Ngày 15/12/2017 Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 46/2017/TT-BYT quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 36/2016/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ về quản lý trang thiết bị y tế. Thông tư này sẽ có hiệu lực vào ngày 01/02/2018.
Việc ra đời của Thông tư số: 116/2017/TT-BTC là điều rất cần thiết đối với các tổ chức thuộc lĩnh vực y tế có cơ sở để tham chiếu và thực hiện việc sử dụng, quản lý các trang thiết bị y tế trong quá trình hoạt động. Thông tư có một số điểm nổi bật có thể kể tới như sau:
Quy định cụ thể về các trường hợp được miễn cung cấp bản tóm tắt dữ liệu thử lâm sàng và kết quả nghiên cứu thử lâm sàng khi thực hiện đăng ký lưu hành trang thiết bị y tế bao gồm: Trang thiết bị y tế nhập khẩu thuộc loại C, D có xâm nhập cơ thể người quy định tại Phụ lục I kèm theo Thông tư này; Trang thiết bị y tế thuộc loại C, D đã được lưu hành và cấp giấy chứng nhận lưu hành tự do của một trong các nước hoặc tổ chức thuộc danh sách quy định tại Phụ lục II kèm theo Thông tư này; Trường hợp được miễn giấy chứng nhận kiểm nghiệm đối với trang thiết bị y tế chẩn đoán in vitro khi thực hiện đăng ký lưu hành; Trang thiết bị y tế chẩn đoán in vitro thuộc loại C, D đã được lưu hành và cấp giấy chứng nhận lưu hành tự do của một trong các nước hoặc tổ chức thuộc danh sách quy định tại Phụ lục II kèm theo Thông tư này. Bên cạnh đó, danh mục trang thiết bị y tế thuộc loại B, C, D được mua, bán như các hàng hóa thông thường gồm: Danh mục trang thiết bị y tế thuộc loại B, C, D được mua, bán như các hàng hóa thông thường quy định tại Phụ lục III kèm theo Thông tư này; Cơ sở mua bán trang thiết bị thuộc danh mục trang thiết bị y tế thuộc loại B, C, D được mua, bán như các hàng hóa thông thường không phải thực hiện việc công bố đủ điều kiện mua bán trang thiết bị y tế.
Bên cạnh đó, Thông tư cũng quy định về việc hướng dẫn cách trình bày tài liệu mô tả tóm tắt kỹ thuật như sau: Mô tả nguyên lý hoạt động và tính năng, thông số kỹ thuật của trang thiết bị, phải nêu đầy đủ tên tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, tiêu chuẩn cơ sở được sử dụng để sản xuất và làm căn cứ để kiểm tra chất lượng, đánh giá hiệu quả, an toàn của trang thiết bị y tế; Đối với trường hợp sử dụng tiêu chuẩn cơ sở để sản xuất và làm căn cứ để kiểm tra chất lượng, đánh giá hiệu quả, an toàn của trang thiết bị y tế thì tiêu chuẩn cơ sở phải đáp ứng quy định tại Thông tư số 21/2007/TT-BKHCN ngày 28/9/2007 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ hướng dẫn việc xây dựng và áp dụng tiêu chuẩn; Trường hợp sử dụng tiêu chuẩn quốc tế thì phải ghi rõ nguồn tra cứu. Bên cạnh đó, Thông tư cũng hướng dẫn cách trình bày cụm từ tiếng Việt được dịch sang tiếng Anh đối với mẫu giấy ủy quyền. Theo đó, việc trình bày cụm từ tiếng Việt được dịch sang tiếng Anh đối với mẫu giấy ủy quyền quy định tại Phụ lục VI ban hành kèm theo Nghị định số 36/2016/NĐ-CP được thực hiện theo quy định tại Phụ lục IV kèm theo Thông tư này.
Nội dung của Thông tư số 46/2017/TT-BYT với những quy định mới và chi tiết hơn các văn bản hướng dẫn trước đó là một bước tiến mang tính đột phá và rất cần thiết, là cơ sở đảm bảo tốt nhất cho sự vận hành của lĩnh vực Y tế, đảm bảo quyền, lợi ích cũng như nghĩa vụ của các cá nhân hoạt động trong lĩnh vực này.
