Ngày 9/7/2020, Chính Phủ ban hành Nghị định số 81/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều
của Nghị định số 163/2018/NĐ-CP ngày 4/2/2018 quy định về phát hành trái phiếu Doanh nghiệp, văn
bản có hiệu lực kể từ ngày 01/9/2020.
Một trong những nội dung điều chỉnh, bổ sung được xem là nổi bật chính là điều kiện phát hành trái
phiếu không chuyển đổi hoặc trái phiếu không kèm theo chứng quyền. Theo đó, ngoài những điều kiện đã
được quy định tại Nghị định 163/2018/NĐ-CP thì Nghị định 81/2020/NĐ-CP đã bổ sung thêm các điều
kiện sau đây:
(1) Ký hợp đồng tư vấn với tổ chức tư vấn về hồ sơ phát hành trái phiếu, trừ trường hợp doanh
nghiệp phát hành là tổ chức được phép cung cấp dịch vụ tư vấn hồ sơ phát hành trái phiếu theo quy
định của pháp luật.
(2) Đảm bảo dư nợ trái phiếu doanh nghiệp phát hành riêng lẻ tại thời điểm phát hành (bao gồm cả
khối lượng dự kiến phát hành) không vượt quá 05 lần vốn chủ sở hữu theo báo cáo tài chính quý
gần nhất tại thời điểm phát hành được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
(3) Mỗi đợt phát hành phải hoàn thành trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày công bố thông tin trước
khi phát hành; đợt phát hành sau phải cách đợt phát hành trước tối thiểu 06 tháng, trái phiếu phát
hành trong một đợt phát hành phải có cùng điều kiện, điều khoản.
(4) Tổ chức tín dụng phát hành trái phiếu không phải đáp ứng quy định tại mục (2) và mục (3) của
các điều kiện trên.
Như vậy, điều kiện phát hành trái phiếu doanh nghiệp đã được quy định cụ thể và chặt chẽ hơn so
với quy định hiện hành nhằm tiếp tục vận hành và phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp an toàn,
bền vững.
Ngày 16/6/2020, Quốc hội khóa XIV đã biểu quyết thông qua Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án. Luật mới này đã quy định những trường hợp không tiến hành hòa giải, đối thoại tại Tòa án. Cụ thể như sau:
Những trường hợp không tiến hành hòa giải, đối thoại tại Tòa án (Điều 19 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án)
Trên đây là những trường hợp không tiến hành hòa giải, đối thoại tại Tòa án. Luật Hòa giải, Đối thoại tại Tòa án sẽ chính thức có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2021.
Hy vọng thông tin trên hữu ích với quý bạn đọc.
Bizlawyer hận hạnh được đồng hành cùng bạn!
Ngày 16/6/2020, Quốc hội khóa XIV đã biểu quyết thông qua Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án. Luật mới này đã quy định vai trò của Hòa Giải Viên trong thủ tục hòa giải, đối thoại tại Tòa án. Cụ thể như sau:
Công tác chuẩn bị hòa giải, đối thoại của Hòa giải viên bao gồm:
2 .Nhiệm vụ của Hòa giải viên trong quá trình tiến hành hòa giải, đối thoại tại Tòa án (Điều 23 Luật Hòa giải, Đối thoại tại Tòa án)
Hoà Giải Viên xử lý cả vấn đề tình tiết và vấn đề pháp lý, nhưng luật không phải là trọng tâm của quy trình hòa giải. Hòa giải không phải là việc quyết định ai đúng ai sai, người nào có lỗi, tuyên bố ai thắng ai thua mà là nhìn vào tương lai. Trọng tâm không phải là ai nói gì, làm gì trong quá khứ. Thay vào đó, mục đích của nó là tìm ra một giải pháp thực tiễn có thể chấp nhận được với bất kỳ ai liên quan, có tính đến những lợi ích khác nhau, lợi ích pháp lý cũng như các lợi ích khác (ví dụ: Để bảo toàn quan hệ hay danh dự hoặc tìm ra ranh giới cạnh tranh trên thương trường).
