Nhiều ngân hàng tăng mạnh lãi suất huy động
Với mong muốn bổ sung thêm nguồn vốn trung, dài hạn để phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh cuối năm, đồng thời giảm...
Bùng nổ nhượng quyền thương hiệu vào Việt Nam
Hoạt động nhượng quyền đang được giới kinh doanh vận dụng để đưa các thương hiệu nước ngoài vào thị trường Việt Nam. Ngoài lĩnh...
6 ngành kinh tế phát triển mũi nhọn khu vực miền Trung
Có 6 lĩnh vực kinh tế biển, ven biển đang được các tỉnh miền Trung tập trung phát triển và đã đạt được những kết...
91.9% doanh nghiệp lạc quan về hoạt động sản xuất 6 tháng cuối năm
Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có tỷ lệ doanh nghiệp dự báo về khối lượng sản xuất khả...
Việt Nam chuyển dần từ nhập siêu sang xuất siêu với CPTPP
Với hầu hết các hiệp định thương mại (FTA) đã ký, Việt Nam thường nhập siêu, thì nay, khi thực hiện CPTTP, trong 7 tháng...
Giải đáp pháp luật
Ngân hàng phải cung cấp thông tin tài khoản khách hàng và khấu trừ thuế theo đề nghị của cơ quan thuế
Trả lời

Ngày 19/10/2020, Chính phủ ban hành Nghị định 126/2020/NĐ-CP (“Nghị định 126”) quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14. Trong đó, Nghị định 126 quy định về trách nhiệm của ngân hàng thương mại trong việc cung cấp thông tin tài khoản khách hàng và khấu trừ thuế trên tài khoản khách hàng mở tại ngân hàng cho cơ quan thuế.

Nghị định 126 quy định về trách nhiệm của ngân hàng thương mại như sau:

  • Cung cấp thông tin tài khoản khách hàng cho cơ quan thuế
  • Theo quy định tại khoản 2 Điều 30 của Nghị định 126, Ngân hàng thương mại có trách nhiệm cung cấp cho cơ quan quản lý thuế các thông tin về tài khoản thanh toán của người nộp thuế mở tại ngân hàng gồm: tên chủ tài khoản, số hiệu tài khoản theo mã số thuế đã được cơ quan quản lý thuế cấp, ngày mở tài khoản, ngày đóng tài khoản. Việc cung cấp thông tin về tài khoản này được thực hiện lần đầu trong thời gian 90 ngày kể từ ngày 05/12/2020 và việc cập nhật các thông tin về tài khoản được thực hiện hàng tháng trong 10 ngày của tháng kế tiếp.
  • Ngoài ra, ngân hàng thương mại còn phải cung cấp thông tin giao dịch qua tài khoản, số dư, số liệu giao dịch theo đề nghị của người đứng đầu cơ quan thuế để phục vụ cho mục đích thanh tra, kiểm tra xác định nghĩa vụ thuế phải nộp và thực hiện các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế theo quy định của pháp luật về thuế.
  • Khấu trừ thuế trên tài khoản khách hàng mở tại ngân hàng
  • Theo quy định tại khoản 3 Điều 30 của Nghị định 126, các ngân hàng phải khấu trừ, nộp thay nghĩa vụ thuế của nhà cung cấp ở nước ngoài có cơ sở thường trú tại Việt Nam có hoạt động kinh doanh thương mại điện tử, kinh doanh dựa trên nền tảng số với tổ chức, cá nhân trong nước (sau đây gọi là nhà cung cấp ở nước ngoài) nếu nhà cung cấp ở nước ngoài chưa thực hiện đăng ký, kê khai, nộp thuế. Khi đó, ngân hàng thương mại thực hiện khấu trừ, nộp thay nghĩa vụ thuế theo quy định của pháp luật thuế đối với từng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ mà người mua là cá nhân ở Việt Nam thanh toán cho nhà cung cấp ở nước ngoài. Tên, địa chỉ website của nhà cung cấp ở nước ngoài sẽ được Tổng Cục thuế cung cấp cho ngân hàng thương mại.
  • Trong trường hợp cá nhân có mua hàng hóa, dịch vụ của nhà cung cấp nước ngoài có thanh toán bằng thẻ hoặc các hình thức khác mà ngân hàng thương mại không thể thực hiện khấu trừ, nộp thay thì ngân hàng thương mại có trách nhiệm theo dõi số tiền chuyển cho các nhà cung cấp ở nước ngoài và định kỳ hàng tháng gửi về Tổng cục Thuế.
  • Dù Nghị định yêu cầu cơ quan thuế có trách nhiệm bảo mật thông tin và hoàn toàn chịu trách nhiệm về sự an toàn của thông tin theo quy định của pháp luật, tuy vậy, vẫn có sự lo ngại về khả năng tiết lộ thông tin của người nộp thuế cũng như nghĩa vụ bảo mật của ngân hàng.
Bảo vệ việc làm của người tố cáo là người làm việc theo hợp đồng lao động
Trả lời

