Ngày 24/6/2020, Chính phủ ban hành Nghị định 68/2020/NĐ-CP sửa đổi Khoản 3 Điều 8 Nghị định 20/2017/NĐ-CP quy định về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết.
Theo đó, sửa đổi bổ sung quy định về tổng chi phí lãi vay được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết như sau:
Tổng chi phí lãi vay (sau khi trừ lãi tiền gửi và lãi cho vay) phát sinh trong kỳ được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp không vượt quá 30% của tổng lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh trong kỳ cộng với chi phí lãi vay (sau khi trừ lãi tiền gửi và lãi cho vay) phát sinh trong kỳ cộng chi phí khấu hao phát sinh trong kỳ.
Phần chi phí lãi vay không được trừ được chuyển sang kỳ tính thuế tiếp theo khi xác định tổng chi phí lãi vay được trừ trong trường hợp tổng chi phí lãi vay phát sinh được trừ của kỳ tính thuế tiếp theo thấp hơn mức quy định nêu trên. Thời gian chuyển chi phí lãi vay tính liên tục không quá 05 năm kể từ năm tiếp sau năm phát sinh chi phí lãi vay không được trừ.
Quy định trên không áp dụng đối với các khoản vay của người nộp thuế là:
Tổ chức tín dụng theo Luật các tổ chức tín dụng;
Tổ chức kinh doanh bảo hiểm theo Luật kinh doanh bảo hiểm;
Các khoản vay vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA);
Vay ưu đãi của Chính phủ thực hiện theo phương thức Chính phủ đi vay nước ngoài cho các doanh nghiệp vay lại;
Các khoản vay thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia (chương trình nông thôn mới và giảm nghèo bền vững);
Các khoản vay đầu tư chương trình, dự án thực hiện chính sách phúc lợi xã hội của Nhà nước (nhà ở tái định cư, nhà ở công nhân, sinh viên và dự án phúc lợi công cộng khác).
Nghị định 68/2020/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ 24/6/2020 và áp dụng cho kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp 2019.
Ngày 10/6/2020, Chính Phủ ban hành Nghị định 65/2020/NĐ-CP về tổ chức quản lý và các chế độ đối với người lưu trú tại cơ sở lưu trú trong thời gian chờ xuất cảnh, Nghị định có hiệu lực kể từ ngày 15/6/2020.
Nghị định này quy định chi tiết về tổ chức quản lý và các chế độ (bao gồm chế độ ăn, mặc, ở, sinh hoạt, liên lạc, thăm gặp, nhận quà, khám bệnh, chữa bệnh, chi phí mai táng) đối với người chấp hành án phạt trục xuất, người nước ngoài bị áp dụng hình thức xử phạt vi phạm hành chính là trục xuất và người nước ngoài đã chấp hành xong án phạt tù lưu trú tại cơ sở lưu trú của Bộ Công an trong thời gian chờ làm thủ tục xuất cảnh (gọi chung là người lưu trú).
Theo đó, chế độ ở của người lưu trú tại cơ sở lưu trú trong thời gian chờ xuất cảnh được quy định như sau:
Người lưu trú được bố trí ở buồng tập thể theo giới tính (nam, nữ);
Diện tích chỗ nằm tối thiểu là 03 m2/người, trường hợp có con nhỏ ở cùng thì được bố trí chỗ nằm tối thiểu là 04 m2, có bệ gạch men hoặc giường, có phòng vệ sinh, có chiếu, chăn và màn.
Người lưu trú là người đồng tính, người chuyển đổi giới tính, người chưa xác định rõ giới tính có thể được bố trí ở riêng.
Người lưu trú thuộc một trong các trường hợp sau đây thì được bố trí ở riêng trong phòng cách ly:
Người lưu trú mắc bệnh truyền nhiễm nhóm A và một số bệnh truyền nhiễm nhóm B theo quy định của pháp luật về phòng, chống bệnh truyền nhiễm (Bệnh truyền nhiễm nhóm A và Nhóm B được quy định chi tiết tại Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm được Quốc Hội khóa 12 ban hành ngày 21/11/2007)
Người mắc bệnh tâm thần, bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình.
Ngày 27/5/2020 Chính phủ ban hành Nghị định 58/2020/NĐ-CP quy định mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp (“Nghị định 58/2020/NĐ-CP”). Theo nội dung tại Nghị định 58/2020/NĐ-CP:
Các mức đóng Qũy bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp của NSDLĐ như sau:
Mức đóng bình thường bằng 0,5% quỹ tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội; đồng thời được áp dụng đối với người lao động là cán bộ, công chức, viên chức và người thuộc lực lượng vũ trang thuộc các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội, quân đội, công an, đơn vị sự nghiệp công lập sử dụng ngân sách nhà nước;
Mức đóng bằng 0,3% quỹ tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội được áp dụng đối với doanh nghiệp bảo đảm điều kiện theo quy định tại Nghị định 58/2020/NĐ-CP.