Trên đây là một số quy định về vai trò của Hòa Giải Viên trong thủ tục hòa giải, đối thoại tại Tòa án theo Luật Hòa giải, Đối thoại tại Tòa án. Luật Hòa giải, Đối thoại tại Tòa án sẽ chính thức có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2021.
Hy vọng thông tin trên hữu ích với quý bạn đọc.
Bizlawyer hận hạnh được đồng hành cùng bạn!
Ngày 16/6/2020, Quốc hội khóa XIV đã biểu quyết thông qua Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án. Luật mới này đã quy định đầy đủ các tiêu chuẩn về Hòa Giải viên cũng như trình tự, thủ tục, thẩm quyền lựa chọn, bổ nhiệm. Đây là một chính sách được thể chế hóa nhằm thu hút, huy động nguồn nhân lực có kiến thức và kinh nghiệm trong xã hội tham gia phối hợp cùng Tòa án tiến hành hòa giải, đối thoại để giải quyết các tranh chấp dân sự, khiếu kiện hành chính.
Người muốn được bổ nhiệm hòa giải viên phải là:
Ngoài những điều kiện cần nói trên, người muốn được bổ nhiệm làm Hòa giải viên còn phải có đủ các điều kiện sau đây:
2.Người thuộc một trong các trường hợp sau đây thì không được bổ nhiệm làm Hòa giải viên (Khoản 2 Điều 10 Luật Hòa giải, Đối thoại tại Tòa án)
3.Căn cứ đề nghị bổ nhiệm (Điều 11 Luật Hòa giải, Đối thoại tại Tòa án)
4.Nhiệm kỳ của Hòa giải viên là 03 năm kể từ ngày được bổ nhiệm (Khoản 6, Điều 11 Luật Hòa giải, Đối thoại tại Tòa án).
Trên đây là một số quy định về điều kiện để trở thành Hòa Giải viên theo Luật Hòa giải, Đối thoại tại Tòa án. Luật Hòa giải, Đối thoại tại Tòa án sẽ chính thức có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2021.
Hy vọng thông tin trên hữu ích với quý bạn đọc.
Bizlawyer hận hạnh được đồng hành cùng bạn!
Ngày 17/6/2020, Quốc hội ban hành Luật doanh nghiệp 2020 áp dụng với các đối tượng là Doanh nghiệp; Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc thành lập, tổ chức quản lý, tổ chức lại, giải thể và hoạt động có liên quan của doanh nghiệp.
Theo đó, đối với quy định về dấu của doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp 2020 quy định như sau:
Luật Doanh nghiệp 2020 đã không còn quy định về việc thông báo mẫu dấu của doanh nghiệp với cơ quan đăng ký kinh doanh để đăng tải công khai trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp sau khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
Như vậy, con dấu của doanh nghiệp do doanh nghiệp tự quyết định, quản lý, sử dụng tuân thủ các quy định pháp luật như trên, không phải thực hiện thủ tục thông báo với cơ quan đăng ký kinh doanh.
Luật doanh nghiệp 2020 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2021.
Ngày 28/7/2020, Chính phủ ban hành Nghị định 88/2020/NĐ-CP hướng dẫn Luật An toàn, vệ sinh lao động về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp bắt buộc.
Theo đó, Luật này đã điều chỉnh cụ thể về mức hỗ trợ kinh phí khám, chữa bệnh nghề nghiệp như sau:
Trong khi đó, Nghị định 37/2016/NĐ-CP hiện hành quy định mức hỗ trợ này không quá 1/3 mức lương cơ sở/người/lần khám.
Trong khi đó, Nghị định 37/2016/NĐ-CP hiện hành quy định mức hỗ trợ này không quá 10 lần mức lương cơ sở/người.
Nghị định 88/2020/NĐ-CP hướng dẫn Luật An toàn, vệ sinh lao động về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp bắt buộc có hiệu lực thi hành từ ngày 15 tháng 09 năm 2020.
