Ngày 25/01/2021, Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 07/2021/TT-BTC quy định thời điểm nộp chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa nhập khẩu trong Hiệp định Thương mại tự do giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên minh châu Âu (Hiệp định EVFTA). Cụ thể:
Người khai hải quan nộp chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa nhập khẩu tại thời điểm làm thủ tục hải quan.
Trường hợp chưa có chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa nhập khẩu tại thời điểm làm thủ tục hải quan để áp dụng thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt theo quy định tại Hiệp định EVFTA, người khai hải quan phải khai chậm nộp chứng từ chứng nhận xuất xứ trên tờ khai hải quan nhập khẩu và được khai bổ sung, nộp chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa trong thời hạn không quá 02 năm kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan nhập khẩu và trong thời hạn hiệu lực của chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa.
Trường hợp người khai hải quan nộp chứng từ chứng nhận xuất xứ sau thời hạn hiệu lực như trên (tức trong thời hạn không quá 02 năm kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan nhập khẩu) vì lý do bất khả kháng hoặc các lý do hợp lệ khác nằm ngoài sự kiểm soát của nhà nhập khẩu hoặc các trường hợp xuất trình muộn khác, Bộ Tài chính xem xét, quyết định việc áp dụng thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt theo quy định tại Hiệp định EVFTA đối với các trường hợp cụ thể. Đối với trường hợp xuất trình muộn khác, hàng hóa phải được nhập khẩu trong thời hạn hiệu lực của chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa.
Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 11 tháng 3 năm 2021.
Ngày 31 tháng 12 năm 2020, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 119/2020/TT-BTC quy định hoạt động đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán giao dịch chứng khoán. Thông tư có hiệu lực kể từ ngày 15/12/2021.
Trong đó, có quy định một số các trường hợp bên chuyển quyền sở hữu chứng khoán không phải thực hiện lưu ký chứng khoán trước khi thực hiện chuyển quyền sở hữu, cụ thể như sau:
Ngày 9/02/2021, Chính Phủ ban hành Nghị định số 09/2021/NĐ-CP về Quản lý vật liệu xây dựng. Tại Nghị định này có ghi nhận nội dung quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình sản xuất vật liệu xây dựng, cụ thể như sau:
Thứ nhất, việc triển khai dự án đầu tư xây dựng công trình sản xuất vật liệu xây dựng được thực hiện theo quy định của pháp luật về đầu tư, pháp luật về xây dựng và pháp luật có liên quan.
Thứ hai, đối với dự án đầu tư xây dựng công trình sản xuất vật liệu xây dựng thuộc đối tượng phải chấp thuận chủ trương đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư, trong quá trình thẩm định để chấp thuận chủ trương đầu tư, Bộ Kế hoạch và Đầu tư hoặc cơ quan đăng ký đầu tư lấy ý kiến của cơ quan quản lý nhà nước về vật liệu xây dựng trước khi trình cấp có thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư, cụ thể như sau:
Thứ ba, nội dung lấy ý kiến bao gồm:
Nghị định số 09/2021/NĐ-CP có hiệu lực kể từ ngày 09/02/2021.
Ngày 31/12/2020, Bộ Tài Chính ban hành Thông tư số 118/2020/TT-BTC hướng dẫn một số nội dung về chào bán, phát hành chứng khoán, chào mua công khai, mua lại cổ phiếu, đăng ký công ty đại chúng và huỷ bỏ tư cách công ty đại chúng. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 15/02/2021.
Một trong những điểm nổi bật của văn bản này liên quan đến trình tự thủ tục huỷ tư cách công ty đại chúng đối với trường hợp không đáp ứng điều kiện là công ty đại chúng do tổ chức lại, giải thể, phá sản doanh nghiệp, cụ thể như sau:
Ngày 22/01/2021, Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 06/2021/TT-BTC hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế ngày 13 tháng 06 năm 2019 về quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Theo đó, Thông tư ngày quy định các trường hợp hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu không phải khai thuế theo từng lần phát sinh bao gồm:
Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 08 tháng 3 năm 2021.
Ngày 11/01/2021, Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 03/2021/TT-BTC hướng dẫn về miễn thuế, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp khoa học và công nghệ.
Thông tư quy định về điều kiện được hưởng ưu đãi miễn thuế, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp của doanh nghiệp khoa học và công nghệ như sau:
Theo đó, doanh nghiệp khoa học và công nghệ khi đáp ứng các điều kiện như trên sẽ được miễn thuế 04 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 09 năm tiếp theo. Thời gian miễn thuế, giảm thuế được tính liên tục kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ. Trường hợp không có thu nhập chịu thuế trong ba năm đầu, kể từ năm đầu tiên được cấp Giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ thì năm đầu tiên tính thời gian miễn thuế, giảm thuế được tính từ năm thứ tư.
