Nhiều ngân hàng tăng mạnh lãi suất huy động
Với mong muốn bổ sung thêm nguồn vốn trung, dài hạn để phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh cuối năm, đồng thời giảm...
Bùng nổ nhượng quyền thương hiệu vào Việt Nam
Hoạt động nhượng quyền đang được giới kinh doanh vận dụng để đưa các thương hiệu nước ngoài vào thị trường Việt Nam. Ngoài lĩnh...
6 ngành kinh tế phát triển mũi nhọn khu vực miền Trung
Có 6 lĩnh vực kinh tế biển, ven biển đang được các tỉnh miền Trung tập trung phát triển và đã đạt được những kết...
91.9% doanh nghiệp lạc quan về hoạt động sản xuất 6 tháng cuối năm
Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có tỷ lệ doanh nghiệp dự báo về khối lượng sản xuất khả...
Việt Nam chuyển dần từ nhập siêu sang xuất siêu với CPTPP
Với hầu hết các hiệp định thương mại (FTA) đã ký, Việt Nam thường nhập siêu, thì nay, khi thực hiện CPTTP, trong 7 tháng...
Giải đáp pháp luật
Sửa đổi quy trình xử lý kỷ luật lao động
Trả lời

Ngày 14/12/2020, Chính phủ đã ban hành Nghị định 145/2020/NĐ-CP hướng dẫn Bộ luật Lao
động về điều kiện lao động và quan hệ lao động (“Nghị định 145”). Trong đó có nhiều quy định
mới mà Người lao động và Người sử dụng lao động cần quan tâm.

Một trong số đó là quy định về trình tự xử lý kỷ luật lao động, cụ thể như sau:

Nghị định 145 ra đời đã có một số nội dung điều chỉnh khác đi so với quy đinh tại Khoản 12
Điều 1 Nghị định 148/2018/NĐ-CP về quy trình xử lý kỷ luật lao động, cụ thể về quy trình xử lý kỷ
luật lao động sẽ được tiến hành theo quy trình gồm 5 bước như sau:

(Cơ sở pháp lý: Điều 70 + 71 Nghị định 145/2020/NĐ-CP)

Bước 1: NSDLĐ Lập biên bản vi phạm và thông báo đến các chủ thể liên quan:

+Trường hợp 1: Phát hiện tại thời điểm xảy ra hành vi vi phạm:

NLSDLĐ lập biên bản vi phạm => Thông báo đến công đoàn cơ sở mà người lao động là
thành viên; người đại diện theo pháp luật của người lao động chưa đủ 15 tuổi.
+ Trường hợp 2: Phát hiện sau thời điểm xảy ra hành vi vi phạm:
NLSDLĐ không lập biên bản vi phạm, NSDLĐ thực hiện thu thập chứng cứ chứng minh lỗi
của NLĐ.
Bước 2: Thông báo về cuộc họp xử lý kỷ luật lao động:
+ Chủ thể phải nhận được thông báo: Người lao động; Tổ chức đại diện người lao động tại cơ
sở mà người lao động đang bị xử lý kỷ luật là thành viên; Luật sư hoặc tổ chức đại diện người
lao động bào chữa; trường hợp là người chưa đủ 15 tuổi thì phải có sự tham gia của người đại
diện theo pháp luật.
+ Hình thức thông báo: Pháp luật không quy định cụ thể hình thức thông báo, nhưng phải bảo
đảm các thành phần nhận được thông báo trước khi diễn ra cuộc họp;
+ Nội dung thông báo: Nội dung; Thời gian; Địa điểm; Người bị xử lý kỷ luật lao động; Hành
vi vi phạm bị xử lý kỷ luật lao động.
+ Thời hạn thông báo: Ít nhất 05 ngày làm việc trước ngày tiến hành họp xử lý kỷ luật lao
động;
Bước 3: Kiểm tra xác nhận tham dự và Tiến hành cuộc họp xử lý kỷ luật lao động
Các chủ thể nhận thông báo phải xác nhận về khả năng tham dự cuộc họp:
+ Trường hợp 1: Không thể tham dự theo thông báo => Có thể thỏa thuận lại với NSDLĐ, nếu
các bên không thỏa thuận được thì NSDLĐ quyết định.
+ Trường hợp 2: Xác nhận tham gia mà vắng mặt hoặc không xác nhận tham gia thì cuộc họp
xử lý kỷ luật được tổ chức.
Bước 4: Nội dung cuộc họp
+ Nội dung cuộc họp xử lý kỷ luật lao động phải được lập thành biên bản, thông qua trước khi
kết thúc cuộc họp và có chữ ký của người tham dự cuộc họp.

