Nhiều ngân hàng tăng mạnh lãi suất huy động
Với mong muốn bổ sung thêm nguồn vốn trung, dài hạn để phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh cuối năm, đồng thời giảm...
Bùng nổ nhượng quyền thương hiệu vào Việt Nam
Hoạt động nhượng quyền đang được giới kinh doanh vận dụng để đưa các thương hiệu nước ngoài vào thị trường Việt Nam. Ngoài lĩnh...
6 ngành kinh tế phát triển mũi nhọn khu vực miền Trung
Có 6 lĩnh vực kinh tế biển, ven biển đang được các tỉnh miền Trung tập trung phát triển và đã đạt được những kết...
91.9% doanh nghiệp lạc quan về hoạt động sản xuất 6 tháng cuối năm
Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có tỷ lệ doanh nghiệp dự báo về khối lượng sản xuất khả...
Việt Nam chuyển dần từ nhập siêu sang xuất siêu với CPTPP
Với hầu hết các hiệp định thương mại (FTA) đã ký, Việt Nam thường nhập siêu, thì nay, khi thực hiện CPTTP, trong 7 tháng...
Giải đáp pháp luật
Về xử lý hồ sơ đăng ký doanh nghiệp chuyển đổi từ hộ kinh doanh nhận từ hệ thống thông tin quốc gia
Trả lời

Ngày 12/03/2019, Tổng cục Thuế đã ban hành Công văn số 786/TCT-KK quy định về việc hướng dẫn chuyển hộ lên doanh nghiệp theo quy định tại Nghị định số 108/2018/NĐ-CP.
Theo đó, Công văn số 786/TCT-KK đã quy định cụ thể về xử lý hồ sơ đăng ký doanh nghiệp chuyển đổi từ hộ kinh doanh nhận từ hệ thống thông tin quốc gia, cụ thể như sau:
Thứ nhất, khi nhận được giao dịch đăng ký doanh nghiệp (giao dịch 01) của Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp (hệ thống ĐKDN) có thông tin của hộ kinh doanh chuyển thành doanh nghiệp: Hệ thống thông tin thuế kiểm tra thông tin đăng ký của doanh nghiệp, đồng thời, thực hiện đối chiếu thông tin của giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh trước khi chuyển thành doanh nghiệp, đối chiếu thông tin của giấy tờ chứng thực của cá nhân người đại diện hộ kinh doanh (chứng minh thư nhân dân, hoặc căn cước công dân, hoặc hộ chiếu) do hệ thống ĐKDN truyền sang với thông tin đăng ký thuế của hộ kinh doanh.
Thứ hai, sau khi kiểm tra, hệ thống thông tin thuế trả kết quả cho hệ thống ĐKDN như sau:
– Trường hợp thông tin đăng ký doanh nghiệp chuyển đổi từ hộ kinh doanh đầy đủ và khớp đúng: hệ thống thông tin thuế trả thông tin về mã số doanh nghiệp và cơ quan thuế trực tiếp quản lý doanh nghiệp cho hệ thống ĐKDN.
– Trường hợp thông tin đăng ký doanh nghiệp chuyển đổi từ hộ kinh doanh không đầy đủ, không khớp đúng: hệ thống thông tin thuế trả kết quả không cấp mã số doanh nghiệp và thông báo lỗi cho hệ thống ĐKDN để cơ quan đăng ký kinh doanh thông báo cho doanh nghiệp hoàn chỉnh theo quy định.
Qua đây có thể thấy rằng, thời gian kể từ ngày 12/03/2019, Tổng cục Thuế đã đưa ra hướng dẫn Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương triển khai thực hiện Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong việc thành lập doanh nghiệp nhỏ và vừa trên cơ sở chuyển đổi từ hộ kinh doanh.
Quy định này đã góp phần Giảm thiểu thủ tục hành chính trong việc thành lập doanh nghiệp nhỏ và vừa trên cơ sở chuyển đổi từ hộ kinh doanh, thực hiện chủ trương công khai, minh bạch của Nhà nước trong việc quản lý doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa vả nhỏ.