Điều kiện để được áp dụng mức đóng thấp hơn mức đóng bình thường vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp:
Doanh nghiệp hoạt động trong các ngành nghề có nguy cơ cao về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp được áp dụng mức đóng 0,3% quỹ tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội nếu bảo đảm các điều kiện sau đây:
Trong vòng 03 năm tính đến thời điểm đề xuất không bị xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền, không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi vi phạm pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động và bảo hiểm xã hội;
Thực hiện việc báo cáo định kỳ tai nạn lao động và báo cáo về an toàn, vệ sinh lao động chính xác, đầy đủ, đúng thời hạn trong 03 năm liền kề trước năm đề xuất;
Tần suất tai nạn lao động của năm liền kề trước năm đề xuất phải giảm từ 15% trở lên so với tần suất tai nạn lao động trung bình của 03 năm liền kề trước năm đề xuất hoặc không để xảy ra tai nạn lao động tính từ 03 năm liền kề trước năm đề xuất.
Nghị định 58/2020/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 15 tháng 7 năm 2020. Các quy định tại Nghị định số 44/2017/NĐ-CP ngày 14 tháng 4 năm 2017 của Chính phủ quy định mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và điểm b khoản 1 Điều 13 Nghị định số 143/2018/NĐ-CP ngày 15 tháng 10 năm 2018 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Bảo hiểm xã hội và Luật An toàn, vệ sinh lao động về bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với người lao động là công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam hết hiệu lực từ khi Nghị định này có hiệu lực.
Ngày 2/6/2020 Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết 954/2020/UBTVQH14 về điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh của thuế thu nhập cá nhân. Theo đó, mức giảm trừ gia cảnh quy định tại Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007 đã được sửa đổi, bổ sung như sau:
Mức giảm trừ đối với bản thân người nộp thuế là 11 triệu đồng/tháng (132 triệu đồng/năm). Trong khi đó, mức giảm trừ đối với bản thân người nộp thuế được quy định hiện hành là 9 triệu đồng/tháng (108 triệu đồng/năm).
Mức giảm trừ đối với mỗi người phụ thuộc là 4,4 triệu đồng/tháng. Hiện hành mức giảm trừ này là 3,6 triệu đồng/tháng.
Như vậy, quy định mới tại Nghị quyết số 954/2020/UBTVQH14 đã tăng mức giảm trừ đối với đối tượng nộp thuế thêm 2 triệu đồng/tháng và đối với mỗi người phụ thuộc thêm 800 nghìn đồng/tháng.
Đối với các trường hợp đã tạm nộp thuế theo mức giảm trừ gia cảnh hiện hành được xác định lại số thuế thu nhập cá nhân phải nộp theo mức giảm trừ gia cảnh tại Nghị quyết 954/2020/UBTVQH14 khi quyết toán thuế thu nhập cá nhân năm 2020.
Nghị quyết này có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2020 và áp dụng từ kỳ tính thuế năm 2020.
Ngày 25/5/2020 Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 80/NĐ-CP về miễn thị thực cho người nước ngoài vào khu kinh tế Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
Theo đó, Chính phủ quy định Khu kinh tế Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang là Khu kinh tế ven biển được áp dụng chính sách miễn thị thực cho người nước ngoài khi nhập cảnh theo quy định tại khoản 7 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam ngày 25 tháng 11 năm 2019.
Cụ thể, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam đã quy định điều kiện đối với trường hợp được miễn thị thực như sau: Vào khu kinh tế ven biển do Chính phủ quyết định khi đáp ứng đủ các điều kiện: có sân bay quốc tế; có không gian riêng biệt; có ranh giới địa lý xác định, cách biệt với đất liền; phù hợp với chính sách phát triển kinh tế – xã hội và không làm phương hại đến quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội của Việt Nam.
Như vậy, Khu kinh tế Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang là Khu kinh tế ven biển được áp dụng chính sách miễn thị thực khi nhập cảnh đối với người nước ngoài theo qui định.
Nghị quyết số 80/NĐ-CP chính thức có hiệu lực áp dụng kể từ ngày 01/7/2020.
Ngày 8/4/2020, Chính phủ ban hành Nghị định số 44/2020/NĐ-CP quy định về cưỡng chế thi hành án đối với pháp nhân thương mại. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 01/6/2020 quy định về nguyên tắc, biện pháp, trình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án đối với pháp nhân thương mại được quy định tại Điều 163 Luật Thi hành án hình sự.
