Ngày 30/11/2017, Bộ Xây dựng đã ban hành Thông tư số 12/2017/TT-BXD về việc hướng dẫn xác định và quản lý chi phí liên quan đến đầu tư phát triển đô thị. Thông tư này có hiệu lực từ ngày 01/02/2018.
Theo Thông tư số 12/2017/TT-BXD, Bộ Xây dựng đã hướng dẫn các tổ chức, cá nhân sử dụng vốn nhà nước để xác định và quản lý chi phí lập đề án phân loại đô thị, lập chương trình phát triển đô thị, lập hồ sơ đề xuất khu vực phát triển đô thị và một số chi phí khác có liên quan. Cụ thể:
Xác định và quản lý chi phí được thực hiện theo các nguyên tắc:
– Định mức chi phí tham khảo tại Phụ lục 1 kèm theo Thông tư;
– Chi phí lập đề án phân loại đô thị, lập chương trình phát triển đô thị xác định theo định mức công bố tại Thông tư là cơ sở để xác định dự toán gói thầu, bao gồm: các khoản chi phí để chi trả cho nhân công trực tiếp thực hiện công việc; chi phí quản lý, chi phí khác có liên quan…;
– Sử dụng phương pháp nội suy để xác định mức chi phí đối với quy mô dân số đô thị nằm trong khoảng giữa hai quy mô công bố tại Phụ lục kèm theo Thông tư;
– Trường hợp chi phí đề án phân loại đô thị, lập chương trình phát triển đô thị xác định theo mức chi phí tại Thông tư này không phù hợp thì lập dự toán để xác định chi phí theo Hướng dẫn tại Phụ lục kèm theo.
Chi phí liên quan đến đầu tư phát triển đô thị được xác định theo định mức và xác định theo dự toán được hướng dẫn cụ thể tại Điều 4 Thông tư. Uỷ ban nhân dân các cấp chỉ đạo việc lập kế hoạch vốn cho các công việc thuộc địa giới hành chính do mình quản lý. Nguồn vốn để thực hiện các công việc trên được cân đối từ nguồn ngân sách của địa phương hoặc huy động từ các nguồn vốn hợp pháp khác.
Cấp có thẩm quyền phê duyệt chi phí lập chương trình phát triển đô thị, chi phí lập hồ sơ đề xuất khu vực phát triển đô thị là cấp phê duyệt dự toán chi phí điều chỉnh. Thẩm quyền thẩm định, phê duyệt dự toán chi phí được quy định cụ thể tại Điều 6 Thông tư.
Thông tư số 12/2017/TT-BXD được ban hành đã tháo gỡ được nhiều vướng mắc cho các tổ chức, cá nhân sử dụng vốn nhà nước để thực hiện các dự án liên quan đến đầu tư, phát triển đô thị, sử dụng hợp lý ngân sách quốc gia trong việc quản lý, đầu tư và phát triển đô thị.
Ngày 28/12/2017, Tòa án Nhân dân Tối cao đã ban hành Quyết định số 299/QĐ-CA về việc công bố án lệ và chính thức bắt đầu có hiệu lực thi hành cùng ngày. Theo đó, Quyết định số 299/QĐ-CA đã công bố 06 án lệ mới, cụ thể:
1. Án lệ số 11/2017/AL về công nhận hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất mà trên đất có tài sản không thuộc Sở hữu của bên thế chấp. Chi tiết án lệ tại đây
2. Án lệ số 12/2017/AL về xác định trường hợp đương sự được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất sau khi Tòa án đã hoãn phiên tòa. Chi tiết án lệ tại đây
3. Án lệ số 13/2017/AL về hiệu lực thanh toán của thư tín dụng (L/C) trong trường hợp hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là cơ sở của L/C bị hủy bỏ. Chi tiết án lệ tại đây
4. Án lệ số 14/2017/AL về công nhận điều kiện của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất mà điều kiện đó không được ghi trong hợp đồng. Chi tiết án lệ tại đây
5. Án lệ số 15/2017/AL về công nhận thỏa thuận miệng của các đương sự trong việc chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp. Chi tiết án lệ tại đây
6. Án lệ số 16/2017/AL về công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là di sản thừa kế do một trong các đồng thừa kế chuyển nhượng. Chi tiết án lệ tại đây
Nội dung chi tiết của các án lệ này được ban hành kèm theo Quyết định số 299/QĐ-CA. Các Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự có trách nhiệm nghiên cứu, áp dụng các án lệ trong xét xử kể từ ngày 15/02/2018.