Bản Tin Pháp Luật Số 14/2019
Trả lời

Doanh nghiệp đã ký quỹ 02 tỷ đồng được thực hiện cho thuê lại lao động
Trả lời

Ngày 20/3/2019, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 29/2019/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành khoản 3 Điều 54 Bộ luật lao động về việc cấp phép hoạt động cho thuê lại lao động, việc ký quỹ và danh mục công việc được thực hiện cho thuê lại lao động. Nghị định có hiệu lực kể từ ngày 05/5/2019.

Trong đó, Nghị định quy định cụ thể việc ký quỹ của doanh nghiệp cho thuê lại lao động. Theo đó, tiền ký quỹ được sử dụng để thanh toán tiền lương, trợ cấp, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hoặc bồi thường cho người lao động thuê lại trong trường hợp doanh nghiệp cho thuê vi phạm hợp đồng lao động với người lao động thuê lại hoặc gây thiệt hại cho người lao động do không bảo đảm về quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động thuê lại.

Đồng thời, nghị định đã quy định cụ thể hai điều kiện cấp giấy phép cho thuê lại lao động bao gồm:

  • Đối với người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp phải bảo đảm là người quản lý doanh nghiệp, không được có án tích và đã làm việc trong lĩnh vực cho thuê lại lao động hoặc cung ứng lao động từ đủ 03 năm trở lên trong thời hạn 05 năm liền kề trước khi đề nghị cấp giấy phép;
  • Doanh nghiệp đã thực hiện ký quỹ 2 tỷ Việt Nam đồng tại ngân hàng thương mại hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài thành lập và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam.

Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép phải có các loại tài liệu bao gồm: Văn bản đề nghị cấp giấy phép của doanh nghiệp theo mẫu; Bản sao Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; Bản lý lịch tự thuật của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp theo mẫu; Phiếu lý lịch tư pháp số 1 theo quy định pháp luật về lý lịch tư pháp của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.

Việc cho thuê lại lao động đáp ứng tạm thời sự gia tăng đột ngột về nhu cầu sử dụng lao động trong khoảng thời gian nhất định; thay thế người lao động trong thời gian nghỉ thai sản, bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hoặc phải thực hiện các nghĩa vụ công dân. Ngoài ra, việc cho thuê lại lao động còn nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng lao động trình độ chuyên môn kỹ thuật cao.

Giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu cung cấp sản phẩm, dịch vụ công sử dụng ngân sách nhà nước từ nguồn kinh phí chi thường xuyên
Trả lời

Ngày 10/04/2019 vừa qua Chính Phủ đã ban hành Nghị định số 32/2019/NĐ-CP quy định giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu cung cấp sản phẩm, dịch vụ công sử dụng ngân sách nhà nước từ nguồn kinh phí chi thường xuyên

Theo đó, từ thời điểm ngày 01/06/2019, thời điểm Nghị định có hiệu lực: các Bộ; cơ quan ngang Bộ; các cơ quan thuộc chính phủ; các đơn vị có thẩm quyền sẽ thực hiện việc giao nhiệm vụ đặt hàng, đấu thầu cung cấp sản phẩm, dịch vụ công theo các điều kiện quy định tại Nghị định số 32/2019 nêu trên.

Nghị định quy định cụ thể nguồn kinh phí để phục vụ cho hoạt động cung ứng sản phẩm, dịch vụ công gồm:

nguồn kinh phí ngân sách nhà nước; nguồn phí được để lại chi cho hoạt động cung cấp dịch vụ; nguồn thu dịch vụ sự nghiệp công và các nguồn thu khác nếu có.

Nghị định cũng quy định các dịch vụ sự nghiệp công sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước thực hiện theo các phương thức: Giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu. Còn sản phẩm, dịch vụ công ích thực hiện theo các phương thức: Đặt hàng, đấu thầu (hoặc giao nhiệm vụ trong trường hợp pháp luật chuyên ngành quy định).

Ngoài ra, Nghị định còn quy định cụ thể về điều kiện, thẩm quyền, phương pháp, nội dung của hoạt động giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu cung cấp sản phẩm, dịch vụ công sử dụng ngân sách nhà nước từ nguồn kinh phí chi thường xuyên.