Ngày 25/12/2017, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 147/2017/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số Điều của Nghị định số 151/2013/NĐ-CP về chức năng, nhiệm vụ và cơ chế hoạt động của Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC). Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành.
Theo đó, Nghị định số 147/2017/NĐ-CP quy định một số nội dung nổi bật như sau:
Một là, quy định cụ thể về Người đại diện phần vốn của SCIC tại doanh nghiệp khác là người được SCIC cử, ủy quyền bằng văn bản để thực hiện quyền, trách nhiệm của SCIC đối với một phần hoặc toàn bộ phần vốn của SCIC tại doanh nghiệp khác, bao gồm cả người được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cử làm đại diện và được SCIC kế thừa, ủy quyền tiếp tục làm người đại diện khi tiếp nhận quyền đại diện chủ sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp (sau đây gọi chung là Người đại diện).
Hai là, điều chỉnh quy định về cơ cấu tổ chức của SCIC. Theo đó Cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý và điều hành của SCIC sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật, Điều lệ tổ chức và hoạt động của SCIC.
Ba là, bổ sung hai đối tượng không thuộc trường hợp SCIC tiếp nhận quyền đại diện chủ sở hữu nhà nước, bao gồm: Công ty nông, lâm nghiệp sau khi thực hiện phương án sắp xếp đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong lĩnh vực xổ số kiến thiết và một số doanh nghiệp khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ tiếp nhận quyền đại diện chủ sở hữu nhà nước
Bốn là, quy định cụ thể thời gian thực hiện việc chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp cho SCIC.
Năm là, việc xác định giá khởi điểm khi bán phần vốn nhà nước phải bảo đảm phản ánh đầy đủ giá trị thực tế phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp, trong đó bao gồm cả giá trị được tạo bởi giá trị quyền sử dụng đất giao hoặc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hợp pháp theo quy định của pháp luật về đất đai, giá trị các quyền sở hữu trí tuệ và tài sản vô hình khác (nếu có) của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật tại thời điểm bán vốn.
Sáu là, quy định cụ thể thẩm quyền quyết định đầu tư của SCIC, bao gồm:
– Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư đối với các dự án do SCIC thực hiện đầu tư nêu tại khoản 1, khoản 2 và khoản 4 Điều 31 Luật đầu tư.
– Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư ra nước ngoài đối với các dự án do SCIC thực hiện đầu tư nêu tại khoản 2 Điều 54 Luật đầu tư.
– Trừ những dự án thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính quyết định chủ trương đầu tư đối với từng dự án do SCIC thực hiện đầu tư có quy mô vốn đầu tư trên 25% vốn chủ sở hữu; phê duyệt chủ trương dự án đầu tư ra nước ngoài theo thẩm quyền quy định của pháp luật về đầu tư.
– Hội đồng thành viên quyết định hoặc phân cấp cho Tổng giám đốc SCIC quyết định từng dự án đầu tư có quy mô vốn đầu tư không quá 25% vốn chủ sở hữu; quyết định các dự án sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt chủ trương.
Bảy là, bổ sung quy định về phân phối lợi nhuận như sau:
– Trích tối đa 30% vào quỹ đầu tư phát triển của SCIC;
– Trích quỹ thưởng người quản lý doanh nghiệp, kiểm soát viên SCIC theo quy định của pháp luật;
– Trường hợp số lợi nhuận còn lại sau khi trích lập Quỹ đầu tư phát triển mà không đủ nguồn để trích các quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, quỹ thưởng người quản lý doanh nghiệp, kiểm soát viên theo mức quy định thì SCIC được giảm trừ phần lợi nhuận trích lập Quỹ đầu tư phát triển để bổ sung nguồn trích lập đủ quỹ khen thưởng, phúc lợi, quỹ thưởng người quản lý doanh nghiệp, kiểm soát viên theo mức quy định, nhưng mức giảm tối đa không quá mức trích vào Quỹ đầu tư phát triển trong năm tài chính;
– Lợi nhuận còn lại sau khi trích lập các quỹ của SCIC (Đầu tư phát triển; khen thưởng, phúc lợi; thưởng người quản lý doanh nghiệp, kiểm soát viên; thưởng thành tích bán vốn) quy định tại khoản này được nộp về ngân sách nhà nước.
