Ngày 15/3/2019, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 13/2019/TT-BTC sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 180/2015/TT-BTC ngày 13 tháng 11 năm 2015 hướng dẫn về đăng ký giao dịch chứng khoán trên hệ thống giao dịch cho chứng khoán chưa niêm yết. Thông tư có hiệu lực kể từ ngày 01/05/2019.
Theo đó, Thông tư đã quy định bổ sung 02 trường hợp chứng khoán bị hủy đăng ký trên sàn Upcom, nâng tổng số lên 6 trường hợp, cụ thể:
a) Tổ chức đăng ký giao dịch không còn đáp ứng điều kiện là công ty đại chúng theo thông báo hủy đăng ký công ty đại chúng của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước;
b) Tổ chức đăng ký giao dịch chấm dứt sự tồn tại do bị sáp nhập, hợp nhất, chia, giải thể hoặc phá sản;
c) Tổ chức đăng ký giao dịch bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc giấy phép thành lập và hoạt động trong lĩnh vực chuyên ngành;
d) Tổ chức đăng ký giao dịch được chấp thuận niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán;
đ) Doanh nghiệp cổ phần hóa theo phương thức chào bán chứng khoán ra công chúng đăng ký giao dịch trên hệ thống giao dịch Upcom và được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp sẽ bị hủy đăng ký giao dịch sau một (01) năm kể từ ngày không đáp ứng điều kiện về vốn hoặc cổ đông theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 25 Luật Chứng khoán hoặc cả hai điều kiện trên.
e) Doanh nghiệp cổ phần hóa đăng ký giao dịch trên hệ thống giao dịch Upcom và được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp trước ngày Thông tư này có hiệu lực, nếu không đáp ứng điều kiện về vốn hoặc cổ đông theo quy định tại điểm đ Khoản 1 Điều 6 Thông tư này sẽ bị hủy đăng ký giao dịch trong vòng một (01) năm kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực.
Bên cạnh đó, Thông tư cũng đã sửa đổi quy định về thời hạn đăng ký giao dịch chứng khoán Trong vòng 30 ngày kể từ ngày kết thúc đợt chào bán chứng khoán ra công chúng theo quy định pháp luật về chứng khoán, công ty đại chúng chưa niêm yết chứng khoán phải hoàn tất việc đăng ký chứng khoán tại Trung tâm Lưu ký Chứng khoán Việt Nam và đăng ký giao dịch trên Hệ thống giao dịch Upcom.
Quy định mới của Bộ tài chính giúp hoàn thiện quy trình, thủ tục, hồ sơ theo hướng tạo điều kiện hỗ trợ doanh nghiệp đăng ký giao dịch trên thị trường Upcom, đặc biệt là các doanh nghiệp Nhà nước cổ phần hóa.
Ngày 07/3/2019, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 25/2019/NĐ-CP về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 13/2011/NĐ-CP ngày 11/02/2011 của Chính phủ về an toàn công trình dầu khí trên đất liền. Nghị định có hiệu lực kể từ ngày 22/4/2019.
Theo đó, Nghị định đã quy định cụ thể về khoảng cách an toàn của các công trình dầu khí, không được thực hiện các hoạt động có nguy cơ gây hại trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động và sự an toàn của các công trình dầu khí bao gồm: Các hoạt động có khả năng gây cháy nổ, sụt lún, chuyển vị, các hoạt động đào bới, gây ảnh hưởng tới đường ống; Trồng cây; Thải các chất ăn mòn; Tổ chức hội họp đông người, các hoạt động tham quan, du lịch khi chưa được sự cho phép của cơ quan có thẩm quyền.
Việc neo đỗ phương tiện vận tải đường thủy, hàng hải, đánh bắt thủy hải sản, khai thác cát, nạo vét hoặc các hoạt động khác dưới nước có thể gây cản trở đến hoạt động, sự an toàn của công trình dầu khí và các phương tiện ra, vào công trình dầu khí, trừ trường hợp các hoạt động kiểm soát dòng thủy lưu và hoạt động giao thông, vận chuyển trên sông cũng không được thực hiện.
Bên cạnh đó, không cho phép các hoạt động neo đỗ phương tiện vận tải đường thủy, hàng hải, đánh bắt thủy hải sản, khai thác cát, nạo vét hoặc các hoạt động khác dưới nước có thể gây nguy hại đến đường ống; trừ trường hợp các hoạt động kiểm soát dòng thủy lưu và hoạt động, vận chuyển trên sông.
Quy định mới về yêu cầu an toàn tại các công trình dầu khí có ý nghĩa rất lớn trong việc đảm bảo an toàn lao động, bảo đảm sư an toàn về sức khỏe cho người dân, bảo vệ môi trường tại khu vực gần các công trình dầu khí, đảm bảo an toàn cho các cán bộ, công nhân đang làm việc tại công trình.