Như vậy với việc ban hành Nghị định số 32/2019/NĐ-CP, Chính phủ đã tiếp tục thể hiện quyết tâm cao trong việc nâng cao tính minh bạch hiệu quả trong việc sử dụng ngân sách nhà nước.

Trình tự và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng
Trả lời

Ngày 31/12/2018, Ngân hàng nhà nước ban hành Thông tư số 51/2018/TT-NHNN quy định điều kiện, hồ sơ, trình tự và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng. Thông tư này có hiệu lực từ ngày 01/03/2019.

Theo đó, Thông tư số 51/2018/TT-NHNN quy định trình tự và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng (Điều 6), cụ thể như sau:

  • Tổ chức tín dụng lập 02 bộ hồ sơ theo quy định tại Điều 5 Thông tư này, gửi Ngân hàng Nhà nước (qua Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng);

Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng có văn bản kèm hồ sơ gửi lấy ý kiến:

  • Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố nơi tổ chức tín dụng đặt trụ sở chính về việc đáp ứng các điều kiện theo quy định tại Thông tư này;
  • Các đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước về việc góp vốn, mua cổ phần, chuyển nợ thành vốn góp của tổ chức tín dụng (nếu cần thiết).
  • Kể từ ngày nhận được văn bản, các cơ quan trên có 10 ngày xem xét và có ý kiến bằng văn bản gửi Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng

Trong thời hạn 14 ngày kể từ ngày nhận được ý kiến các đơn vị có liên quan, Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng thẩm định hồ sơ và trình Thống đốc Ngân hàng Nhà nước;

  • Trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Ngân hàng Nhà nước có văn bản chấp thuận hoặc không chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần, chuyển nợ thành vốn góp của tổ chức tín dụng;
  • Trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày Ngân hàng Nhà nước ra văn bản chấp thuận, tổ chức tín dụng phải hoàn tất việc góp vốn, mua cổ phần, chuyển nợ thành vốn góp.

Tóm lại việc quy định về trình tự và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng tại Thông tư 51/2018/TT-NHNN nhằm tăng cường sự minh mạch về mặt thủ tục, đồng thời, mở ra cơ hội cho các tổ chức, cá nhân đang có dự định đầu tư vào lĩnh vực tài chính – ngân hàng.

Danh mục một số gói thầu, nội dung mua sắm nhằm duy trì hoạt động thường xuyên được áp dụng hình thức lựa chọn nhà thầu trong trường hợp đặc biệt
Trả lời

Ngày 08/04/2019, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định Số 17/2019/QĐ-TTg về một số gói thầu, nội dung mua sắm nhằm duy trì hoạt động thường xuyên được áp dụng hình thức lựa chọn nhà thầu trong trường hợp đặc biệt theo quy định tại Điều 26 Luật Đấu thầu. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày 22/05/2019.

Theo đó, Quyết định Số 17/2019/QĐ-TTg đã quy định cụ thể về một số gói thầu, nội dung mua sắm nhằm duy trì hoạt động thường xuyên được áp dụng hình thức lựa chọn nhà thầy trong trường hợp đặc biệt, trong đó nổi bật là 06 gói thầu, nội dung sau:

  • Gói thầu đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên ngành đặc thù cho cán bộ công chức bao gồm biên soạn giáo trình do cần thiết phải mời cơ quan, đơn vị có thẩm quyền hoặc có chức năng, nhiệm vụ đào tạo chuyên môn được cơ quan có thẩm quyền giao;

Gói thầu cung cấp dịch vụ đào tạo nhân lực của Việt Nam tại nước ngoài do các cơ sở đào tạo tại nước ngoài trực tiếp thực hiện với chuyên môn đặc thù hoặc kỹ thuật chuyên sâu đối với các lĩnh vực văn hóa, khoa học, kỹ thuật, tự nhiên, xã hội;