Ngày 15/10/2020, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành Thông tư số 08/2020/TT-BLĐTBXH Hướng dẫn bảo vệ việc làm của người tố cáo là người lao việc theo hợp đồng lao động. Văn bản này có hiệu lực kể từ ngày 01/12/2020.

Theo đó, bảo vệ việc làm của người được bảo vệ được hiểu là việc cơ quan có thẩm quyền tiến hành xem xét, ra quyết định áp dụng biện pháp cần thiết quy định tại Khoản 2 Điều 57 Luật tố cáo để bảo vệ việc làm cho người được bảo vệ.

Trình tự như sau: 

  • Khi có căn cứ quy định tại Khoản 3 Điều 47 Luật Tố cáo, người tố cáo hoặc người giải quyết tố cáo có văn bản đề nghị cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ việc làm của người được bảo vệ;
  • Trường hợp khẩn cấp, người tố cáo có thể trực tiếp đến đề nghị hoặc qua điện thoại đề nghị người giải quyết tố cáo áp dụng biện pháp bảo vệ ngay nhưng sau đó nội dung đề nghị phải được thể hiện bằng văn bản.
  • Trường hợp xét thấy đề nghị bảo vệ có căn cứ, cơ quan có thẩm quyền ban hành quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ việc làm của người được bảo vệ theo quy định.
  • Trường hợp đề nghị bảo vệ không có căn cứ hoặc xét thấy không cần thiết áp dụng biện pháp bảo vệ, cơ quan có thẩm quyền ban hành thông báo không áp dụng biện pháp bảo vệ việc làm theo quy định.

 

Tuổi nghỉ hưu của Người lao động
Trả lời

Ngày 18/11/2020, Chính Phủ ban hành Nghị định số 135/2020/NĐ-CP quy định về tuổi nghỉ hưu, văn bản này có hiệu lực kể từ 01/01/2021.

Theo đó, quy định về tuổi nghỉ hưu của Người lao động như sau: 

Thứ nhất, đối với Người lao động làm việc trong điều kiện lao động bình thường, tuổi nghỉ hưu của lao động nam là đủ 60 tuổi 03 tháng và đối với lao động nữ là đủ 55 tuổi 04 tháng; sau đó cứ mỗi năm tăng thêm 03 tháng đối với lao động nam cho đến khi đủ 62 tuổi vào năm 2028 và cứ mỗi năm tăng thêm 04 tháng đối với lao động nữ cho đến khi đủ 60 tuổi vào năm 2035.

Thứ hai, nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn tuổi nghỉ hưu trong điều kiện lao động bình thường, Người lao động thuộc các trường hợp dưới đây có thể nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn nhưng không quá 05 tuổi so với quy định tại thời điểm nghỉ hưu, trừ trường hợp luật có quy định khác:

  • Có từ đủ 15 năm trở lên làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động Thương binh và Xã hội ban hành.
  • Có từ đủ 15 năm trở lên làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, gồm cả thời gian làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên trước 01/01/2021. 
  • Người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên.
  • Có tổng thời gian làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và thời gian làm việc ở vùng KT-XH đặc biệt khó khăn từ đủ 15 năm trở lên.