Tám là, quy định các trường hợp SCIC không được đầu tư gồm: Đầu tư, góp vốn, mua cổ phần, mua toàn bộ doanh nghiệp khác mà người quản lý, người đại diện tại doanh nghiệp đó là vợ hoặc chồng, cha đẻ, cha nuôi, mẹ đẻ, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, anh ruột, chị ruột, em ruột, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của Chủ tịch và thành viên Hội đồng thành viên, Kiểm soát viên, Tổng giám đốc, Phó tổng giám đốc, Kế toán trưởng của Tổng công ty; góp vốn cùng công ty con để thành lập công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thực hiện hợp đồng hợp tác kinh doanh.
Các quy định của Nghị định số 147/2017/NĐ-CP được kỳ vọng sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước.
Ngày 20/12/2017, Bộ Công Thương đã ban hành Công văn số 11964/BCT-TTTN về kinh doanh xăng dầu có hiệu lực kể từ ngày 20/12/2017.
Theo đó, Công văn số 11964/BCT-TTTN công bố giá cơ sở các mặt hàng xăng dầu tiêu dùng phổ biến trên thị trường, như sau:
– Xăng RON 92: 19.103 đồng/lit;
– Xăng E5: 18.789 đồng/lit;
– Dầu điêzen 0.05S: 15.586 đồng/lit;
– Dầu hỏa: 14.077 đồng/lít;
– Dầu Madút 180CST 3.5S: 12.621 đồng/lít;
Ngoài ra, Công văn còn quy định giữ nguyên mức trích lập Quỹ Bình ổn giá xăng dầu đối với các mặt hàng xăng dầu như hiện hành. Sau khi thực hiện việc trích lập và chi sử dụng Quỹ Bình ổn giá xăng dầu tại như trên, giá bán các mặt hàng xăng dầu tiêu dùng phổ biến trên thị trường không cao hơn mức giá:
– Xăng RON 92: không cao hơn 18.580 đồng/lít;
– Xăng E5: không cao hơn 18.243 đồng/lít;
– Dầu điêzen 0.05S: không cao hơn 15.169 đồng/lít;
– Dầu hỏa: không cao hơn 13.617 đồng/lít;
– Dầu madút 180CST 3.5S: không cao hơn 12.382 đồng/kg.
Các quy định tại Công văn số 11964/BCT-TTTN về kinh doanh xăng dầu việc của Bộ Công Thương là những điều chỉnh linh hoạt và phù hợp với tính hình biến động và diễn biến giá thành phẩm xăng dầu thế giới trong thời gian gần đây đồng thời thể hiện việc điều hành giá xăng dầu theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.
Ngày 19/12/2017, Cục An toàn thông tin – Bộ Thông tin và Truyền thông đã ban hành Công văn số 683/CATTT-TĐQLGS ngày 19/12/2017 về việc biện pháp phòng, chống mã độc lây lan thông qua Facebook Messenger tại Việt Nam có hiệu lực từ ngày 19/12/2017.
Hiện nay, có rất nhiều người dùng Facebook Messenger tại Việt Nam đã nhiễm một loại mã độc có tên “video_xxx.zip” mà theo phân tích kỹ thuật ban đầu của Cục An toàn thông tin khi lây nhiễm vào máy tính người dùng sẽ tự động cài đặt tiện ích mở rộng, thực hiện một số hoạt động với mục đích đào tiền ảo (bitcoin). Theo các chuyên gia an toàn thông tin, những người dùng trình duyệt Chrome là đối tượng chính của mẫu mã độc này. Không loại trừ khả năng trong thời gian tới sẽ xuất hiện các mẫu mã độc nhằm vào các trình duyệt khác.
Nhằm đảm bảo an toàn thông tin và phòng tránh nguy cơ bị tấn công bởi mã độc, Cục An toàn thông tin khuyến nghị:
– Cảnh giác và không mở các tập tin hay đường dẫn lạ được gửi qua Facebook Messenger hay bất kỳ ứng dụng truyền thông nào khác (ví dụ: Viber, Zalo, thư điện tử, …).
