Nhiều ngân hàng tăng mạnh lãi suất huy động
Với mong muốn bổ sung thêm nguồn vốn trung, dài hạn để phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh cuối năm, đồng thời giảm...
Bùng nổ nhượng quyền thương hiệu vào Việt Nam
Hoạt động nhượng quyền đang được giới kinh doanh vận dụng để đưa các thương hiệu nước ngoài vào thị trường Việt Nam. Ngoài lĩnh...
6 ngành kinh tế phát triển mũi nhọn khu vực miền Trung
Có 6 lĩnh vực kinh tế biển, ven biển đang được các tỉnh miền Trung tập trung phát triển và đã đạt được những kết...
91.9% doanh nghiệp lạc quan về hoạt động sản xuất 6 tháng cuối năm
Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có tỷ lệ doanh nghiệp dự báo về khối lượng sản xuất khả...
Việt Nam chuyển dần từ nhập siêu sang xuất siêu với CPTPP
Với hầu hết các hiệp định thương mại (FTA) đã ký, Việt Nam thường nhập siêu, thì nay, khi thực hiện CPTTP, trong 7 tháng...
Giải đáp pháp luật
Hợp đồng trước đăng ký doanh nghiệp phải thực hiện chuyển giao quyền và nghĩa vụ
Trả lời

Ngày 17/06/2020, Luật Doanh Nghiệp 2020 mới đã được Quốc Hôi thông qua thay thế Luật Doanh Nghiệp 2014, có hiệu lực kể từ ngày ngày 1 tháng 1 năm 2021.

Một trong những điểm tiêu biểu tại Luật Doanh nghiệp 2020 đó chính là quy định có liên quan đến Hợp đồng xác lập trước thời điểm đăng ký doanh nghiệp. Cụ thể như sau:

 

  1. Theo quy định tại Khoản 2, Khoản 3 Điều 19 Luật Doanh Nghiệp 2014 quy định: 

 

  • Trường hợp doanh nghiệp được thành lập thì doanh nghiệp phải tiếp tục thực hiện quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đã ký kết quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp các bên hợp đồng có thỏa thuận khác.
  • Trường hợp doanh nghiệp không được đăng ký thành lập thì người ký kết hợp đồng theo quy định tại khoản 1 Điều này chịu trách nhiệm hoặc người thành lập doanh nghiệp liên đới chịu trách nhiệm thực hiện hợp đồng đó.

      2. Theo quy định tại Khoản 2, Khoản 3 Điều 18 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định: 

  • Trường hợp được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, doanh nghiệp phải tiếp tục thực hiện quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đã ký kết quy định tại khoản 1 Điều này và các bên phải thực hiện việc chuyển giao quyền, nghĩa vụ theo hợp đồng theo quy định của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp trong hợp đồng có thỏa thuận khác.
  • Trường hợp doanh nghiệp không được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, người ký kết hợp đồng theo quy định tại khoản 1 Điều này chịu trách nhiệm thực hiện hợp đồng; trường hợp có người khác tham gia thành lập doanh nghiệp thì cùng liên đới chịu trách nhiệm thực hiện hợp đồng đó.

 

      3. Điều này có nghĩa là: Luật Doanh nghiệp 2020 đã bổ sung:

 

  • Trách nhiệm đối với các thành viên hoặc cổ đông sáng lập của một công ty phải thực hiện việc chuyển giao quyền, nghĩa vụ hợp đồng cho công ty theo Bộ Luật Dân Sự ngay khi công ty được thành lập.
  • Yêu cầu tất cả các thành viên hoặc cổ đông sáng lập của một công ty (thay vì chỉ những người ký hợp đồng) phải liên đới chịu trách nhiệm đối với các hợp đồng trước đăng ký doanh nghiệp đã ký trong trường hợp công ty không được thành lập.

Tóm lại, kể từ năm 2000 đến nay, Việt Nam đã có 04 phiên bản Luật Doanh nghiệp (Luật Doanh nghiệp 1999; Luật Doanh nghiệp 2005; Luật Doanh nghiệp 2014; Luật Doanh nghiệp 2020). Việc thay đổi có thể được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau, có cả những tích cực lẫn tiêu cực. Tuy nhiên, chắc chắn một điều rằng, việc ra đời Luật Doanh nghiệp 2020 ít nhiều sẽ ảnh hưởng, tác động đến tình hình đầu tư, kinh doanh của các Doanh nghiệp tại Việt Nam. 