Các biện pháp cưỡng chế thi hành án áp dụng đối với pháp nhân thương mại gồm: Phong tỏa tài khoản; kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền bảo đảm thi hành cưỡng chế biện pháp tư pháp (kê biên tài sản); tạm giữ tài liệu, chứng từ, thiết bị chứa dữ liệu điện tử; tạm giữ hoặc thu hồi con dấu của pháp nhân thương mại.
Theo Nghị định số 44/2020/NĐ-CP có 4 loại tài sản không được kê biên cưỡng chế thi hành án thương mại gồm:
Tài sản bị cấm lưu thông theo quy định của pháp luật; tài sản phục vụ quốc phòng, an ninh, lợi ích công cộng; tài sản do ngân sách Nhà nước cấp cho cơ quan, tổ chức;
Số thuốc phục vụ phòng, chữa bệnh cho người lao động; lương thực, thực phẩm, dụng cụ và tài sản khác phục vụ bữa ăn cho người lao động;
Nhà trẻ, trường học, cơ sở y tế và thiết bị, phương tiện, tài sản khác thuộc các cơ sở này nếu không phải là tài sản để kinh doanh;
Trang thiết bị, phương tiện, công cụ bảo đảm an toàn lao động, phòng, chống cháy nổ, phòng, chống ô nhiễm môi trường.
Nghị định cũng nêu rõ, trường hợp pháp nhân thương mại không còn tài sản nào khác hoặc có tài sản nhưng không đủ để thi hành án, cơ quan thi hành án hình sự có quyền kê biên, xử lý tài sản đang cầm cố, thế chấp nếu giá trị của tài sản đó lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm và chi phí cưỡng chế thi hành án.
Thông tư số 10/2020/TT-BCT ngày 15/6/2020 của Bộ Công thương đã quy định về việc bãi bỏ Thông tư số 03/2014/TT-BCT ngày 25/01/2014 của Bộ trưởng Bộ Công Thương quy định về công nghệ, thiết bị sản xuất gang, thép.
Trước đây, theo Thông tư số 03/2014/TT-BCT, các cơ sở sản xuất gang, thép; bao gồm: luyện than cốc, thiêu kết, luyện gang, luyện thép lò chuyển, luyện thép lò điện hồ quang, luyện thép lò điện cảm ứng và cán thép phải đáp ứng được các yêu cầu về công nghệ, thiết bị sản xuất gang, thép, cụ thể như sau:
Tuân thủ các quy định của pháp luật về đầu tư, xây dựng và quản lý chất lượng công trình;
Công nghệ, thiết bị sử dụng tại cơ sở sản xuất gang, thép phải đồng bộ, đáp ứng quy định của pháp luật về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả;
Đảm bảo an toàn về phòng chống cháy nổ;
Tuân thủ các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và các quy định về bảo vệ môi trường.
Thông tư số 03/2014/TT-BCT cũng quy định: Khi lập dự án đầu tư xây dựng cơ sở sản xuất gang, thép, tổ chức, cá nhân đầu tư (Chủ đầu tư) phải có thuyết minh về công nghệ, thiết bị của dự án đầu tư đáp ứng các quy định tại Thông tư này, trình cấp có thẩm quyền thẩm tra cấp Giấy chứng nhận đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư. Sau khi dự án đầu tư đi vào sản xuất, hàng năm (trước ngày 31 tháng 01) Chủ đầu tư có trách nhiệm báo cáo Vụ Công nghiệp nặng, Bộ Công Thương và Sở Công Thương tại địa phương kết quả thực hiện được quy định tại Phụ lục IV ban hành kèm theo Thông tư này.
Theo đó, những nội dung yêu cầu trên tại Thông tư số 03/2014/TT-BCT sẽ được bãi bỏ ngay khi Thông tư số 10/2020/TT-BCT có hiệu lực. Điều này được hiểu là các yêu cầu về công nghệ, xử lý khí thải, chất thải, nước thải trong các cơ sở luyện gang thép không còn bắt buộc áp dụng.
Thông tư số 10/2020/TT-BCT có hiệu lực thi hành kể từ ngày 31/7/2020.
Ngày 12 tháng 11 năm 2018, Bộ Công Thương ban hành Quyết định số 4244/QĐ-BCT về việc giữ nguyên việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với một số sản phẩm thép mạ có xuất xứ từ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và nước Đại Hàn Dân quốc.