Như vậy, tính đến ngày 28/12/2017, đã có tổng cộng 16 án lệ được Toà án Nhân dân Tối cao công bố áp dụng trong quá trình giải quyết các vụ án tại Việt Nam.
Ngày 04/01/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 04/2018/NĐ-CP quy định cơ chế, chính sách ưu đãi đối với Khu công nghệ cao Đà Nẵng. Nghị định này có hiệu lực từ ngày 20/02/2018.
Theo đó, doanh nghiệp thực hiện đầu tư dự án mới trong Khu công nghệ cao Đà Nẵng được hưởng những ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp, cụ thể:
Ưu đãi về thuế suất: Được áp dụng mức thuế suất 10% trong thời hạn 15 năm; Đối với các dự án đầu tư mới vào Khu công nghệ cao có quy mô vốn từ 3.000 tỷ đồng trở lên được áp dụng thuế suất ưu đãi 10% trong thời hạn 30 năm; Thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự án nhà ở xã hội để bán, cho thuê, cho thuê mua đối với người lao động làm việc tại các doanh nghiệp trong Khu công nghệ cao được áp dụng thuế suất ưu đãi 10%.
Ưu đãi về miễn, giảm thuế: Miễn thuế 04 năm đầu; Giảm 50% số thuế phải nộp trong 09 năm tiếp theo.
Ngoài ra, theo Nghị định 04/2018/NĐ-CP các doanh nghiệp trong Khu công nghệ cao Đà Nẵng còn được hưởng những chính sách ưu đãi khác như: Miễn toàn bộ tiền thuê đất cho cả thời hạn thuê đối với một số dự án đầu tư theo quy định; Miễn thuế nhập khẩu hàng hoá để tạo tài sản cố định của dự án trong Khu công nghệ cao; Nhà đầu tư, chuyên gia và người lao động là người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài làm việc trực tiếp tại Khu công nghệ cao và thành viên gia đình được xem xét cấp thị thực có giá trị xuất cảnh, nhập cảnh nhiều lần với thời hạn phù hợp với mục đích nhập cảnh.
Nghị định 04/2018/NĐ-CP với nhiều chính sách ưu đãi được kỳ vọng sẽ góp phần thu hút vốn của nhiều nhà đầu tư trong nước và ngoài nước đầu tư trực tiếp vào vào Khu công nghệ cao Đà Nẵng, góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam.
Ngày 28/12/2017, Bộ Công Thương ban hành Thông tư số 31/2017/TT-BCT công bố Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và an toàn trong khai thác quặng hầm lò (ký hiệu: QCVN04:2017⁄BCT). Quy chuẩn QCVN04:2017⁄BCT sẽ có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2018.
Theo đó, Quy chuẩn QCVN04:2017/BCT áp dụng cho các tổ chức, cá nhân có hoạt động liên quan đến khai thác quặng hầm lò trên lãnh thổ Việt Nam (ngoại trừ khoáng sản than, khoáng sản làm vật liệu xây dựng và sản xuất xi măng).
Bên cạnh đó, người lao động làm việc cho các tổ chức, cá nhân khai thác quặng hầm lò phải được kiểm tra và đảm bảo sức khỏe theo đúng các quy định của Bộ Y tế trước khi được nhận vào làm việc và trong suốt quá trình làm việc; khám sức khỏe định kỳ và điều trị bệnh nghề nghiệp theo quy định của Bộ luật lao động.
Đối với các mỏ đang hoạt động trước ngày Quy chuẩn QCVN04:2017/BCT có hiệu lực được tiếp tục hoạt động và phải cải tạo để đáp ứng yêu cầu an toàn theo Quy chuẩn này sau hai2 năm kể từ ngày Quy chuẩn có hiệu lực. Trong trường hợp những mỏ có đường lò mở vỉa mà thời gian tồn tại trên hai mươi năm, được phép sử dụng sơ đồ mở vỉa, thông gió theo thiết kế đã được phê duyệt.