– Nếu nhận được các thông tin (tập tin hoặc đường dẫn) lạ, có thể thông báo hoặc gửi thông tin về Cục An toàn thông tin để tổng hợp và phân tích, cảnh báo khi có những dấu hiệu, nguy cơ tấn công mạng mới.
– Đối với người dùng đã bị lây nhiễm cần cài đặt và cập nhật các phần mềm phòng, chống mã độc, virus để phát hiện và ngăn chặn, loại bỏ mã độc.
Hiện nay, các quy định của pháp luật quản lý về việc phát hành và giao dịch bằng tiền ảo chưa được hoàn thiện, Công văn 683/CATTT-TĐQLGS có ý nghĩa rất lớn trong việc ngăn chặn các hành vi đào bitcoin, đồng thời khuyến cáo người dùng Facebook phòng tránh bị lợi dụng trong các giao dịch bằng tiền ảo.
Ngày 15/12/2017, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đã ban hành Thông tư số 29/2017/TT-BLĐTBXH, quy định chi tiết về việc liên kết tổ chức thực hiện chương trình đào tạo (sau đây gọi là “liên kết đào tạo”) bao gồm: đối tượng, hình thức liên kết đào tạo, tổ chức liên kết đào tạo, quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia liên kết đào tạo. Thông tư này có hiệu lực từ ngày 29/01/2018.
Theo quy định này, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội khẳng định, Nhà nước khuyến khích cơ sở giáo dục nghề nghiệp và doanh nghiệp liên kết để tổ chức đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội; trong đó, doanh nghiệp và cơ sở giáo dục nghề nghiệp hợp tác trong xác định chuẩn đầu ra, xây dựng chương trình, phát triển đội ngũ giảng viên doanh nghiệp, tổ chức tuyển sinh/tuyển dụng…
Đồng thời, khuyến khích các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân hợp tác để tổ chức và công nhận kết quả đào tạo một số môn học lý thuyết và thực hành.
Việc tổ chức liên kết đào tạo phải đáp ứng các yêu cầu như: Ngành, nghề đào tạo dự kiến liên kết phải phù hợp với nhu cầu nhân lực của địa phương, của doanh nghiệp; Đảm bảo yêu cầu về chất lượng đội ngũ giảng viên, giáo viên, cán bộ quản lý, cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy.Khi tham gia liên kết đào tạo, các bên tham gia liên kết đào tạo được thống nhất mức thu lệ phí, tuyển sinh, học phí, thù lao cho người học trong quá trình thực tập tại doanh nghiệp theo quy định.
Thông tư 29/2017/TT-BLĐTBĐT ban hành nhằm khắc phục những bất hợp lý trong quy định về liên kết đào tạo trước đây mở ra một bước đi mới cho các cơ sở đào tạo từ xa nhằm nâng cao chất lượng đào tạo của hình thức liên kết đào tạo, tiếp cận chất lượng của hình thức đào tạo chính quy.
Ngày 12/06/2017, Quốc hội đã ban hành Luật quản lý Ngoại thương số 05/2017/QH14. Qua đó, Nhà nước sẽ quản lý ngoại thương theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018.