+ Trường hợp có người không ký vào biên bản thì người ghi biên bản nêu rõ họ tên, lý do
không ký (nếu có) vào nội dung biên bản.
Bước 5: Ra quyết định xử lý kỷ luật
+ Thời hạn ban hành: Quyết định xử lý kỷ luật lao động phải được ban hành trong thời hạn
của thời hiệu xử lý kỷ luật lao động.
+ Gửi quyết định xử lý kỷ luật: Quyết định xử lý kỷ luật lao động phải được gửi đến: Người
lao động; Tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở mà người lao động đang bị xử lý kỷ luật là
thành viên; Luật sư hoặc tổ chức đại diện người lao động bào chữa; trường hợp là người chưa
đủ 15 tuổi thì phải có sự tham gia của người đại diện theo pháp luật.

Trên đây là quy trình xử lý kỷ luật lao động được quy định tại Nghị định 145. Nghị định 145
có hiệu lực kể từ ngày 01/02/2021.

Hy vọng thông tin trên hữu ích với Quý bạn đọc.

Bizlawyer hận hạnh được đồng hành cùng Quý bạn đọc!

Thay đổi căn cứ tiền lương để thanh toán tiền cho những ngày Người lao động chưa nghỉ phép
Trả lời

Ngày 14/12/2020, Chính phủ đã ban hành Nghị định 145/2020/NĐ-CP hướng dẫn Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động (“Nghị định 145”). Trong đó có nhiều quy định mới mà Người lao động và Người sử dụng lao động cần quan tâm.

Một trong số đó là quy định về căn cứ tiền lương để thanh toán tiền cho những ngày Người lao động chưa nghỉ phép, cụ thể như sau:

Người lao động do thôi việc, bị mất việc làm hoặc vì các lý do khác mà chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm thì được thanh toán bằng tiền những ngày chưa nghỉ. Tiền lương tính trả cho người lao động trong những ngày chưa nghỉ = Căn cứ tiền lương (:) Số ngày làm việc bình thường của tháng trước liền kề (x) số ngày chưa nghỉ hoặc chưa nghỉ hết.

Theo quy định tại Điều 114 Bộ luật lao động 2012, được hướng dẫn chi tiết tại Khoản 3, Khoản 4 Nghị định 05/2015/NĐ-CP, căn cứ tiền lương cho những ngày chưa nghỉ phép của Người lao động được xác định như sau:

Căn cứ tiền lương:

+ Đối với người lao động đã làm việc từ đủ 06 tháng trở lên: Là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc, bị mất việc làm hoặc trước khi người sử dụng lao động tính trả bằng tiền những ngày chưa nghỉ hằng năm;

+ Đối với người lao động có thời gian làm việc dưới 06 tháng: Là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của toàn bộ thời gian làm việc.

Theo quy định tại Điều 113 Bộ luật lao động 2019, được hướng dẫn chi tiết tại Điều 66, Khoản 3 Điều 67 Nghị định 145, việc tính tiền lương cho những ngày chưa nghỉ phép của Người lao động được xác định như sau:

Căn cứ tiền lương: Là tiền lương theo hợp đồng lao động của tháng trước liền kề tháng người lao động thôi việc, bị mất việc làm.

Trên đây là sự thay đổi về căn cứ tiền lương để thanh toán tiền cho những ngày Người lao động chưa nghỉ phép được quy định tại Nghị định 145. Nghị định 145 có hiệu lực kể từ ngày 01/02/2021.

Hy vọng thông tin trên hữu ích với Quý bạn đọc.

Bizlawyer hận hạnh được đồng hành cùng Quý bạn đọc!

Điều kiện cấp Giấy phép hoạt động cho thuê lại lao động
Trả lời

Ngày 14/12/2020, Chính phủ ban Nghị định 145/2020/NĐ-CP hướng dẫn Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động. Theo đó, Nghị định này quy định về cho thuê lại lao động, trong đó có quy định điều kiện cấp Giấy phép hoạt động cho thuê lại lao động.

Giấy phép hoạt động cho thuê lại lao động là giấy phép được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính cấp cho doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Luật Doanh nghiệp thực hiện hoạt động cho thuê lại lao động. 