Hy vọng thông tin trên hữu ích với quý bạn đọc.

Bizlawyer hận hạnh được đồng hành cùng bạn!

Quy định về hình thức trả lương qua tài khoản ngân hàng
Trả lời

Ngày 14/12/2020, Chính phủ ban hành Nghị định 145/2020/NĐ-CP hướng dẫn Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động. Theo đó, Nghị định này quy định về hình thức trả lương qua tài khoản ngân hàng như sau:

Căn cứ vào tính chất công việc và điều kiện sản xuất, kinh doanh, người sử dụng lao động và người lao động thỏa thuận trong hợp đồng lao động hình thức trả lương theo thời gian, theo sản phẩm và trả lương khoán.

Tiền lương của người lao động theo các hình thức trả lương như trên được trả bằng tiền mặt hoặc trả qua tài khoản cá nhân của người lao động được mở tại ngân hàng. Đối với việc trả lương qua tài khoản cá nhân của người lao động, thì người sử dụng lao động phải trả các loại phí liên quan đến việc mở tài khoản và chuyển tiền lương.

Như vậy, kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thì người sử dụng lao động và người lao động không phải thỏa thuận về các loại phí liên quan đến việc mở, duy trì tài khoản ngân hàng, mà toàn bộ các loại phí liên quan đến việc mở tài khoản và chuyển tiền lương cho người lao động sẽ phải do người sử dụng lao động chi trả nếu chọn hình thức trả lương qua tài khoản ngân hàng.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 02 năm 2021.

 

Quy định về số lượng, thành phần tham gia đối thoại tại nơi làm việc
Trả lời

Ngày 14/12/2020, Chính phủ ban Nghị định 145/2020/NĐ-CP hướng dẫn Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động. Theo đó, đối với hoạt động đối thoại tại nơi làm việc, Nghị định này quy định về số lượng, thành phần tham gia như sau:

  1. Bên Người sử dụng lao động “NSDLĐ”:

Căn cứ điều kiện sản xuất, kinh doanh, tổ chức lao động, NSDLĐ quyết định số lượng, thành phần tham gia đối thoại bảo đảm ít nhất 03 người, trong đó có người đại diện theo pháp luật của NSDLĐ và quy định trong quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc.

        2. Bên Người lao động “NLĐ”:

Căn cứ điều kiện sản xuất, kinh doanh, tổ chức lao động, cơ cấu, số lượng lao động và các yếu tố bình đẳng giới, tổ chức đại diện NLĐ tại cơ sở và nhóm đại diện đối thoại xác định số lượng, thành phần tham gia đối thoại nhưng phải bảo đảm số lượng như sau:

  • Ít nhất 03 người, nếu NSDLĐ sử dụng dưới 50 NLĐ;
  • Ít nhất từ 04 người đến 08 người, nếu NSDLĐ sử dụng từ 50 NLĐ đến dưới 150 NLĐ;
  • Ít nhất từ 09 người đến 13 người, nếu NSDLĐ sử dụng từ 150 NLĐ đến dưới 300 NLĐ;
  • Ít nhất từ 14 người đến 18 người, nếu NSDLĐ sử dụng từ 300 NLĐ đến dưới 500 NLĐ;
  • Ít nhất từ 19 đến 23 người, nếu NSDLĐ sử dụng từ 500 đến dưới 1.000 NLĐ;
  • Ít nhất 24 người, nếu NSDLĐ sử dụng từ 1.000 NLĐ trở lên.

Căn cứ số lượng người đại diện đối thoại của bên NLĐ, tổ chức đại diện NLĐ tại cơ sở và nhóm đại diện đối thoại của NLĐ xác định số lượng đại diện tham gia đối thoại tương ứng theo tỷ lệ thành viên của tổ chức và nhóm mình trên tổng số lao động của NSDLĐ.

Danh sách thành viên đại diện tham gia đối thoại của hai bên được thực hiện định kỳ ít nhất 02 năm một lần và công bố công khai tại nơi làm việc. Trong khoảng thời gian giữa 02 kỳ, xác định thành viên tham gia đối thoại, nếu có thành viên đại diện không thể tiếp tục tham gia thì hai bên xem xét, quyết định bổ sung thành viên thay thế của tổ chức, nhóm mình và công bố công khai tại nơi làm việc.