Việc ban hành Quy chuẩn QCVN04:2017/BCT được kỳ vọng sẽ tăng cường công tác quản lý nhà nước và đảm bảo an toàn trong hoạt động khai thác quặng hầm lò.
Ngày 28/12/2017, Bộ Công Thương đã ban hành Thông tư số 32/2017/TT-BCT về việc quy định cụ thể và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Hóa chất và Nghị định số 113/2017/NĐ-CP ngày 09/10/2017 của Chính Phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Hóa chất. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 28/12/2017.
Theo đó, Thông tư số 32/2017/TT-BCT quy định như sau:
1. Thực hiện thủ tục hành chính về quản lý hóa chất trong lĩnh vực công nghiệp đối với:
– Cấp, cấp lại, điều chỉnh, thu hồi Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất, kinh doanh hóa chất sản xuất, kinh doanh có điều kiện trong lĩnh vực công nghiệp; Giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu tiền chất công nghiệp; Giấy phép sản xuất, kinh doanh hóa chất hạn chế sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực công nghiệp.
– Thẩm định, phê duyệt Kế hoạch phòng ngừa, ứng phó sự cố hóa chất trong lĩnh vực công nghiệp của tổ chức, cá nhân, trình lãnh đạo Bộ Công Thương thành lập Hội đồng thẩm định, tổ chức thẩm định, trình lãnh đạo Bộ Công Thương xem xét, phê duyệt Kế hoạch phòng ngừa, ứng phó sự cố hóa chất trong lĩnh vực công nghiệp.
– Tiếp nhận thông tin khai báo hóa chất nhập khẩu của các tổ chức, cá nhân thực hiện khai báo hóa chất qua cổng thông tin một cửa quốc gia, xây dựng và thực hiện kế hoạch thanh tra, kiểm tra định kỳ và thanh tra, kiểm tra đột xuất khi cần thiết.
2. Ban hành biểu mẫu hồ sơ trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh hóa chất sản xuất, kinh doanh có điều kiện trong lĩnh vực công nghiệp gồm gồm xin cấp Giấy phép sản xuất, kinh doanh hóa chất hạn chế sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực công nghiệp; biểu mẫu hồ sơ đề nghị cấp, gia hạn, cấp lại, cấp điều chỉnh Giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu tiền chất công nghiệp; các biểu mẫu sử dụng trong quá trình lập hồ sơ đề nghị và thẩm định, phê duyệt Kế hoạch phòng ngừa, ứng phó sự cố hóa chất trong lĩnh vực công nghiệp; phiếu kiểm soát mua, bán hóa chất độc; báo cáo trong hoạt động hóa chất.
3. Quy định về về các yêu cầu khi doanh nghiệp tự đưa ra kế hoạch và biện pháp phòng ngừa, ứng phó sự cố hóa chất trong lĩnh vực công nghiệp đồng thời quy định về cách phân loại và ghi nhãn hóa chất, xây dựng Phiếu an toàn hóa chất.
4. Hướng dẫn khai báo hóa chất nhập khẩu và thực hiện chế độ báo cáo.
Các quy định tại Thông tư số 32/2017/TT-BCT của Bộ Công Thương là những hướng dẫn cụ thể các quy định của Luật hóa chất và Nghị định số 113/2017/NĐ-CP ngày 09/10/2017 của Chính phủ nhằm tạo sự thuận tiện trong việc tuân thủ thực hiện các thủ tục hành chính liên quan đến lĩnh vực hóa chất cho các tổ chức, cá nhân hoạt động sản xuất, kinh doanh lĩnh vực này.
Ngày 25/12/2017, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thông đã ban hành Công văn số 27/2017/TT-BNNPTNT về việc hướng dẫn kiểm tra chất lượng, an toàn thực phẩm muối nhập khẩu. Công văn này có hiệu lực kể từ ngày 15/02/2018.