Theo đó, doanh nghiệp được thực hiện hoạt động cho thuê lại lao động phải đảm bảo các điều kiện để được cấp Giấy phép như sau:

  • Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp thực hiện hoạt động cho thuê lại lao động phải bảo đảm điều kiện:
  1. Là người quản lý doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp;
  2. Không có án tích;
  3. Đã có thời gian trực tiếp làm chuyên môn hoặc quản lý về cho thuê lại lao động hoặc cung ứng lao động từ đủ 03 năm (36 tháng) trở lên trong thời hạn 05 năm liền kề trước khi đề nghị cấp giấy phép.
  • Doanh nghiệp đã thực hiện ký quỹ 2.000.000.000 đồng (hai tỷ đồng).

Doanh nghiệp cho thuê lại lao động sau khi được cấp Giấy phép sẽ được tuyển dụng, giao kết hợp đồng lao động với người lao động, sau đó chuyển người lao động sang làm việc và chịu sự điều hành của người sử dụng lao động khác mà vẫn duy trì quan hệ lao động với doanh nghiệp đã giao kết hợp đồng lao động.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 02 năm 2021.

 

Quyền, nghĩa vụ và lợi ích của các bên khi Hợp đồng lao động bị tuyên vô hiệu
Trả lời

Ngày 14/12/2020, Chính phủ ban Nghị định 145/2020/NĐ-CP hướng dẫn Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động. Theo đó, Nghị định này quy định về quyền, nghĩa vụ và lợi ích của các bên khi Hợp đồng lao động (HĐLĐ) bị tuyên vô hiệu như sau:

  • Đối với HĐLĐ vô hiệu từng phần: Quyền, nghĩa vụ và lợi ích của hai bên trong thời gian từ khi bắt đầu làm việc theo HĐLĐ bị tuyên bố vô hiệu từng phần đến khi HĐLĐ được sửa đổi, bổ sung thì giải quyết theo thỏa ước lao động tập thể đang áp dụng, trường hợp không có thỏa ước lao động tập thể thì thực hiện theo quy định của pháp luật.

Trường hợp HĐLĐ bị tuyên bố vô hiệu có tiền lương thấp hơn so với quy định của pháp luật về lao động, thỏa ước lao động tập thể đang áp dụng thì hai bên phải thỏa thuận lại mức lương cho đúng quy định và người sử dụng lao động có trách nhiệm xác định phần chênh lệch giữa tiền lương đã thỏa thuận lại so với tiền lương trong HĐLĐ bị tuyên bố vô hiệu để hoàn trả cho người lao động tương ứng với thời gian làm việc thực tế theo HĐLĐ bị tuyên bố vô hiệu.

  • Đối với (i) HĐLĐ vô hiệu toàn bộ do người giao kết không đúng thẩm quyền hoặc vi phạm nguyên tắc giao kết HĐLĐ; (ii) HĐLĐ vô hiệu toàn bộ do toàn bộ nội dung của hợp đồng lao động vi phạm pháp luật hoặc công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động là công việc mà pháp luật cấm thì quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động kể từ khi bắt đầu làm việc theo HĐLĐ bị tuyên bố vô hiệu cho đến khi HĐLĐ được ký lại/giao kết mới thực hiện như sau: 
  1. Nếu quyền, lợi ích của mỗi bên trong HĐLĐ không thấp hơn quy định của pháp luật, thỏa ước lao động tập thể đang áp dụng thì quyền, nghĩa vụ, lợi ích của người lao động được thực hiện theo nội dung HĐLĐ bị tuyên bố vô hiệu;
  2. Nếu HĐLĐ có nội dung về quyền, nghĩa vụ, lợi ích của mỗi bên vi phạm pháp luật nhưng không ảnh hưởng đến phần nội dung khác của HĐLĐ thì quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động thực hiện theo thỏa ước lao động tập thể đang áp dụng, trường hợp không có thỏa ước lao động tập thể thì thực hiện theo quy định của pháp luật.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 02 năm 2021.