Ngày 17/6/2020, Quốc Hội ban hành Luật đầu tư số 61/2020/QH14 quy định về hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam và hoạt động đầu tư kinh doanh từ Việt Nam ra nước ngoài.
Theo đó, Luật này đã có quy định mới về thời hạn hoạt động của dự án đầu tư như sau:
Tuy nhiên, không phải tất cả các dự án đầu tư đều được gia hạn thời hạn hoạt động, đối với các dự án đầu tư sau đây sẽ không được gia hạn thời gian hoạt động:
Luật đầu tư có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2021, áp dụng đối với nhà đầu tư và cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động đầu tư kinh doanh.
Ngày 17/6/2020, Luật Đầu tư 2020 được Quốc Hội khóa 14 thông qua và có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2021. Theo đó, Luật Đầu tư 2020, đã bổ sung một số ngành nghề được ưu đãi đầu tư cũng như bổ sung thêm các chính sách ưu đãi đầu tư, cụ thể như sau:
Một là, Luật đầu tư 2020 bổ sung nhiều ngành nghề ưu đãi đầu tư. Cụ thể, các ngành nghề ưu đãi đầu tư sau được thêm so với Luật đầu tư 2014, được quy định cụ thể tại Điều 16:
Hai là, sửa đổi, bổ sung đối tượng hưởng ưu đãi đầu tư. Theo đó, có 03 đối tượng hưởng ưu đãi đầu tư được sửa đổi, và 02 đối tượng được bổ sung như sau:
Ba là, thêm hình thức ưu đãi đầu tư: Khấu hao nhanh, tăng mức chi phí được trừ khi tính thu nhập chịu thuế.
Bốn là, Luật đầu tư 2020 cũng bổ sung thêm một số quy định về nguyên tắc và điều kiện áp dụng chính sách ưu đãi đầu tư, như: áp dụng ưu đãi có thời hạn, theo kết quả thực hiện dự án; nhà đầu tư phải bảo đảm đáp ứng điều kiện ưu đãi trong thời gian được hưởng ưu đãi theo quy định của pháp luật,…
Năm là, khác với Luật đầu tư 2014, Luật mới có chính sách ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đặc biệt cho phép áp dụng ưu đãi đặc biệt (tối đa thêm 50%) để tạo chính sách thu hút dòng vốn FDI.
Ngày 17/6/2020, Quốc Hội khóa 14 ban hành Luật Đầu tư số 61/2020/QH14, Luật có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2021. Theo đó, Luật Đầu tư 2020 đã có những thay đổi mang tính toàn diện và hoàn thiện hơn những bấp cập của Luật Đầu tư năm 2014. Một trong những nội dung nổi bật đó là quy định về bãi bỏ, bổ sung một số ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Cụ thể như sau:
Một là, bãi bỏ 16 ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện hiện nay được áp dụng theo quy định tại Luật sửa đổi, bổ sung Điều 6 và Phụ lục 4 về Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật đầu tư 2014, bao gồm 243 ngành, nghề. Tuy nhiên, do có một số ngành nghề kinh doanh có điền kiện xét thấy không cần thiết, tác động cản trở quá trình gia nhập thị trường của các cá nhân, tổ chức nên Luật đầu tư 2020 đã cắt giảm số lượng ngành, nghề kinh doanh có điều kiện xuống còn 227 ngành nghề.
Hai là, bổ sung 08 ngành nghề kinh doanh có điều kiện, bao gồm:
Ba là, Luật đầu tư 2020 cũng sửa đổi một số quy định về ngành nghề kinh doanh như: Môi giới bảo hiểm thành Môi giới “bảo hiểm, hoạt động phụ trợ” bảo hiểm; Kinh doanh dịch vụ đăng ký, duy trì tên miền “.vn” thành Kinh doanh dịch vụ đăng ký, duy trì tên miền; Kinh doanh vận tải biển, dịch vụ đại lý tàu biển thành Kinh doanh vận tải biển;… và một số sửa đổi chi tiết ở các ngành, nghề khác.