Khi tiến hành đối thoại ngoài các thành viên tham gia đối thoại như trên, hai bên thống nhất mời tất cả NLĐ hoặc một số NLĐ liên quan cùng tham gia đối thoại, bảo đảm có sự tham gia của đại diện lao động nữ khi đối thoại về các nội dung liên quan đến quyền, lợi ích của lao động nữ.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 02 năm 2021.

 

Quy định về thời hạn báo trước khi đơn phương chấm dứt Hợp đồng lao động (HĐLĐ) đối với Người quản lý doanh nghiệp
Trả lời

Ngày 14/12/2020, Chính phủ ban Nghị định 145/2020/NĐ-CP hướng dẫn Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động. Theo đó, Nghị định này quy định về thời hạn báo trước khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ đối với Người quản lý doanh nghiệp.

Theo quy định tại Nghị định này thì Người quản lý doanh nghiệp (được quy định tại Luật doanh nghiệp) là một ngành, nghề đặc thù. Khi người lao động làm ngành, nghề, công việc đặc thù đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với những người lao động này thì thời hạn báo trước như sau:

  • Ít nhất 120 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc hợp đồng lao động xác định thời hạn từ 12 tháng trở lên;
  • Ít nhất bằng một phần tư thời hạn của hợp đồng lao động đối với hợp đồng lao động có thời hạn dưới 12 tháng.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 02 năm 2021.

Bản Tin Pháp Luật Số 18/2020
Trả lời

Những trường hợp không xử phạt vi phạm hành chính về thuế
Trả lời

Ngày 19/10/2020, Chính phủ ban hành Nghị định 125/2020/NĐ-CP (“Nghị định 125/2020/NĐ-CP”) quy định về xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn. Sau đây là một số nội dung đáng lưu ý của Nghị định 125/2020/NĐ-CP về: Những trường hợp không xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn 

Theo quy định tại Điều 9 của Nghị định 125/2020/NĐ-CP, 06 trường hợp không xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn, cụ thể như sau:

  • Các trường hợp không xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
  • Người nộp thuế chậm thực hiện thủ tục thuế, hóa đơn bằng phương thức điện tử do sự cố kỹ thuật của hệ thống công nghệ thông tin được thông báo trên Cổng thông tin điện tử của cơ quan thuế (thuộc trường hợp vi phạm do sự kiện bất khả kháng).
  • Người nộp thuế vi phạm hành chính về thuế do thực hiện theo văn bản hướng dẫn, quyết định xử lý của cơ quan thuế, cơ quan nhà nước có thẩm quyền liên quan đến nội dung xác định nghĩa vụ thuế của người nộp thuế (kể cả các văn bản hướng dẫn, quyết định xử lý được ban hành trước ngày Nghị định này có hiệu lực), trừ trường hợp thanh tra, kiểm tra thuế tại trụ sở người nộp thuế chưa phát hiện sai sót của người nộp thuế trong việc khai, xác định số tiền thuế phải nộp hoặc số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn nhưng sau đó hành vi vi phạm hành chính về thuế của người nộp thuế bị phát hiện.
  • Trường hợp khai sai, người nộp thuế đã khai bổ sung hồ sơ khai thuế và đã tự giác nộp đủ số tiền thuế phải nộp trước thời điểm cơ quan thuế công bố quyết định kiểm tra thuế, thanh tra thuế tại trụ sở người nộp thuế hoặc trước thời điểm cơ quan thuế phát hiện không qua thanh tra, kiểm tra thuế tại trụ sở của người nộp thuế hoặc trước khi cơ quan có thẩm quyền khác phát hiện.
  • Cá nhân trực tiếp quyết toán thuế thu nhập cá nhân chậm nộp hồ sơ quyết toán thuế thu nhập cá nhân mà có phát sinh số tiền thuế được hoàn; hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh đã bị ấn định thuế.
  • Không xử phạt hành vi vi phạm về thời hạn nộp hồ sơ khai thuế trong thời gian người nộp thuế được gia hạn nộp hồ sơ khai thuế đó.

Nghị định 125/2020/NĐ-CP có hiệu lực kể từ ngày 05/12/2020.

Hy vọng thông tin trên hữu ích với Quý bạn đọc.

Bizlawyer hận hạnh được đồng hành cùng Quý bạn đọc!

Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn
Trả lời

Ngày 19/10/2020, Chính phủ ban hành Nghị định 125/2020/NĐ-CP (“Nghị định 125/2020/NĐ-CP”) quy định về xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn. Sau đây là một số nội dung đáng lưu ý của Nghị định 125/2020/NĐ-CP về: Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn.