Trong thời gian đang được ưu đãi miễn thuế, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, nếu năm nào doanh nghiệp khoa học và công nghệ không đáp ứng điều kiện số 3 như trên thì năm đó không được hưởng ưu đãi và được tính trừ vào thời gian được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp.
Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2021.
Ngày 12/01/2021, Tổng liên đoàn lao động Việt Nam đã ban hành Quyết định 1921/QĐ-TLĐ (“Quyết định số 1921”). Quyết định 1921 được ban hành với hy vọng có thể hỗ trợ một khoản tài chính đối với các đoàn viên, người lao động bị ảnh hưởng trực tiếp bởi dịch Covid-19 và thiên tai năm 2020 trong dịp Tết Nguyên đán Tân Sửu năm 2021.
Sau đây sẽ là quy định cụ thể của Quyết định 1921 về mức hỗ trợ đoàn viên, người lao động bị ảnh hưởng trực tiếp bởi dịch Covid-19 và thiên tai năm 2020 có thể nhận được trong dịp Tết Nguyên đán Tân Sửu năm 2021.
(1) Hỗ trợ bằng tiền: Mức hỗ trợ 1.000.000 đồng/người (một triệu đồng chẵn).
(2) Trường hợp đoàn viên, người lao động có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi dịch Covid-19, thiên tai, mức hỗ trợ tối đa không quá 2.000.000 đồng/người (hai triệu đồng chẵn).
Lưu ý:
Bên cạnh đó, Quyết định 1921 cũng nhấn mạnh: Ban Thường vụ Liên đoàn Lao động các tỉnh, thành phố; Công đoàn ngành Trung ương và tương đương; Công đoàn Tổng công ty trực thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam phải đảm bảo tất cả đoàn viên, người lao động được nhận hỗ trợ trước ngày 05/02/2021.
Trên đây là quy định cụ thể của Quyết định 1921 về mức hỗ trợ đoàn viên, người lao động bị ảnh hưởng trực tiếp bởi dịch Covid-19 và thiên tai năm 2020 có thể nhận được trong dịp Tết Nguyên đán Tân Sửu năm 2021. Quyết định 1921 có hiệu lực kể từ ngày 12/01/2021.
Hy vọng thông tin trên hữu ích với Quý bạn đọc.
Bizlawyer hận hạnh được đồng hành cùng Quý bạn đọc!
Ngày 12/01/2021, Tổng liên đoàn lao động Việt Nam đã ban hành Quyết định 1921/QĐ-TLĐ (“Quyết định số 1921”). Quyết định 1921 được ban hành với hy vọng có thể hỗ trợ một khoản tài chính đối với các đoàn viên, người lao động bị ảnh hưởng trực tiếp bởi dịch Covid-19 và thiên tai năm 2020 trong dịp Tết Nguyên đán Tân Sửu năm 2021.
Sau đây sẽ là quy định cụ thể của Quyết định 1921 về đối tượng và tiêu chí cụ thể cho khoản hỗ trợ tài chính từ Liên đoàn lao động Việt Nam.
Đoàn viên, người lao động làm việc trong các doanh nghiệp, cơ quan, đơn vị bị ảnh hưởng nặng nề bởi dịch Covid-19 và thiên tai năm 2020.
Là đoàn viên, người lao động có thời gian làm việc tại doanh nghiệp, cơ quan, đơn vị từ 01 năm trở lên, tính đến ngày 31/12/2020, định hướng tiêu chí như sau:
(1) Bản thân hoặc có vợ, chồng, con, bố, mẹ (đang ở cùng và phải trực tiếp nuôi dưỡng) bị bệnh hiểm nghèo; bản thân là người khuyết tật hoặc bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đang được hưởng trợ cấp hàng tháng.
(2) Làm việc trong các doanh nghiệp gặp khó khăn do bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 phải ngừng hoạt động, không có việc làm, nghỉ luân phiên hoặc giãn việc làm, có thu nhập không ổn định với mức bình quân chung trong năm 2020 không quá 03 triệu đồng/tháng.
(3) Làm việc tại các cơ sở giáo dục phải nghỉ việc từ 1,5 tháng trở lên, ảnh hưởng nhiều đến đời sống, thu nhập của bản thân và gia đình do tác động bởi dịch bệnh Covid-19 và thiên tai năm 2020.
(4) Có hoàn cảnh khó khăn, làm việc trong các cơ quan, đơn vị, địa bàn bị thiệt hại nặng nề bởi thiên tai năm 2020.
(5) Có hoàn cảnh khó khăn đang mang thai, nuôi con nhỏ dưới 24 tháng tuổi, có thu nhập trung bình hàng tháng trong năm thấp dưới mức lương tối thiểu vùng.