  • Gói thầu thẩm định giá tài sản liên quan đến các vụ án hình sự cần thực hiện gấp theo yêu cầu của cơ quan điều tra;
  • Mua sắm các chủng loại tài sản, hàng hóa, dịch vụ chỉ do một cơ sở sản xuất; có giá bán thống nhất do Nhà nước quy định (như điện, nước, xăng, dầu, phí vệ sinh môi trường và các dịch vụ tương tự khác), cước điện thoại cố định, bảo trì hệ thống tổng đài điện thoại cố định;
  • Lựa chọn luật sư cung cấp dịch vụ pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích cho Chính phủ hoặc cơ quan nhà nước Việt Nam tại cơ quan tài phán nước ngoài hoặc quốc tế khi Việt Nam là bị đơn trong các vụ kiện quốc tế;
  • Gói thầu có giá gói thầu không quá 50.000.000 đồng.Qua đó thấy rằng, 06 gói thầu, nội dung nổi bật Danh mục hơn 20 gói thầu, nội dung mua sắm nhằm duy trì hoạt động thường xuyên được áp dụng hình thức lựa chọn nhà thầu trong trường hợp đặc biệt sẽ có hiệu lực kể từ ngày 22/05/2019 theo quyết định Số 17/2019/QĐ-TTg. Quy định này đã giúp thực hiện chủ trường công khai, minh bạch trong việc lựa chọn, chỉ định nhà thầu, cũng như xây dựng khung pháp lý cụ thể, nhằm góp phần nâng cao chất lượng quản lý của cơ quan Nhà nước trong việc lựa chọn nhà thầu trong trường hợp đặc biệt.
Điều chỉnh giá bán các mặt hàng xăng dầu kể từ ngày 02/05/2019
Trả lời

Ngày 02/05/2019, Bộ công thương đã ban hành Công văn Số 3006/BCT-TTTN về việc điều hành kinh doanh xăng dầu. Công văn này có hiệu lực từ 16 giờ 00 ngày 02/5/2019.

Theo đó, Công văn Số 3006/BCT-TTTN Điều chỉnh giá bán các mặt hàng xăng dầu kể từ ngày 02/05/2019 như sau:

Theo công văn, Liên Bộ Công Thương – Tài chính cũng có quyết định:

  • Chi sử dụng Quỹ Bình ổn giá xăng dầu: Xăng E5RON92: 925 đồng/lít; Xăng RON95: 283 đồng/lít.Do đó, sau khi thực hiện việc chi sử dụng Quỹ Bình ổn giá xăng dầu, giá bán các mặt hàng xăng dầu tiêu dùng phổ biến trên thị trường không cao hơn mức giá:
    • Xăng E5RON92: không cao hơn 20.688 đồng/lít;
    • Xăng RON95-III: không cao hơn 22.191 đồng/lít;
    • Dầu điêzen 0.05S: không cao hơn 17.695 đồng/lít;
    • Dầu hỏa: không cao hơn 16.625 đồng/lít;
    • Dầu madút 180CST 3.5S: không cao hơn 16.002 đồng/kg.

    Trích lập, chi sử dụng Quỹ Bình ổn giá xăng dầu đối với các mặt hàng xăng dầu: Áp dụng từ 16 giờ 00 ngày 02 tháng 5 năm 2019.

    Qua đó, có thể thấy rằng, thời gian kể từ ngày 02/05/2019, Liên Bộ Công Thương – Tài chính công bố giá cơ sở các mặt hàng xăng dầu tiêu dùng phổ biến trên thị trường. Quy định này đã tác động đến hoạt động kinh doanh của các thương nhân đầu mối kinh doanh xăng dầu, đặt ra “mức trần” đối với giá bán các mặt hàng xăng dầu, tạo ra hoạt động kinh doanh xăng dầu minh bạch, công bằng và đảm bảo mức giá phù hợp với diễn biến thành phẩm xăng dầu trên thế giới và năng lực kinh tế của người dân.