 

Xử lý Hợp đồng lao động vô hiệu
Trả lời

Ngày 14/12/2020, Chính phủ ban Nghị định 145/2020/NĐ-CP hướng dẫn Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động. Theo đó, Nghị định này quy định về việc xử lý Hợp đồng lao động (HĐLĐ) vô hiệu như sau:

  • Đối với HĐLĐ vô hiệu từng phần: Khi HĐLĐ bị tuyên bố vô hiệu từng phần, người sử dụng lao động và người lao động tiến hành sửa đổi, bổ sung phần của HĐLĐ bị tuyên bố vô hiệu cho phù hợp với thỏa ước lao động tập thể và pháp luật. Trường hợp hai bên không thống nhất sửa đổi, bổ sung các nội dung đã bị tuyên bố vô hiệu thì thực hiện chấm dứt HĐLĐ;
  • Đối với HĐLĐ vô hiệu toàn bộ, cách thức xử lý như sau:
  1. HĐLĐ vô hiệu toàn bộ do người giao kết không đúng thẩm quyền hoặc vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động: Khi hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu toàn bộ, người lao động và người sử dụng lao động ký lại HĐLĐ theo đúng quy định của pháp luật. Trường hợp không ký lại HĐLĐ bị tuyên bố vô hiệu toàn bộ thì thực hiện chấm dứt HĐLĐ;
  2. HĐLĐ vô hiệu toàn bộ do toàn bộ nội dung của hợp đồng lao động vi phạm pháp luật hoặc công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động là công việc mà pháp luật cấm: Khi HĐLĐ bị tuyên bố vô hiệu toàn bộ, người lao động và người sử dụng lao động giao kết HĐLĐ mới theo đúng quy định của pháp luật. Trường hợp hai bên không giao kết HĐLĐ mới thì thực hiện chấm dứt HĐLĐ.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 02 năm 2021.

 

Bản Tin Pháp Luật Số 01/2021
Trả lời

Tháo gỡ vướng mắc cho doanh nghiệp có nhiều người đại diện theo pháp luật
Trả lời

Ngày 17/06/2020, Luật Doanh Nghiệp 2020 mới đã được Quốc Hội thông qua thay thế Luật Doanh Nghiệp 2014, có hiệu lực kể từ ngày ngày 01 tháng 01 năm 2021.

Một trong những điểm tiêu biểu tại Luật Doanh nghiệp 2020 đó chính là quy định về người đại diện theo pháp luật. Cụ thể như sau:

Tại Khoản 2 Điều 13 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định: “2. Công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật. Điều lệ công ty quy định cụ thể số lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.”

Tại Khoản 2 Điều 12 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định: “2. Công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật. Điều lệ công ty quy định cụ thể số lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp. Nếu công ty có nhiều hơn một người đại diện theo pháp luật thì Điều lệ công ty quy định cụ thể quyền, nghĩa vụ của từng người đại diện theo pháp luật. Trường hợp việc phân chia quyền, nghĩa vụ của từng người đại diện theo pháp luật chưa được quy định rõ trong Điều lệ công ty thì mỗi người đại diện theo pháp luật của công ty đều là đại diện đủ thẩm quyền của doanh nghiệp trước bên thứ ba; tất cả người đại diện theo pháp luật phải chịu trách nhiệm liên đới đối với thiệt hại gây ra cho doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về dân sự và quy định khác của pháp luật có liên quan.”

Như vậy, có thể thấy rằng, Luật Doanh nghiệp 2020 đã có những quy định rõ ràng, cụ thể hơn ở những điểm sau đây:

+ Nếu công ty có nhiều hơn một người đại diện theo pháp luật thì Điều lệ sẽ là văn bản phạm vi quyền, nghĩa vụ của từng người đại diện theo pháp luật;

+ Trường hợp việc phân chia quyền, nghĩa vụ của từng người đại diện theo pháp luật chưa được quy định rõ trong Điều lệ công ty thì mỗi người đại diện theo pháp luật của công ty đều là đại diện đủ thẩm quyền của doanh nghiệp trước bên thứ ba;

+ Tất cả người đại diện theo pháp luật phải chịu trách nhiệm liên đới đối với thiệt hại gây ra cho doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về dân sự và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Hy vọng thông tin trên hữu ích với quý bạn đọc.

Bizlawyer hận hạnh được đồng hành cùng bạn!

Kiểm soát viên không còn là chức danh trong cơ cấu tổ chức quản lý của Công ty TNHH MTV do tổ chức làm chủ sử hữu
Trả lời

Ngày 17/06/2020, Luật Doanh Nghiệp 2020 mới đã được Quốc Hôi thông qua thay thế Luật Doanh Nghiệp 2014, có hiệu lực kể từ ngày ngày 01 tháng 01 năm 2021.