Căn cứ khoản 1 Điều 58 Nghị định 10/2018/NĐ-CP ngày 15 tháng 01 năm 2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý ngoại thương về các biện pháp phòng vệ thương mại, ngày 13 tháng 9 năm 2019, Bộ Công Thương đã thông báo công khai trên trang thông tin điện tử của Bộ và Cục Phòng vệ thương mại (Cơ quan điều tra) về việc chính thức tiếp nhận hồ sơ yêu cầu rà soát theo đề nghị của bên liên quan. Sau khi nhận được hồ sơ đề nghị rà soát từ các bên liên quan, căn cứ quy định tại Khoản 1 Điều 82 Luật Quản lý ngoại Thương, ngày 27 tháng 12 năm 2019, Bộ Công Thương ban hành Quyết định số 3859/QĐ-BCT về việc rà soát lần thứ nhất việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá một số sản phẩm thép mạ thuộc mã HS: 7210.41.11; 7210.41.12; 7210.41.19; 7210.49.11; 7210.49.12; 7210.49.13; 7210.49.19; 7210.50.00; 7210.61.11; 7210.61.12; 7210.61.19; 7210.69.11; 7210.69.12; 7210.69.19; 7210.90.10; 7210.90.90; 7212.30.11; 7212.30.12; 7212.30.13; 7212.30.14; 7212.30.19; 7212.30.90; 7212.50.13; 7212.50.14; 7212.50.19; 7212.50.23; 7212.50.24; 7212.50.29; 7212.50.93; 7212.50.94; 7212.50.99; 7212.60.11; 7212.60.12; 7212.60.19; 7212.60.91; 7212.60.99; 7225.92.90; 7226.99.11; 7226.99.91 có xuất xứ từ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và nước Đại Hàn Dân quốc (mã vụ việc: AR01.AD02).
Theo quy định tại điểm d Khoản 4 Điều 82 Luật Quản lý ngoại thương, thời hạn rà soát không quá 06 tháng kể từ ngày có quyết định rà soát, trong trường hợp cần thiết có thể gia hạn một lần nhưng không quá 03 tháng.
Để đảm bảo xem xét hài hòa ý kiến và lợi ích của các bên liên quan, ngày 19 tháng 6 năm 2020, Bộ Công Thương ban hành Quyết định số 1629/QĐ-BCT về việc gia hạn thời hạn điều tra rà soát lần thứ nhất thêm 03 tháng. Theo đó, thời hạn ban hành kết luận rà soát được gia hạn đến ngày 27 tháng 9 năm 2020.
Quyết định số 1629/QĐ-BCT có hiệu lực kể từ ngày ký.
Ngày 14/5/2020, Bộ Thông tin và Truyền thông đã ban hành Thông tư 11/2020/TT-BTTTT về việc quy định Danh mục sản phẩm, hàng hóa có khả năng gây mất an toàn thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ Thông tin và Truyền thông (“Thông tư 11/2020/TT-BTTTT”).
Cụ thể được chia làm 2 nhóm danh mục:
Nhóm Danh mục bắt buộc phải chứng nhận hợp quy và công bố hợp quy gồm:
Thiết bị đầu cuối viễn thông vô tuyến;
Thiết bị phát, thu – phát sóng vô tuyến điện có băng tần nằm trong khoảng 9 kHz đến 400 GHz và có công suất phát từ 60 mW trở lên;
Thiết bị phát, thu-phát vô tuyến cự ly ngắn;
Thiết bị đầu cuối thông tin vô tuyến.
Nhóm Danh mục bắt buộc phải công bố hợp quy gồm:
Thiết bị công nghệ thông tin (Máy tính cá nhân để bàn; Máy tính xách tay; Máy tính bảng);
Thiết bị phát thanh, truyền hình;
Thiết bị đầu cuối thông tin vô tuyến (Thiết bị điện thoại không dây – loại kéo dài thuê bao)
Thiết bị phát, thu-phát sóng vô tuyến điện có băng tần nằm trong khoảng 9 kHz đến 400 GHz và có công suất phát từ 60 mW trở lên (Không thuộc trường hợp được quy định tại Mục 1).
Thiết bị phát, thu-phát vô tuyến cự ly ngắn (Không thuộc trường hợp được quy định tại Mục 1).
Pin Lithium cho thiết bị cầm tay.
Lưu ý, sản phẩm, hàng hóa thuộc đối tượng áp dụng của hai hay nhiều quy chuẩn kỹ thuật quốc gia thì phải thực hiện chứng nhận hợp quy, công bố hợp quy theo quy định của các quy chuẩn kỹ thuật đó.
Thông tư này có hiệu lực từ ngày 01/7/2020 và làm hết hiệu lực Thông tư 05/2019/TT-BTTTT.