Ngày 15/03/2019, Bộ Tài Chính, đã ban hành Thông tư số 13/2019/TT-BTC sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 180/2015/TT-BTC hướng dẫn về đăng ký giao dịch chứng khoán trên hệ thống giao dịch cho chứng khoán chưa niêm yết. Thông tư có hiệu lực từ 01/05/2019.
Theo đó, Thông tư số 13/2019/TT-BTC đưa ra những thay đổi về đăng ký giao dịch khi thay đổi số lượng chứng khoán so với Thông tư 180/2015/TT-BTC như sau:
Thông tư số 13/2019/TT-BTC đã sửa đổi theo hướng, tổ chức đăng ký giao dịch thực hiện thay đổi đăng ký giao dịch khi thay đổi số lượng chứng khoán đăng ký giao dịch trên Sở giao dịch chứng khoán. Quy định này đã bao hàm các trường hợp thay đổi đăng ký giao dịch, bao gồm cả trường hợp tăng hoặc giảm số lượng chứng khoán đưa vào đăng ký giao dịch.
Theo quy định cũ, các trường hợp thay đổi đăng ký giao dịch bao gồm: “Tổ chức đăng ký giao dịch thực hiện tách, gộp cổ phiếu, phát hành thêm cổ phiếu để trả cổ tức hoặc cổ phiếu thưởng hoặc chào bán quyền mua cổ phần cho cổ đông hiện hữu để tăng vốn điều lệ; Tổ chức đăng ký giao dịch bị tách hoặc nhận sáp nhập doanh nghiệp”, chưa bao quát được hết các trường hợp thay đổi về số lượng cổ phiếu đăng ký giao dịch.
Như vậy, Thông tư 13/2019/TT-BTC được ban hành đã bao hàm các trường hợp thay đổi đăng ký giao dịch (cả trường hợp tăng hoặc giảm số lượng chứng khoán đưa vào đăng ký giao dịch) thay vì chỉ liệt kê 2 trường hợp đăng ký thay đổi giao dịch như Thông tư cũ. Việc sửa đổi này hoàn toàn phù hợp hiện trạng thực tế giao dịch về chứng khoán.
Ngày 03/4/2019, Trung tâm công nghệ thông tin – BHXH Việt Nam có Công văn 330/CNTT-PM gửi các cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương về việc triển khai Hệ thống tương tác đa phương tiện giữa người dân và doanh nghiệp với cơ quan bảo hiểm xã hội.
Theo Công văn số 330/CNTT-PM, từ ngày 03/4/2019, người lao động có thể tự tra cứu thông tin bảo hiểm xã hội (BHXH) của mình thông qua điện thoại di động bằng cách nhắn tin theo các cú pháp sau:
1. Tra cứu thời gian tham gia BHXH: TC<dấu cách>BHXH<dấu cách>Mã số BHXH gửi đến 8179
Ví dụ: Soạn tin nhắn TC BHXH 0110129425 gửi 8179; Nội dung thông tin nhận được: Mã số BHXH: 0110129425; Thời gian tham gia BHXH: 09 năm 07 tháng; Thời gian tham gia BHTN: 08 năm 08 tháng.
2. Tra cứu thời gian tham gia BHXH theo khoảng thời gian: TC<dấu cách>BHXH<dấu cách>{mã số BHXH}<dấu cách>{từ tháng-năm}<dấu cách>{đến tháng-năm}
Ví dụ: Soạn tin nhắn với cú pháp TC BHXH 0110129425 012016 122017 và gửi đến 8179.
3. Tra cứu thời gian tham gia BHXH theo khoảng thời gian theo năm: TC<dấu cách>BHXH<dấu cách>{mã số bảo hiểm xã hội}<dấu cách>{từ năm}<dấu cách>{đến năm}
Ví dụ: Soạn tin nhắn với cú pháp TC BHXH 0110129425 2017 2018 gửi 8179.
Công văn số 330/CNTT-PM ngày 03/4/2019 được ban hành nhằm triển khai thực hiện Quyết định số 681/QĐ-BHXH ngày 18/05/2018 của Bảo hiểm xã hội Việt Nam về việc phê duyệt Kế hoạch thuê dịch vụ công nghệ thông tin “Hệ thống tương tác đa phương tiện giữa người dân và doanh nghiệp với cơ quan Bảo hiểm xã hội”.
Ngày 27/3/2019, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quyết định số 758/QĐ-BGDĐT về việc công bố danh mục điều kiện đầu tư kinh doanh đối với ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Quyết định có hiệu lực kể từ ngày ký.