Theo đó, Luật quản lý Ngoại thương Quy định việc quản lý theo giấy phép, theo điều kiện xuất khẩu, nhập khẩu như sau:
– Chỉ áp dụng biện pháp quản lý theo điều kiện trong các trường hợp cần thiết vì lý do trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng, thuần phong mỹ tục, bảo vệ môi trường;
– Việc áp dụng biện pháp quản lý theo giấy phép, theo điều kiện phải bảo đảm công khai, minh bạch; tiết kiệm thời gian, chi phí của cơ quan quản lý nhà nước và của thương nhân;
– Trên cơ sở tuân thủ điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên;
– Chính phủ sẽ quy định về:
+ Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo giấy phép, theo điều kiện;
+ Phương thức, phạm vi quản lý của các Bộ, cơ quan ngang Bộ đối với hàng hóa thuộc Danh mục;
+ Trình tự, thủ tục cấp giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu;
– Bộ, cơ quan ngang Bộ có trách nhiệm công bố công khai Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo giấy phép, theo điều kiện và công bố điều kiện xuất khẩu, nhập khẩu đối với hàng hóa thuộc Danh mục;
Bên cạnh đó, Luật quản lý Ngoại thương cũng quy định hàng hóa thuộc một trong các trường hợp sau thì bị áp dụng biện pháp cấm nhập khẩu: Liên quan đến quốc phòng, an ninh chưa được phép nhập khẩu của cơ quan nhà nước; Gây nguy hại đến sức khỏe, an toàn của người tiêu dùng; Gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn, đạo đức xã hội, thuần phong mỹ tục; Gây nguy hại đến môi trường, đa dạng sinh học, có nguy cơ cao mang theo sinh vật gây hại, đe dọa an ninh lương thực, nền sản xuất và xuất khẩu của Việt Nam, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ; Theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Ngoài ra, Luật này cũng quy định hàng hóa bị cấm xuất khẩu trong các trường hợp sau: Liên quan đến quốc phòng, an ninh chưa được phép xuất khẩu của cơ quan nhà nước; Bảo vệ di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia theo quy định của pháp luật về di sản văn hóa; Theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Luật quản lý Ngoại thương sẽ là công cụ hữu hiệu của Nhà nước để quản lý ngoại thương, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, thương nhân thuộc các thành phần kinh tế; thúc đẩy phát triển sản xuất trong nước và xuất khẩu, gắn với quản lý nhập khẩu. Cùng với đó sẽ bảo đảm được việc thực hiện đầy đủ các nguyên tắc đối xử tối huệ quốc, đối xử quốc gia trong hoạt động ngoại thương.
Ngày 14/12/2017, Bộ Tài nguyên và môi trường đã ban hành Quyết định số 3199/QĐ-BTNMT về Quy trình thí điểm liên thông giải quyết một số thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Bộ Tài Nguyên và Môi trường, chính thức có hiệu lực kể từ ngày ban hành.
Theo Quyết định này, Bộ Tài Nguyên và Môi trường tiến hành thí điểm giải quyết liên thông đối với một số thủ tục sau:
1. Thủ tục thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường và thủ tục cấp giấy phép xả nước thải vào nguồn nước; thủ tục điều chỉnh, thay đổi nội dung báo cáo đánh giá tác động môi trường và thủ tục điều chỉnh giấy phép xả nước thải vào nguồn nước;
2. Thủ tục thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường, thủ tục cấp giấy phép nhận chìm ở biển và thủ tục giao khu vực biển; thủ tục điều chỉnh, thay đổi nội dung báo cáo đánh giá tác động môi trường, thủ tục sửa đổi, bổ sung giấy phép nhận chìm ở biển và thủ tục sửa đổi, bổ sung quyết định giao khu vực biển;
3. Thủ tục cấp giấy xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường phục vụ giai đoạn vận hành dự án và thủ tục cấp giấy phép xả nước thải vào nguồn nước; thủ tục cấp giấy xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường phục vụ giai đoạn vận hành dự án và thủ tục điều chỉnh giấy phép xả nước thải vào nguồn nước;
4. Thủ tục cấp giấy phép nhận chìm ở biển và thủ tục giao khu vực biển; thủ tục sửa đổi, bổ sung giấy phép nhận chìm ở biển và thủ tục sửa đổi, bổ sung quyết định giao khu vực biển; thủ tục gia hạn giấy phép nhận chìm ở biển và gia hạn quyết định giao khu vực biển.
Theo đó, kể từ ngày 14/12/2017, khi thực hiện các thủ tục trên, tổ chức, cá nhân chỉ nộp hồ sơ bằng hình thức trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính tới Văn phòng một cửa (đối với thủ tục số 1,2,3), Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam (đối với thủ tục số 4) hoặc hình thức dịch vụ công trực tuyến tại website: dvctt.monre.gov.vn. Thành phần hồ sơ, số lượng hồ sơ được thực hiện theo quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Quyết định.
Đây là quy định mới mang tính cải cách, giảm bớt các thủ tục hành chính trong lĩnh vực tài nguyên – môi trường nhằm rút ngắn thời gian, giảm chi phí thực hiện thủ tục hành chính cho tổ chức, cá nhân.
Ngày 15/12/2017, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 146/2017/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 100/2016/NĐ-CP ngày 01/07/ 2016 và Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12/02/ 2015 của Chính phủ, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/02/2018.