Theo quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 8 của Nghị định 125/2020/NĐ-CP, thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn được quy định như sau:

Hành vi vi phạm Thời hiệu xử phạt Thời điểm tính thời hiệu xử phạt
Về hóa đơn 01 năm Đối với hành vi vi phạm hành chính đang được thực hiện thì thời hiệu được tính từ ngày người có thẩm quyền thi hành công vụ phát hiện hành vi vi phạm. 

Đối với hành vi vi phạm hành chính đã kết thúc thì thời hiệu được tính từ ngày chấm dứt hành vi vi phạm. 

Về thủ tục Thuế 02 năm Kể từ ngày thực hiện hành vi vi phạm.
Trốn thuế (chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn) 05 năm Kể từ ngày thực hiện hành vi vi phạm.

Nghị định 125/2020/NĐ-CP có hiệu lực kể từ ngày 05/12/2020.

Hy vọng thông tin trên hữu ích với Quý bạn đọc.

Bizlawyer hận hạnh được đồng hành cùng Quý bạn đọc!

Mức phạt tiền đối với hành vi vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn
Trả lời

Ngày 19/10/2020, Chính phủ ban hành Nghị định 125/2020/NĐ-CP (“Nghị định 125/2020/NĐ-CP”) quy định về xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn. Sau đây là một số nội dung đáng lưu ý của Nghị định 125/2020/NĐ-CP về: Mức phạt tiền đối với hành vi vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn.

Khoản 1 Điều 7 của Nghị định 125/2020/NĐ-CP quy định mức phạt tiền khi xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn như sau:

Chủ thể vi phạm Lĩnh vực
Thủ tục Thuế Hóa đơn
Tổ chức Tối đa 200 triệu đồng Tối đa 100 triệu đồng
Cá nhân Tối đa 100 triệu đồng Tối đa 50 triệu đồng

Ngoài mức phạt tiền tối đa đối với tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực Thủ tục thuế và Hóa đơn nêu trên, Nghị định 125/2020/NĐ-CP còn quy định Mức phạt tiền trong 03 trường hợp đặc biệt như sau:

  • Đối với hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn: Mức phạt tiền là 20% số tiền thuế thiếu hoặc số tiền thuế đã được miễn, giảm, hoàn cao hơn quy định.
  • Đối với hành vi trốn thuế: Mức phạt từ 1 đến 3 lần số tiền thuế trốn.
  • Đối với hành vi không trích vào tài khoản của ngân sách nhà nước (Xử phạt vi phạm hành chính về thuế đối với thuộc trường hợp ngân hàng thương mại, người bảo lãnh nộp tiền thuế): Mức phạt tương ứng với số tiền không trích vào tài khoản của ngân sách nhà nước.

Như vậy, có thể thấy rằng, Nghị định 125/2020/NĐ-CP đã đưa ra những quy định cụ thể, chi tiết về mức phạt tiền đối với hành vi vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn mà trước đó đang nằm rải rác hoặc chưa được quy định tại các thông tư hướng dẫn của Bộ Tài Chính, cụ thể là Thông tư 166/2013/TT-BTC (hướng dẫn xử phạt vi phạm hành chính về thuế do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành); Thông tư 10/2014/TT-BTC (hướng dẫn xử phạt vi phạm hành chính về hóa đơn do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành).

Nghị định 125/2020/NĐ-CP có hiệu lực kể từ ngày 05/12/2020.

Hy vọng thông tin trên hữu ích với quý bạn đọc.

Bizlawyer hận hạnh được đồng hành cùng bạn!

Các trường hợp công khai thông tin người nộp thuế từ ngày 05/12/2020
Trả lời

Ngày 19/10/2020, Chính phủ ban hành Nghị định 126/2020/NĐ-CP về hướng dẫn Luật Quản lý thuế. Theo đó, Nghị định này quy định các trường hợp sẽ công khai thông tin người nộp thuế kể từ ngày 05/12/2020, bao gồm:

  1. Ngừng hoạt động, chưa hoàn thành thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế, không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký.
  2. Trốn thuế, tiếp tay cho hành vi trốn thuế, chiếm đoạt tiền thuế, vi phạm pháp luật về thuế rồi bỏ trốn khỏi trụ sở kinh doanh; phát hành, sử dụng bất hợp pháp hóa đơn.
  3. Không nộp hồ sơ khai thuế sau 90 ngày, kể từ ngày hết thời hạn nộp hồ sơ khai thuế theo quy định của pháp luật thuế hiện hành.
  4. Các hành vi vi phạm pháp luật về thuế của người nộp thuế làm ảnh hưởng đến quyền lợi và nghĩa vụ thuế của tổ chức, cá nhân khác.
  5. Không thực hiện các yêu cầu của cơ quan quản lý thuế theo quy định của pháp luật như: Từ chối không cung cấp thông tin tài liệu cho cơ quan quản lý thuế, không chấp hành quyết định kiểm tra, thanh tra và các yêu cầu khác của cơ quan quản lý thuế theo quy định của pháp luật.
  6. Chống, ngăn cản công chức thuế, công chức hải quan thi hành công vụ.
  7. Quá 90 ngày kể từ ngày hết thời hạn nộp thuế và các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước hoặc hết thời hạn chấp hành các quyết định hành chính về quản lý thuế mà người nộp thuế hoặc người bảo lãnh không tự nguyện chấp hành.
  8. Cá nhân, tổ chức không chấp hành các quyết định hành chính về quản lý thuế mà có hành vi phát tán tài sản, bỏ trốn.
  9. Các thông tin khác được công khai theo quy định của pháp luật.

Như vậy, kể từ ngày 05/12/2020 nếu người nộp thuế thuộc các trường hợp nêu trên, thì thông tin của người nộp thuế sẽ bị công khai bằng các hình thức như: đăng tải trên cổng thông tin điện tử của cơ quan quản lý thuế, trang thông tin điện tử của cơ quan quản lý thuế các cấp; Công khai trên phương tiện thông tin đại chúng; Niêm yết tại trụ sở cơ quan quản lý thuế; Thông qua việc tiếp công dân, họp báo, thông cáo báo chí, hoạt động của người phát ngôn của cơ quan quản lý thuế các cấp theo quy định của pháp luật hoặc các hình thức khác theo quy định pháp luật.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 05 tháng 12 năm 2020.

Hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế trước khi xuất cảnh
Trả lời

Ngày 19/10/2020, Chính phủ ban hành Nghị định 126/2020/NĐ-CP về hướng dẫn Luật Quản lý thuế. Theo đó, Nghị định này quy định về việc cá nhân phải hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế trước khi xuất cảnh ra nước ngoài. Trường hợp chưa hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế thì người có thẩm quyền sẽ ra quyết định tạm hoãn xuất cảnh. Các trường hợp tạm hoãn xuất cảnh bao gồm:

  1. Tạm hoãn xuất cảnh đối với cá nhân, cá nhân là người đại diện theo pháp luật của người nộp thuế là doanh nghiệp thuộc trường hợp đang bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế chưa hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế
  2. Người Việt Nam xuất cảnh để định cư ở nước ngoài chưa hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế.
  3. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài trước khi xuất cảnh chưa hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế.
  4. Người nước ngoài trước khi xuất cảnh từ Việt Nam chưa hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế.

Sau khi rà soát, đối chiếu, xác định chính xác nghĩa vụ nộp thuế của người nộp thuế, cơ quan quản lý thuế quản lý trực tiếp người nộp thuế lập danh sách thuộc trường hợp bị tạm hoãn xuất cảnh và lập văn bản gửi cơ quan quản lý xuất nhập cảnh đồng thời gửi cho người nộp thuế biết để hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế trước khi xuất cảnh. Ngay trong ngày nhận được văn bản tạm hoãn xuất cảnh của cơ quan quản lý thuế, cơ quan quản lý xuất nhập cảnh có trách nhiệm thực hiện việc tạm hoãn xuất cảnh theo quy định và đăng tải trên trang thông tin điện tử của cơ quan quản lý xuất nhập cảnh. Trường hợp người nộp thuế đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế thì trong vòng 24 giờ làm việc cơ quan quản lý thuế ban hành văn bản hủy bỏ tạm hoãn xuất cảnh.

Nếu trường hợp người nộp thuế tiếp tục không hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế thì trước khi hết thời hạn tạm hoãn xuất cảnh 30 ngày, cơ quan quản lý thuế gửi văn bản gia hạn tạm hoãn xuất cảnh đến cơ quan quản lý xuất nhập cảnh, đồng thời gửi người nộp thuế biết.

Như vậy, theo quy định trên, chỉ khi hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế cho nhà nước thì các trường hợp nêu trên mới được xuất cảnh ra nước ngoài. 

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 05 tháng 12 năm 2020.