Đồng thời, Nghị định này cũng xác định các mốc thời điểm để áp dụng quy định chuyển tiếp như: Đối với lao động nam sinh tháng 12 năm 1960 và lao động nữ sinh tháng 12 năm 1965 làm việc trong điều kiện lao động bình thường thì thời điểm nghỉ hưu là kết thúc ngày 31 tháng 12 năm 2020, thời điểm hưởng lương hưu là bắt đầu ngày 01 tháng 01 năm 2021.

Bản Tin Pháp Luật Số 17/2020
Trả lời

Điều kiện áp dụng thuế suất ưu đãi đối với hàng hoá xuất khẩu theo Hiệp định EVFTA
Trả lời

Ngày 18/9/2020, Chính phủ ban hành Nghị định số 111/2020/NĐ-CP quy định về Biểu thuế xuất khẩu ưu đãi, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định Thương mại tự do giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên minh châu Âu giai đoạn 2020 – 2022.

Nghị định này áp dụng đối với người nộp thuế theo quy định của Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; Cơ quan hải quan, công chức hải quan; tổ chức, cá nhân có quyền và nghĩa vụ liên quan đến hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.

Hàng hóa xuất khẩu từ Việt Nam được áp dụng thuế suất thuế xuất khẩu ưu đãi phải đáp ứng đủ các điều kiện sau:

  1. Được nhập khẩu vào các lãnh thổ theo quy định tại Hiệp định EVFTA, bao gồm:
  • Lãnh thổ thành viên Liên minh châu Âu; và
  • Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ai-len.

      2. Có chứng từ vận tải thể hiện đích đến là các lãnh thổ thành viên Liên minh châu Âu hoặc Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ai-len;

      3. Có tờ khai hải quan nhập khẩu của lô hàng xuất khẩu có xuất xứ Việt Nam nhập khẩu vào các lãnh thổ thành viên Liên minh châu Âu hoặc Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ai-len.

Các quy định áp dụng thuế suất ưu đãi chỉ áp dụng đối với hàng hoá được xuất khẩu từ Việt Nam vào Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ai-len trong giai đoạn kể từ ngày 01 tháng 8 năm 2020 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2020.

Đối với các tờ khai hải quan của các mặt hàng xuất khẩu đăng ký từ ngày 01 tháng 8 năm 2020 đến trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành, nếu đáp ứng đủ các quy định để được hưởng thuế suất thuế xuất khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam tại Nghị định này và đã nộp thuế theo mức thuế cao hơn thì được cơ quan hải quan xử lý tiền thuế nộp thừa theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 18 tháng 09 năm 2020.

 

Điểm qua một số hành vi vi phạm và mức phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Hải quan
Trả lời

Ngày 19/10/2020, Chính Phủ ban hành Nghị định số 128/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Hải quan, văn bản có hiệu lực kể từ ngày 10/12/2020. 

  Cùng điểm qua một số hành vi vi phạm và mức phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Hải quan: 

  1. Xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh tạm nhập, tái xuất, quá cảnh, chuyển khẩu hàng hóa giả mạo xuất xứ Việt Nam

Mức phạt đối với hành vi này là từ 10.000.000 VNĐ đến 100.000.000 VNĐ, ngoài ra áp dụng thêm hình phạt bổ sung là tịch thu tang vật vi phạm và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là buộc tiêu hủy tang vật vi phạm là hàng hóa, vật phẩm đồng thời buộc nộp lại số tiền bằng trị giá tang vật đã bị tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái quy định của pháp luật.

  1. Vi phạm quy định về xuất khẩu, nhập khẩu, vận chuyển vào Việt Nam hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu, tạm ngừng xuất khẩu, tạm ngừng nhập khẩu

Mức phạt tiền đối với hành vi này là từ 3.000.000 VNĐ đến 100.000.000 VNĐ, ngoài ra áp dụng thêm hình phạt bổ sung là tịch thu tang vật vi phạm và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam; buộc tiêu hủy tang vật vi phạm là hàng hóa, vật phẩm đồng thời buộc nộp lại số tiền bằng trị giá tang vật đã bị tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái quy định của pháp luật.