Theo đó, Nghị định số 146/2017/NĐ-CP sửa đổi quy định về đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng (GTGT) trường hợp sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản khai thác chưa chế biến thành sản phẩm khác, cụ thể sản phẩm xuất khẩu là hàng hóa được chế biến trực tiếp từ nguyên liệu chính là tài nguyên, khoáng sản có tổng trị giá tài nguyên, khoáng sản cộng với chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản xuất sản phẩm trở lên, trừ các trường hợp sau:
– Sản phẩm xuất khẩu được chế biến từ tài nguyên, khoáng sản do cơ sở kinh doanh trực tiếp khai thác và chế biến hoặc thuê cơ sở khác chế biến mà trong quy trình chế biến đã thành sản phẩm khác sau đó lại tiếp tục chế biến ra sản phẩm xuất khẩu (quy trình chế biến khép kín hoặc thành lập phân xưởng, nhà máy chế biến theo từng công đoạn) thì sản phẩm xuất khẩu này thuộc đối tượng áp dụng thuế suất thuế GTGT 0% nếu đáp ứng được các điều kiện theo quy định tại Điểm c, Khoản 2, Điều 12, Luật thuế GTGT.
– Sản phẩm xuất khẩu được chế biến từ tài nguyên, khoáng sản do cơ sở kinh doanh mua về chế biến hoặc thuê cơ sở khác chế biến mà trong quy trình chế biến đã thành sản phẩm khác sau đó lại tiếp tục chế biến ra sản phẩm xuất khẩu (quy trình chế biến khép kín hoặc thành lập phân xưởng, nhà máy chế biến theo từng công đoạn) thì sản phẩm xuất khẩu này thuộc đối tượng áp dụng thuế suất thuế GTGT 0% nếu đáp ứng được các điều kiện theo quy định tại Điểm c, Khoản 2, Điều 12, Luật thuế GTGT.
– Sản phẩm xuất khẩu được chế biến từ nguyên liệu chính không phải là tài nguyên, khoáng sản (tài nguyên, khoáng sản đã chế biến thành sản phẩm khác) do cơ sở kinh doanh mua về chế biến hoặc thuê cơ sở khác chế biến thành sản phẩm xuất khẩu thì sản phẩm xuất khẩu này thuộc đối tượng áp dụng thuế suất thuế GTGT 0% nếu đáp ứng được các điều kiện theo quy định tại Điểm c, Khoản 2, Điều 12, Luật thuế GTGT.
Bên cạnh đó, Nghị định số 146/2017/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung quy định về hoàn thuế GTGT. Cụ thể:
– Cơ sở kinh doanh trong tháng (đối với trường hợp kê khai theo tháng), quý (đối với trường hợp kê khai theo quý) có hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu bao gồm cả trường hợp: Hàng hóa nhập khẩu sau đó xuất khẩu vào khu phi thuế quan; hàng hóa nhập khẩu sau đó xuất khẩu ra nước ngoài, có số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ từ 300 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế GTGT theo tháng, quý; trường hợp trong tháng, quý số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ chưa đủ 300 triệu đồng thì được khấu trừ vào tháng, quý tiếp theo; trường hợp vừa có hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, vừa có hàng hóa, dịch vụ tiêu thụ nội địa nếu sau khi bù trừ với số thuế phải nộp, số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ của hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu còn lại từ 300 triệu đồng trở lên thì cơ sở kinh doanh được hoàn thuế. Cơ sở kinh doanh phải hạch toán riêng số thuế GTGT đầu vào sử dụng cho sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, trường hợp không hạch toán riêng được thì số thuế GTGT đầu vào xác định theo tỷ lệ giữa doanh thu của hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu trên tổng doanh thu hàng hóa, dịch vụ của các kỳ khai thuế GTGT tính từ kỳ khai thuế tiếp theo kỳ hoàn thuế liền trước đến kỳ đề nghị hoàn thuế hiện tại;
– Cơ sở kinh doanh không được hoàn thuế GTGT đối với trường hợp: Hàng hóa nhập khẩu sau đó xuất khẩu mà hàng hóa xuất khẩu đó không thực hiện việc xuất khẩu tại địa bàn hoạt động hải quan theo quy định của pháp luật về hải quan; hàng hóa xuất khẩu không thực hiện việc xuất khẩu tại địa bàn hoạt động hải quan theo quy định của pháp luật về hải quan;
– Cơ quan thuế thực hiện hoàn thuế trước, kiểm tra sau đối với người nộp thuế sản xuất hàng hóa xuất khẩu không bị xử lý đối với hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, trốn thuế, gian lận thuế, gian lận thương mại trong thời gian hai năm liên tục; người nộp thuế không thuộc đối tượng rủi ro cao theo quy định của Luật quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Ngày 07/12/2017, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 141/2017/NĐ-CP quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động áp dụng từ ngày 01/01/2018 thay thế cho Nghị định số 153/2014/NĐ-CP của Chính phủ.