Theo đó, trường tiểu học phải đáp ứng các điều kiện sau để hoạt động giáo dục:
Có Quyết định về việc thành lập hoặc cho phép thành lập trường;
Đất đai, trường sở, cơ sở vật chất, thiết bị phải đáp ứng yêu cầu hoạt động giáo dục như quy định tại Khoản 12 Điều 1 Nghị định số 135/2018/NĐ-CP;
Địa điểm xây dựng trường bảo đảm môi trường giáo dục an toàn cho người học, người dạy và người lao động;
Có chương trình giáo dục và tài liệu giảng dạy, học tập theo quy định phù hợp với giáo dục tiểu học.
Có đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý, nhân viên đạt tiêu chuẩn, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, bảo đảm thực hiện chương trình giáo dục.
Có đủ nguồn lực tài chính theo quy định để bảo đảm duy trì và phát triển hoạt động giáo dục.
Quyết định số 758/QĐ-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển cho hoạt động giao dục, hoạt động đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo.
Ngày 08/04/2019, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định Số 17/2019/QĐ-TTg về một số gói thầu, nội dung mua sắm nhằm duy trì hoạt động thường xuyên được áp dụng hình thức lựa chọn nhà thầu trong trường hợp đặc biệt theo quy định tại Điều 26 Luật Đấu thầu. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày 22/05/2019.
Theo đó, Quyết định Số 17/2019/QĐ-TTg đã quy định cụ thể về một số gói thầu, nội dung mua sắm nhằm duy trì hoạt động thường xuyên được áp dụng hình thức lựa chọn nhà thầy trong trường hợp đặc biệt, trong đó nổi bật là 06 gói thầu, nội dung sau:
Gói thầu đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên ngành đặc thù cho cán bộ công chức bao gồm biên soạn giáo trình do cần thiết phải mời cơ quan, đơn vị có thẩm quyền hoặc có chức năng, nhiệm vụ đào tạo chuyên môn được cơ quan có thẩm quyền giao;
Gói thầu cung cấp dịch vụ đào tạo nhân lực của Việt Nam tại nước ngoài do các cơ sở đào tạo tại nước ngoài trực tiếp thực hiện với chuyên môn đặc thù hoặc kỹ thuật chuyên sâu đối với các lĩnh vực văn hóa, khoa học, kỹ thuật, tự nhiên, xã hội;
Gói thầu thẩm định giá tài sản liên quan đến các vụ án hình sự cần thực hiện gấp theo yêu cầu của cơ quan điều tra;
Mua sắm các chủng loại tài sản, hàng hóa, dịch vụ chỉ do một cơ sở sản xuất; có giá bán thống nhất do Nhà nước quy định (như điện, nước, xăng, dầu, phí vệ sinh môi trường và các dịch vụ tương tự khác), cước điện thoại cố định, bảo trì hệ thống tổng đài điện thoại cố định;
Lựa chọn luật sư cung cấp dịch vụ pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích cho Chính phủ hoặc cơ quan nhà nước Việt Nam tại cơ quan tài phán nước ngoài hoặc quốc tế khi Việt Nam là bị đơn trong các vụ kiện quốc tế;
Gói thầu có giá gói thầu không quá 50.000.000 đồng.
Qua đó thấy rằng, 06 gói thầu, nội dung nổi bật Danh mục hơn 20 gói thầu, nội dung mua sắm nhằm duy trì hoạt động thường xuyên được áp dụng hình thức lựa chọn nhà thầu trong trường hợp đặc biệt sẽ có hiệu lực kể từ ngày 22/05/2019 theo quyết định Số 17/2019/QĐ-TTg. Quy định này đã giúp thực hiện chủ trường công khai, minh bạch trong việc lựa chọn, chỉ định nhà thầu, cũng như xây dựng khung pháp lý cụ thể, nhằm góp phần nâng cao chất lượng quản lý của cơ quan Nhà nước trong việc lựa chọn nhà thầu trong trường hợp đặc biệt.
Ngày 29/03/2019, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành Thông tư 04/2019/TT-NHNN sửa đổi thông tư số 24/2013/TT-NHNN quy định về phân loại tài sản có và cam kết ngoại bảng của Ngân hàng Phát triển Việt Nam do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành. Thông tư có hiệu lực từ ngày 15/05/2019.
Theo đó, Thông tư 04/2019/TT-NHNN sửa đổi phạm vi điều chỉnh của Thông tư số 24/2013/TT-NHNN như sau:
Thông tư này quy định về việc phân loại tài sản có (sau đây gọi tắt là nợ) và cam kết ngoại bảng của Ngân hàng Phát triển Việt Nam.