  1. Vi phạm quy định về xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa thuộc danh mục chỉ định thương nhân xuất khẩu, nhập khẩu

Mức phạt tiền đối với hành vi này là từ 30.000.000 VNĐ đến 50.000.000 VNĐ, ngoài ra áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam và đồng thời buộc nộp lại số tiền bằng trị giá tang vật đã bị tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái quy định của pháp luật.

  1. Vi phạm quy định về quá cảnh, chuyển khẩu hàng hóa

Mức phạt tiền đối với hành vi này là từ 10.000.000 VNĐ đến 80.000.000 VNĐ, ngoài ra áp dụng thêm hình phạt bổ sung là tịch thu tang vật vi phạm và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam; buộc tiêu hủy tang vật vi phạm là hàng hóa, vật phẩm đồng thời buộc nộp lại số tiền bằng trị giá tang vật đã bị tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái quy định của pháp luật.

Trên đây là nội dung điểm qua một số các hành vi vi phạm và mức phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Hải quan, Quý khách hàng vui lòng tham khảo tại Nghị định 128/2020/NĐ-CP để có các hoạt động điều chỉnh, rà soát tiếp theo tránh các hành vi vi phạm trong quá trình hoạt động, kinh doanh. 

Tăng mức xử phạt tiền đối với hành vi vi phạm quy định về quảng cáo mỹ phẩm thông qua hình thức hội thảo, hội nghị, tổ chức sự kiện
Trả lời

Ngày 28/9/2020, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 117/2020/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế, thay thế Nghị định 176/2013/NĐ-CP (“Nghị định số 117/2020/NĐ-CP”). 

Theo đó, Nghị định số 117/2020/NĐ-CP đã tăng mức xử phạt tiền đối với hành vi vi phạm quy định về quảng cáo mỹ phẩm thông qua hình thức hội thảo, hội nghị, tổ chức sự kiện. Cụ thể như sau:

  1. Những hành vi và mức phạt tiền cụ thể được quy định tại Nghị định 176/2013/NĐ-CP: 

          Tại điểm a, d, đ Khoản 2 Điều 49 Nghị định 176/2013/NĐ-CP quy định:

          Điều 49. Vi phạm quy định về thông tin thuốc, mỹ phẩm và trang thiết bị y tế

  1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

           c) Tổ chức hội thảo, tổ chức sự kiện giới thiệu mỹ phẩm không đúng với hồ sơ đăng ký tổ chức hội thảo, tổ chức sự kiện giới thiệu mỹ phẩm đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt;

          d) Tổ chức hội thảo, tổ chức sự kiện giới thiệu mỹ phẩm với nội dung đã đăng ký hết giá trị; tổ chức hội thảo, tổ chức sự kiện giới thiệu mỹ phẩm khi đang trong thời hạn xem xét, giải quyết hồ sơ theo quy định của pháp luật;

        đ) Tổ chức hội thảo, tổ chức sự kiện giới thiệu mỹ phẩm đã được Sở Y tế cấp giấy tiếp nhận nhưng khi có thay đổi về thời gian và địa điểm tổ chức chính thức mà không thông báo cho Sở Y tế trước khi tiến hành tổ chức

          Như vậy, mức phạt tiền theo Nghị định 176/2013/NĐ-CP chỉ từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với các hành vi vi phạm về quảng cáo mỹ phẩm thông qua hình thức hội thảo, hội nghị, tổ chức sự kiện (đây mà mức phạt với cá nhân, mức phạt đối với tổ chức sẽ gấp 2 lần).

         2. Những hành vi và mức phạt tiền cụ thể được quy định tại Nghị định 117/2020/NĐ-CP

               Tại Điều 69 Nghị định 117/2020/NĐ-CP quy định:

               Điều 69. Vi phạm quy định về quảng cáo mỹ phẩm thông qua hình thức hội thảo, hội nghị, tổ chức sự kiện

                Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với một trong các hành vi tổ chức hội thảo, hội nghị, tổ chức sự kiện giới thiệu mỹ phẩm sau đây:

  1. Không thông báo tới cơ quan có thẩm quyền trước khi tổ chức theo quy định của pháp luật.
  2. Không đúng với nội dung đã thông báo tới cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

               Như vậy, mức phạt tiền theo Nghị định 117/2020/NĐ-CP từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với các hành vi vi phạm về quảng cáo mỹ phẩm thông qua hình thức hội thảo, hội nghị, tổ chức sự kiện (đây mà mức phạt với cá nhân, mức phạt đối với tổ chức sẽ gấp 2 lần). Có thể thấy rằng, Nghị định số 117/2020/NĐ-CP đã tăng mức xử phạt tiền đối với hành vi vi phạm quy định về quảng cáo mỹ phẩm thông qua hình thức hội thảo, hội nghị, tổ chức sự kiện. 