Một trong những điểm tiêu biểu tại Luật Doanh nghiệp 2020 đó chính là quy định: Kiểm soát viên không còn là một trong những chức danh trong cơ cấu tổ chức quản lý của Công ty TNHH MTV do tổ chức làm chủ sử hữu. Cụ thể như sau: 

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 79 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định Công ty TNHH MTV do tổ chức làm chủ sở hữu được tổ chức quản lý và hoạt động theo một trong hai mô hình sau đây:

+ Chủ tịch công ty, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc;

+ Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc.

Trước đó, theo Khoản 1 Điều 78 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định: Công ty TNHH MTV do tổ chức làm chủ sở hữu được tổ chức quản lý và hoạt động theo một trong hai mô hình sau đây:

+ Chủ tịch công ty, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và Kiểm soát viên;

+ Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và Kiểm soát viên;

Như vậy, kể từ ngày 01/01/2021 trở đi, chức danh Kiểm soát viên không còn trong bộ máy Công ty TNHH MTV do tổ chức làm chủ sở hữu nữa, đây được xem là một thay đổi có tích cực bởi vai trò của kiểm soát viên trong một Công ty TNHH MTV không phải là doanh nghiệp nhà nước là không quan trọng.

Hy vọng thông tin trên hữu ích với quý bạn đọc.

Bizlawyer hận hạnh được đồng hành cùng bạn!

Giảm bớt thủ tục hành chính trong Luật Doanh nghiệp 2020
Trả lời

Ngày 17/06/2020, Luật Doanh Nghiệp 2020 mới đã được Quốc Hôi thông qua thay thế Luật Doanh Nghiệp 2014, có hiệu lực kể từ ngày ngày 1 tháng 1 năm 2021.

Một trong những điểm tiêu biểu tại Luật Doanh nghiệp 2020 đó chính là những quy định trong việc giảm bớt thủ tục hành chính trong Luật Doanh nghiệp 2020. Cụ thể như sau:

 

  1. Doanh nghiệp không phải thông báo Cơ Quan Đăng Ký Kinh Doanh về mẫu con dấu

 

Theo Khoản 2 Điều 44 của Luật Doanh Nghiệp 2014: Trước khi sử dụng con dấu, doanh nghiệp có nghĩa vụ thông báo mẫu con dấu với cơ quan đăng ký kinh doanh để đăng tải công khai trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Tại Điều 43 Luật Doanh nghiệp 2020 đã lược bỏ quy định này.

Bên cạnh đó, Luật Doanh nghiệp 2020 cũng ghi nhận một số điểm mới có liên quan đến Dấu của doanh nghiệp, cụ thể như sau:

+ Ghi nhận hình thức dấu chữ ký số theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.

+ Luật không quy định dấu phải thể hiện những nội dung gì mà để doanh nghiệp toàn quyền quyết định (Trước kia phải có tên và mã số doanh nghiệp). Theo đó, Doanh nghiệp tự quyết định quyết định: Loại dấu, số lượng, hình thức và nội dung dấu của doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện và đơn vị khác của doanh nghiệp. 

+ Việc quản lý và lưu trữ dấu: Do Điều lệ công ty hoặc quy chế do doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện hoặc đơn vị khác của doanh nghiệp có dấu ban hành. (Trước đó chỉ ghi nhận điều lệ).

Tuy nhiên, hiện quy định tại Điều 43 Luật Doanh nghiệp 2020 tồn tại bất cập: Không quy định rõ bằng cách nào để xác định con dấu của Doanh nghiệp nếu không có cơ sở dữ liệu công khai về mẫu con dấu.

          2. Công ty không phải thông báo Cơ Quan Đăng Ký Kinh Doanh các thay đổi đối với người quản lý của công ty 

Lược bỏ Điều 12 của Luật Doanh Nghiệp 2014, cụ thể trước đó quy định: Doanh nghiệp phải báo cáo Cơ quan đăng ký kinh doanh nơi doanh nghiệp có trụ sở chính trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày có thay đổi thông tin về họ, tên, địa chỉ liên lạc, quốc tịch, số Thẻ căn cước công dân, Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác của những người sau đây:

+ Thành viên Hội đồng quản trị đối với công ty cổ phần;

+ Thành viên Ban kiểm soát hoặc Kiểm soát viên;

+ Giám đốc hoặc Tổng giám đốc.