Trên cơ sở các tiêu chí trên, căn cứ vào tình hình số lượng đoàn viên, công nhân, viên chức, lao động; sự hỗ trợ của cơ quan, ngành, chính quyền địa phương; nguồn tài chính tích lũy của đơn vị, các Liên đoàn Lao động tỉnh, thành phố, Công đoàn ngành Trung ương và tương đương, Công đoàn Tổng công ty trực thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam bổ sung, cụ thể hóa các tiêu chí theo phương châm ưu tiên những đối tượng khó khăn nhất, trực tiếp bị ảnh hưởng bởi dịch Covid – 19 và thiên tai năm 2020.
Đoàn viên, người lao động đã được hỗ trợ theo Quyết định số 643/QĐ-TLĐ ngày 22 tháng 5 năm 2020 của Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam về việc hỗ trợ cho đoàn viên, người lao động bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid -19 thì không được nhận hỗ trợ theo Quyết định 1921. Trường hợp đã được hỗ trợ theo Quyết định số 643/QĐ-TLĐ ngày 22 tháng 5 năm 2020 của Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam nhưng đoàn viên, người lao động vẫn gặp khó khăn đặc biệt, thì các cấp công đoàn xem xét kỹ lưỡng và tiếp tục hỗ trợ theo mức tại Quyết định 1921.
Trên đây là quy định tại Quyết định 1921 về đối tượng và tiêu chí cụ thể cho khoản hỗ trợ tài chính từ Liên đoàn lao động Việt Nam. Quyết định 1921 có hiệu lực vào ngày 12/01/2021.
Hy vọng thông tin trên hữu ích với Quý bạn đọc.
Bizlawyer hận hạnh được đồng hành cùng Quý bạn đọc!
Ngày 14/12/2020, Chính phủ đã ban hành Nghị định 145/2020/NĐ-CP hướng dẫn Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động (“Nghị định 145”). Trong đó có nhiều quy định mới mà Người lao động và Người sử dụng lao động cần quan tâm.
Một trong số đó là quy định về Nội quy lao động, hướng dẫn chi tiết cho Điều 118 Bộ luật lao động 2019, cụ thể như sau:
– Thứ nhất, Người sử dụng lao động phải ban hành nội quy lao động:
+ Nếu sử dụng từ 10 người lao động trở lên thì nội quy lao động phải bằng văn bản;
+ Nếu sử dụng dưới 10 người lao động thì không bắt buộc ban hành nội quy lao động bằng văn bản nhưng phải thỏa thuận nội dung về kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất trong hợp đồng lao động.
Bộ luật lao động 2012, tại Khoản 1 Điều 119 chỉ quy định: “Người sử dụng lao động sử dụng từ 10 người lao động trở lên phải có nội quy lao động bằng văn bản.”
– Thứ hai, bổ sung thêm quy định về những nội dung cơ bản mà một Nội quy lao động phải có, cụ thể:
(1) Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi;
(2) Trật tự tại nơi làm việc;
(3) An toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc;
(4) Phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc; trình tự, thủ tục xử lý hành vi quấy rối tình dục tại nơi làm việc;
(5) Bảo vệ tài sản và bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động;
(6) Trường hợp được tạm thời chuyển người lao động làm việc khác so với hợp đồng lao động;
(7) Các hành vi vi phạm kỷ luật lao động của người lao động và các hình thức xử lý kỷ luật lao động;
(8) Trách nhiệm vật chất:
(9) Người có thẩm quyền xử lý kỷ luật lao động
Mục số (4), (6) và (9) là những nội dung được bổ sung là những nội dung cơ bản mà một Nội quy lao động phải có.
– Thứ ba, những công việc trước và sau khi ban hành/sửa đổi nội quy lao động:
+ Trước khi ban hành nội quy lao động hoặc sửa đổi, bổ sung nội quy lao động, người sử dụng lao động phải tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đối với nơi có tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở. Việc tham khảo ý kiến tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 41 Nghị định 145.
+ Nội quy lao động sau khi ban hành phải được gửi đến từng tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở (nếu có) và thông báo đến toàn bộ người lao động, đồng thời niêm yết nội dung chính ở những nơi cần thiết tại nơi làm việc.
+ Bên cạnh hướng dẫn chi tiết tại Nghị địn 145, tại Khoản 4 Điều 119 Bộ Luật Lao động 2019 còn bổ sung một quy định có liên quan đến đăng ký nội quy lao động, theo đó: Người sử dụng lao động có các chi nhánh, đơn vị, cơ sở sản xuất, kinh doanh đặt ở nhiều địa bàn khác nhau thì gửi nội quy lao động đã được đăng ký đến cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi đặt chi nhánh, đơn vị, cơ sở sản xuất, kinh doanh.
Trên đây là một vài điểm mới đáng chú ý có liên quan nội quy lao động theo pháp luật lao động mới, được hướng dẫn tại Nghị định 145. Nghị định 145 có hiệu lực kể từ ngày 01/02/2021.
Hy vọng thông tin trên hữu ích với Quý bạn đọc.
Bizlawyer hận hạnh được đồng hành cùng Quý bạn đọc!