               Nghị định số 117/2020/NĐ-CP có hiệu lực kể từ ngày 15/11/2020.

               Hy vọng thông tin trên hữu ích với quý bạn đọc.

Bizlawyer hận hạnh được đồng hành cùng bạn!

Bổ sung nhiều hành vi vi phạm có liên quan đến rượu, bia trong Nghị định mới về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế
Trả lời

Ngày 28/9/2020, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 117/2020/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế, thay thế Nghị định 176/2013/NĐ-CP (“Nghị định số 117/2020/NĐ-CP”). 

Theo đó, Nghị định số 117/2020/NĐ-CP đã bổ sung nhiều hành vi vi phạm có liên quan đến rượu, bia mà trước đó, những hành vi này không được quy định tại Nghị định 176/2013/NĐ-CP. 

Bao gồm 8 Điều, từ Điều 30 đến Điều 37 Nghị định số 117/2020/NĐ-CP, cụ thể bao gồm:

  • Điều 30. Vi phạm các quy định về uống rượu, bia và địa điểm không uống rượu, bia
  • Điều 31. Vi phạm các quy định về bán, cung cấp rượu, bia
  • Điều 32. Vi phạm các quy định về khuyến mại rượu, bia
  • Điều 33. Vi phạm các quy định về quảng cáo rượu, bia
  • Điều 34. Vi phạm các quy định về trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức trong phòng, chống tác hại của rượu, bia
  • Điều 35. Vi phạm các quy định về trách nhiệm của cơ sở kinh doanh rượu, bia
  • Điều 36. Vi phạm các quy định về thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống tác hại của rượu, bia
  • Điều 37. Vi phạm các quy định về tài trợ rượu, bia

Như vậy, có thể thấy rằng, Nghị định số 117/2020/NĐ-CP đã bổ sung nhiều hành vi vi phạm có liên quan đến rượu, bia mà trước đó, những hành vi này không được quy định tại Nghị định 176/2013/NĐ-CP.

Nghị định số 117/2020/NĐ-CP có hiệu lực kể từ ngày 15/11/2020.

Hy vọng thông tin trên hữu ích với quý bạn đọc.

Bizlawyer hận hạnh được đồng hành cùng bạn!

Siết chặt hơn trong giám sát bệnh truyền nhiễm tại Việt Nam
Trả lời

Ngày 28/9/2020, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 117/2020/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế, thay thế Nghị định 176/2013/NĐ-CP (“Nghị định số 117/2020/NĐ-CP”). 

Theo đó, Nghị định số 117/2020/NĐ-CP đã đưa ra những quy định siết chặt hơn trong giám sát bệnh truyền nhiễm tại Việt Nam, cụ thể như sau:

  1. Tất cả hành vi vi phạm trong giám sát bệnh truyền nhiễm đều bị xử phạt tiền.
  • Trước kia, theo quy định tại Điều 6 Nghị định 176/2013/NĐ-CP vẫn xem xét áp dụng hình phạt cảnh cáo là hình phạt chính đối với 01 hành vi là: Không khai báo khi phát hiện người mắc bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A.
  • Tuy nhiên, tại Điều 7 của Nghị định số 117/2020/NĐ-CP đã loại bỏ hình thức phạt cảnh cáo, thay vào đó chỉ áp dụng hình phạt tiền cho nhóm các hành vi vi phạm về giám sát bệnh truyền nhiễm.

       2. Áp dụng mức phạt tiền cao hơn, có tính răn đe hơn.

