21/2019/TT-BTC đã góp phần xây dựng hành lang pháp lý cụ thể, rõ ràng về điều kiện phải đặt cọc khi mua cổ phần của doanh nghiệp nhà nước của nhà đầu tư.