 

Tóm lại, kể từ năm 2000 đến nay, Việt Nam đã có 04 phiên bản Luật Doanh nghiệp (Luật Doanh nghiệp 1999; Luật Doanh nghiệp 2005; Luật Doanh nghiệp 2014; Luật Doanh nghiệp 2020). Việc thay đổi có thể được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau, có cả những tích cực lẫn tiêu cực. Tuy nhiên, chắc chắn một điều rằng, việc ra đời Luật Doanh nghiệp 2020 ít nhiều sẽ ảnh hưởng, tác động đến tình hình đầu tư, kinh doanh của các Doanh nghiệp tại Việt Nam. 

Hy vọng thông tin trên hữu ích với Quý bạn đọc.

Bizlawyer hận hạnh được đồng hành cùng Quý bạn đọc!

Kéo dài thời hạn góp vốn bằng tài sản
Trả lời

Ngày 17/06/2020, Luật Doanh Nghiệp 2020 mới đã được Quốc Hôi thông qua thay thế Luật Doanh Nghiệp 2014, có hiệu lực kể từ ngày ngày 1 tháng 1 năm 2021.

Một trong những điểm tiêu biểu tại Luật Doanh nghiệp 2020 đó chính là quy định về kéo dài thời hạn góp vốn bằng tài sản của thành viên góp vốn/cổ đông sáng lập, cụ thể như sau:

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 48 Luật Doanh Nghiệp 2014 quy định: Thành viên phải góp vốn phần vốn góp cho công ty đủ và đúng loại tài sản như đã cam kết khi đăng ký thành lập doanh nghiệp trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, không có bất kỳ ngoại lệ. 

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 47 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định: Thành viên phải góp vốn cho công ty đủ và đúng loại tài sản đã cam kết khi đăng ký thành lập doanh nghiệp trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, không kể thời gian vận chuyển, nhập khẩu tài sản góp vốn, thực hiện thủ tục hành chính để chuyển quyền sở hữu tài sản. 

Điều này có nghĩa là: Luật Doanh nghiệp 2020 cho phép các thành viên/cổ đông sáng lập, nếu góp vốn bằng tài sản được phép trừ đi khoảng thời gian vận chuyển, nhập khẩu tài sản góp vốn, thực hiện thủ tục hành chính để chuyển quyền sở hữu tài sản khi xác định thời hạn góp vốn ra khỏi khung thời hạn 90 ngày, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. 

Về ưu điểm: Cách tiếp cận này của Luật 2020 đã giải quyết một vấn đề thực tiễn đó là: Việc góp vốn bằng tài sản thường đòi hỏi thời gian dài hơn.

Về nhược điểm: Mặc dù tiến bộ nhưng quy định này lại chưa làm rõ được một số vấn đề pháp lý như sau:

+ Thứ nhất, đối tượng được phép kéo dài thời hạn góp vốn: Quy định không nêu rõ liệu thời hạn kéo dài đó chỉ áp dụng cho các thành viên/cổ đông góp vốn bằng tài sản hay áp dụng cho cả các thành viên/cổ đông góp vốn bằng tiền mặt. 

+ Thứ hai, thời hạn tối đa cho việc góp vốn: Quy định không đưa ra bất kỳ hạn chế nào lên thời hạn cần thiết để vận chuyển, nhập khẩu, thực tiện thủ tục hành chính để chuyển quyền sở hữu tài sản. Điều này có thể dẫn đến một lỗ hổng lớn trong công tác quản lý về vấn đề góp vốn vào doanh nghiệp, thành viên/cổ đông góp vốn bằng tài sản có thể cố ý trì hoãn việc góp vốn bằng cách không thực hiện một cách kịp thời.

Tóm lại, kể từ năm 2000 đến nay, Việt Nam đã có 04 phiên bản Luật Doanh nghiệp (Luật Doanh nghiệp 1999; Luật Doanh nghiệp 2005; Luật Doanh nghiệp 2014; Luật Doanh nghiệp 2020). Việc thay đổi có thể được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau, có cả những tích cực lẫn tiêu cực. Tuy nhiên, chắc chắn một điều rằng, việc ra đời Luật Doanh nghiệp 2020 ít nhiều sẽ ảnh hưởng, tác động đến tình hình đầu tư, kinh doanh của các Doanh nghiệp tại Việt Nam. 

Hy vọng thông tin trên hữu ích với Quý bạn đọc.

Bizlawyer hận hạnh được đồng hành cùng Quý bạn đọc!