  • Trước kia, theo quy định tại Điều 6 Nghị định 176/2013/NĐ-CP, mức phạt tiền đối với các hành vi vi phạm trong giám sát bệnh truyền nhiễm: Từ 200.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối đối với cá nhân (gấp 2 lần đối với tổ chức).
  • Tuy nhiên, tại Điều 7 của Nghị định số 117/2020/NĐ-CP, mức phạt tiền đối với các hành vi vi phạm trong giám sát bệnh truyền nhiễm: Từ 500.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với cá nhân (gấp 2 lần đối với tổ chức).

         3. Bổ sung thêm hành vi bị xem là vi phạm hành chính trong hoạt động giám sát bệnh truyền nhiễm. 

Cụ thể tại Điều 6 Nghị định 176/2013/NĐ-CP chỉ quy định: 3 nhóm hành vi.

  • Hành vi không khai báo khi phát hiện người mắc bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A;
  • Che giấu hiện trạng bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A của bản thân hoặc của người khác mắc bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A;
  • Không thực hiện việc xét nghiệm phát hiện bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Tại Điều 7 Nghị định số 117/2020/NĐ-CP quy định 07 hành vi:

  • Hành vi che giấu, không khai báo hoặc khai báo không kịp thời khi phát hiện người khác mắc bệnh truyền nhiễm theo quy định của pháp luật;
  • Không thực hiện xét nghiệm theo yêu cầu của cơ quan y tế có thẩm quyền trong quá trình thực hiện giám sát bệnh truyền nhiễm;
  • Không báo cáo hoặc báo cáo không đầy đủ về giám sát bệnh truyền nhiễm theo quy định của pháp luật;
  • Che giấu, không khai báo hoặc khai báo không kịp thời hiện trạng bệnh truyền nhiễm của bản thân;
  • Che giấu, không khai báo hoặc khai báo không kịp thời hiện trạng bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A của bản thân hoặc của người khác mắc bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A;
  • Cố ý khai báo, thông tin sai sự thật về bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A;
  • Cố ý làm lây lan tác nhân gây bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A.

Như vậy, có thể thấy rằng, Nghị định số 117/2020/NĐ-CP đã đưa ra những quy định siết chặt hơn trong giám sát bệnh truyền nhiễm tại Việt Nam. 

Nghị định số 117/2020/NĐ-CP có hiệu lực kể từ ngày 15/11/2020.

Hy vọng thông tin trên hữu ích với quý bạn đọc.

Bizlawyer hận hạnh được đồng hành cùng bạn!

Hàng hóa nhập khẩu nếu đáp ứng các điều kiện sau đây sẽ được áp dụng thuế suất ưu đãi theo Hiệp định EVFTA
Trả lời

Ngày 18/9/2020, Chính phủ ban hành Nghị định 111/2020/NĐ-CP Biểu thuế xuất khẩu ưu đãi, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định Thương mại tự do giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên minh châu Âu giai đoạn 2020 – 2022.

Hàng hóa nhập khẩu được áp dụng mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt theo Hiệp định EVFTA phải đáp ứng đủ các điều kiện sau:

  1. Thuộc Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định 111/2020/NĐ-CP;
  2. Được nhập khẩu vào Việt Nam từ:
    • Lãnh thổ thành viên Liên minh châu Âu;
    • Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ai-len;
    • Công quốc An-đô-ra; Cộng hòa San Ma-ri-nô; và
    • Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Hàng hoá nhập khẩu từ khu phi thuế quan vào thị trường trong nước).

      3. Đáp ứng các quy định về xuất xứ hàng hóa và có chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hoá theo quy định của Hiệp định EVFTA.

Quy định về áp dụng thuế suất ưu đãi chỉ áp dụng đối với hàng hóa được nhập khẩu vào Việt Nam từ Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ai-len trong giai đoạn kể từ ngày 01 tháng 8 năm 2020 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2020. 

Đối với các tờ khai hải quan của các mặt hàng nhập khẩu đăng ký từ ngày 01 tháng 8 năm 2020 đến trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành, nếu đáp ứng đủ các quy định để được hưởng thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam tại Nghị định này và đã nộp thuế theo mức thuế cao hơn thì được cơ quan hải quan xử lý tiền thuế nộp thừa theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 18 tháng 09 năm 2020.