Tổ chức hỗ trợ tư vấn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua mạng lưới tư vấn viên
Trả lời

Ngày 19/29/03/2019, Bộ kế hoạch và đầu tư đã ban hành Thông tư số 06/2019/TT-BKHĐT số Hướng dẫn quy chế và tổ chức hoạt động của mạng lưới tư vấn viên, hỗ trợ tư vấn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua mạng lưới tư vấn viên. Thông tư 06/2019/TT-BKHĐT sẽ có hiệu lực kể từ ngày 12/05/2019
Theo đó, Thông tư 06/2019/TT-BKHĐT quy định về việc tổ chức hỗ trợ tư vấn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua mạng lưới tư vấn viên như sau:
– Doanh nghiệp nhỏ và vừa lựa chọn tổ chức, cá nhân tư vấn thuộc mạng lưới tư vấn viên;
– Tiếp nhận hồ sơ đề nghị hỗ trợ tư vấn;
– Phê duyệt hỗ trợ tư vấn;
– Quản lý, giám sát, đánh giá thực hiện hoạt động tư vấn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Bên cạnh đó, Các Bộ và cơ quan ngang Bộ sẽ xây dựng các phần mềm trực tuyến để tổ chức, cá nhân đủ điều kiện đăng ký và được công nhận tự động vào mạng lưới tư vấn viên.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể tra thông tin về mạng lưới tư vấn viên, bao gồm tên tổ chức/cá nhân tư vấn; số đăng ký và hồ sơ năng lực tư vấn tại:
– Các trang thông tin điện tử của các Bộ và cơ quan ngang Bộ có mạng lưới tư vấn viên;
– Cổng thông tin quốc gia hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Như vậy, Thông tư 06/2019/TT-BKHĐT không những cụ thể hóa quy định tại Điều 13 Nghị định 39/2018/NĐ-CP về việc hỗ trợ tư vấn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa mà còn tạo một hành lang pháp lý chuẩn mực cho hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ. Quy định này tạo điều kiện tối đa đối và thể hiện mức độ ưu tiên của Nhà nước để phát triển mô hình doanh nghiệp này cùng với định hướng phát triển nền kinh tế tại Việt Nam.

Bản Tin Pháp Luật Số 13/2019
Trả lời

Tiêu chí nhập khẩu đối với dây chuyền công nghệ đã qua sử dụng
Trả lời

Ngày 19/04/2019, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 18/2019/QĐ-TTg quy định về nhập khẩu máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ đã qua sử dụng. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày 15/6/2019.
Theo đó, Quyết định số 18/2019/QĐ-TTg đã quy định cụ thể về Tiêu chí nhập khẩu đối với dây chuyền công nghệ đã qua sử dụng, được phép nhập khẩu khi đáp ứng các tiêu chí sau:
Được sản xuất theo tiêu chuẩn:
Phù hợp với quy định của quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) về an toàn, tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường;
Trường hợp không có quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) liên quan đến dây chuyền công nghệ nhập khẩu, thì dây chuyền công nghệ phải được sản xuất theo tiêu chuẩn phù hợp với chỉ tiêu kỹ thuật của tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) của Việt Nam hoặc tiêu chuẩn quốc gia của một trong các nước G7, Hàn Quốc về an toàn, tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường.
Công suất (tính theo số lượng sản phẩm được tạo ra bởi dây chuyền công nghệ trong một đơn vị thời gian) hoặc hiệu suất còn lại phải đạt từ 85% trở lên so với công suất hoặc hiệu suất thiết kế.
Mức tiêu hao nguyên, vật liệu, năng lượng không vượt quá 15% so với thiết kế.
Công nghệ của dây chuyền công nghệ không thuộc Danh mục công nghệ cấm chuyển giao, Danh mục công nghệ hạn chế chuyển giao quy định tại Nghị định số 76/2018/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ.
Công nghệ của dây chuyền công nghệ phải đang được sử dụng tại ít nhất 03 cơ sở sản xuất trong các nước thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD).
Qua đó, có thể thấy rằng, thời gian kể từ ngày 15/6/2019, Thủ tướng chính phủ đã quy định rõ về tiêu chí nhập khẩu đối với dây chuyền công nghệ đã qua sử dụng, được phép nhập khẩu.
Quy định này đã góp phần tháo gỡ các vướng mắc của nhà đầu tư khi có nhu cầu nhập khẩu dây chuyền công nghệ đã qua sử dụng, tạo thuận lợi cho nhà đầu tư được nhập khẩu theo tiêu chí rõ ràng, minh bạch, góp phần thúc đẩy sản xuất công nghiệp, giảm tải chi phí cho nhà đầu tư, kinh doanh.