Theo đó, mức lương tối thiểu vùng áp dụng đối với người lao động làm việc ở doanh nghiệp theo hợp đồng lao động theo quy định như sau:
– Đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng I áp dụng mức 3.980.000 đồng/tháng, tăng 230.000 đồng/tháng;
– Đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng II áp dụng mức 3.530.000 đồng/tháng tăng 210.000 đồng/tháng;
– Đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng III áp dụng mức 3.090.000 đồng/tháng, 190.000 đồng/tháng;
– Đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng IV áp dụng mức 2.760.000 đồng/tháng, 180.000 đồng/tháng.
Địa bàn áp dụng mức lương tối thiểu vùng được quy định theo đơn vị hành chính cấp quận, huyện, thị xã và thành phố trực thuộc tỉnh. Danh mục địa bàn áp dụng mức lương tối thiểu thuộc vùng I, vùng II, vùng III và vùng IV được quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này.
Ngoài ra, Nghị định cũng điều chỉnh phân vùng đối với một số huyện, thị xã như sau:
– Đưa thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai từ vùng II lên vùng I;
– Đưa các huyện Thống nhất thuộc tỉnh Đồng Nai, Huyện Thủ Thừa tỉnh Long An, Thành phố Tam Kỳ tỉnh Quảng Nam từ vùng III lên vùng II.
Quy định tăng mức lương tối thiểu vùng cho người lao động làm việc trong các doanh nghiệp theo hợp đồng theo quy định tại Nghị định 141/2017/NĐ-CP là hoàn toàn phù hợp. Bởi lẽ, mức lương tối thiểu vùng hiện nay đang rất thấp, việc tăng lương tối thiểu vùng phù hợp với yêu cầu kinh tế xã hội ngày càng gia tăng, đồng thời đảm bảo các quyền lợi của người lao động như quyền lợi về bảo hiểm xã hội, lương hưu, trợ cấp …
Ngày 11/12/2017, Chính phủ ban hành Nghị định số 142/2017/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hàng hải thay thế Nghị định số 93/2013/NĐ-CP ngày 20/08/2013 của Chính phủ. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/02/2018.
Theo đó, Nghị định 142/2017/NĐ-CP quy định về hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm hành chính; thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hàng hải.
Cụ thể, áp dụng mức phạt cảnh cáo, hoặc phạt tiền thấp nhất là 500 nghìn đồng tới cao nhất là 100 triệu đồng đối với mỗi hành vi vi phạm trong lĩnh vực hàng hải. Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung như: Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn từ 1 tháng đến 24 tháng; đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 1 tháng đến 24 tháng; tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính.
Mức phạt tiền của mỗi hành vi vi phạm hành chính quy định tại Nghị định này là mức phạt áp dụng đối với cá nhân; trường hợp có cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.
Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hàng hải là 01 năm; đối với hành vi vi phạm hành chính về xây dựng cảng biển, cảng cạn, công trình hàng hải, bảo vệ môi trường, thời hiệu xử phạt là 02 năm.
Ngoài các hình thức xử phạt được quy định trên, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực hàng hải còn phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả tương ứng theo quy định.
Nghị định 142/2017/NĐ-CP có hiệu lực sẽ thay thế Nghị định số 93/2013/NĐ-CP ngày 20/08/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông hàng hải, đường thủy nội địa.