Nợ phải được phân loại quy định tại Thông tư này bao gồm:
Cho vay tín dụng đầu tư của Nhà nước;
Cho vay tín dụng xuất khẩu của Nhà nước theo hợp đồng ký kết trước thời điểm Nghị định số 32/2017/NĐ-CP ngày 31 tháng 3 năm 2017 của Chính phủ về tín dụng đầu tư của Nhà nước có hiệu lực;
Cho vay lại vốn vay nước ngoài của Chính phủ;
Ủy thác cho vay;
Cho vay khác;
Các khoản trả thay theo cam kết ngoại bảng.
Các khoản bảo lãnh vay vốn ngân hàng thương mại (sau đây gọi tắt là các cam kết ngoại bảng) phải được phân loại theo Thông tư này để quản lý, giám sát chất lượng hoạt động cấp tín dụng của Ngân hàng Phát triển Việt Nam.
Đối với các khoản nợ, các cam kết ngoại bảng quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều này nhưng Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ có chỉ đạo về việc phân loại thì thực hiện theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
Như vậy, Ngân hàng nhà nước đã có những điều chỉnh, sửa đổi phủ hợp với thực tế thực hiện và xu hướng quốc tế hiện nay.
Ngày 22/01/2019 vừa qua Chính Phủ đã ban hành Nghị định số 05/2019/NĐ-CP về kiểm toán nội bộ. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 01/04/2019.
Theo đó, Điều 10 Nghị định 05/2019/NĐ-CP quy định các đơn vị sau đây phải thực hiện công tác kiểm toán nội bộ, bao gồm:
Công ty niêm yết;
Doanh nghiệp mà nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ là công ty mẹ hoạt động theo mô hình công ty mẹ – công ty con;
Doanh nghiệp nhà nước là công ty mẹ hoạt động theo mô hình công ty mẹ – công ty con.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp không thuộc những trường hợp trên được khuyến khích thực hiện công tác kiểm toán nội bộ.
Các doanh nghiệp trên có thể đi thuê tổ chức kiểm toán độc lập đủ điều kiện hoạt động kiểm toán theo quy định của pháp luật để cung cấp dịch vụ kiểm toán nội bộ. Trường hợp doanh nghiệp đi thuê tổ chức kiểm toán độc lập để cung cấp dịch vụ kiểm toán nội bộ phải đảm bảo các nguyên tắc cơ bản của kiểm toán nội bộ và các yêu cầu nhằm đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của kiểm toán nội bộ.
Như vậy, với việc ban hành Nghị định 05/2019 nêu trên, Chính phủ đã xây dựng một khung pháp lý cho hoạt động kiểm toán nội bộ, góp phần nâng cao tính minh bạch trong hoạt động quản trị doanh nghiệp.
Ngày 15/03/2019, Bộ Tư Pháp, đã ban hành Thông tư số 02/2019/TT-BTP quy định nghĩa vụ tham gia bồi dưỡng bắt buộc về chuyên môn, nghiệp vụ của luật sư. Thông tư có hiệu lực từ 05/05/2019
Theo đó, Thông tư số 02/2019/TT-BTP đưa ra nhiều quy định mới nổi bật so với Thông tư 10/2014/TT-BTP như sau:
Giảm thời gian tham gia bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ của luật sư tối thiểu là 8 giờ/năm (thay vì quy định hiện hành là 16 giờ/năm).
Quy định mới về thời gian quy đổi tham gia bồi dưỡng trong năm đó (điểm này chưa được quy định tại Thông tư 10/2014/TT-BTP). Cụ thể những trường hợp sau:
Viết bài nghiên cứu pháp luật được đăng trên các tạp chí chuyên ngành luật trong nước và ngoài nước;…
Tham gia giảng dạy về pháp luật, kỹ năng hành nghề luật sư, đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư tại cơ sở đào tạo cử nhân luật, cơ sở đào tạo nghề luật sư;…
Tham gia và hoàn thành chương trình đào tạo chức danh tư pháp;
Tham gia và hoàn thành khóa bồi dưỡng chuyên môn, nghịêp vụ về luật sư và hành nghề luật sư ở nước ngoài;
Tham gia các chương trình tập huấn, hội thảo, tọa đàm từ 01 ngày trở lên về các nội dung quy định tại Điều 3 Thông tư 02/2019 do Sở Tư pháp, Cục Bổ trợ tư pháp tổ chức.
(01 lần tham gia và hoàn thành được ước tính bằng 08 giờ thực hiện nghĩa vụ bồi dưỡng)
Như vậy, Thông tư 02/2019/TT-BTP được ban hành đã tạo một cơ chế mở về những phương thức bồi dưỡng nâng cao nhiệp vụ và cho phép việc quy đổi thời gian tham gia đào tạo bắt buộc về chuyên môn, nghiệp vụ của Luật sư. Quy định này vừa đảm bảo bảo được việc nâng cao kiến thức chuyên môn nghiệp vụ của luật sư và cũng phù hợp với hiện trạng tình hình hoạt động của luật sư trên thực tế.