Theo đó, Công văn số 27/2017/TT-BNNPTNT có các nội dung chính như sau:
1. Quy định nội dung, thủ tục kiểm tra và xử lý kết quả kiểm tra chất lượng, an toàn thực phẩm muối nhập khẩu gồm:
– Tính đầy đủ của Hồ sơ đăng ký kiểm tra chất lượng, an toàn thực phẩm muối nhập khẩu;
– Trình tự thủ tục kiểm tra chất lượng, an toàn thực phẩm muối nhập khẩu, tổ chức đánh giá lại chất lượng, an toàn thực phẩm muối nhập khẩu khi có khiếu nại hoặc tố cáo về chất lượng;
– Biện pháp xử lý lô hàng muối nhập khẩu không đáp ứng yêu cầu chất lượng.
2. Quy định trách nhiệm và quyền hạn của các tổ chức, cá nhân nhập khẩu muối:
– Được lựa chọn phòng thử nghiệm đạt tiêu chuẩn VILAS lĩnh vực hóa để thử nghiệm chất lượng, an toàn thực phẩm muối nhập khẩu và đề nghị xem xét lại kết quả kiểm tra hoặc yêu cầu tái kiểm tra.
– Phải đăng ký và thực hiện quy định về kiểm tra chất lượng, an toàn thực phẩm muối nhập khẩu trên địa bàn quản lý; thanh toán các chi phí lấy mẫu, thử nghiệm chất lượng mẫu muối nhập khẩu theo quy định hiện hành và các khoản chi phí thực tế trong việc xử lý lô hàng không đạt yêu cầu chỉ được đưa muối vào sản xuất hoặc lưu thông trên thị trường khi cơ quan hải qua thông quan trên tờ khai hàng hóa nhập khẩu.
Các quy định tại Công văn số 27/2017/TT-BNNPTNT thực sự cần thiết cho các đối tượng tổ chức, cá nhân kinh doanh, nhập khẩu mặt hàng thực phẩm muối – một trong những mặt hàng phổ biến hiện nay, nhằm đảm bảo và nâng cao toàn diện chất lượng an toàn các thực phẩm nhập khẩu lưu thông trên thị trường.
Ngày 27/12/2017, Ủy ban chứng khoán Nhà nước ban hành Quyết định số 1205/QĐ-UBCK về việc sửa đổi Quy chế hướng dẫn giao dịch ký quỹ chứng khoán ban hành kèm theo Quyết định số 87/QĐ-UBCK ngày 25/01/2017, trong đó có sửa đổi quy chế Ký quỹ chứng khoán liên quan đến thuế. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày 2/1/2018.
Theo Quyết định số 87/QĐ-UBCK ngày 25/1/2017, chỉ cần công ty niêm yết nhận được kết luận của cơ quan thuế về việc công ty vi phạm pháp luật thuế thì chứng khoán niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán sẽ thuộc diện không được giao dịch ký quỹ.
Tuy nhiên, theo Quyết định số 1205/QĐ-UBCK, chứng khoán không được giao dịch ký quỹ khi Sở Giao dịch chứng khoán nhận được báo cáo, công bố thông tin của công ty niêm yết hoặc Sở giao dịch chứng khoán có thông tin về (1) Quyết định của người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính công ty niêm yết đối với hành vi trốn thuế, gian lận thuế; (2) Quyết định của người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính công ty niêm yết đối với hành vi không chấp hành kết luận cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế; (3) Quyết định khởi tố bị can của cơ quan tiến hành tố tụng đối với công ty niêm yết.
Như vậy, việc Quyết định số 1205/QĐ-UBCK sửa đổi quy chế Ký quỹ chứng khoán liên quan đến thuế đã góp phần phản ánh đúng nhiệm vụ của Sở Giao dịch chứng khoán cũng như thực tiễn hoạt động trên thị trường chứng khoán, hạn chế biến động tiêu cực về giá cổ phiếu.
Ngày 29/12/2017, Bộ Công Thương đã ban hành Thông tư số 34/2017/TT-BCT quy định chi tiết về trình tự, thủ tục bổ sung, điều chỉnh quy hoạch và quản lý đầu tư đối với dự án đầu tư xây dựng công trình kho xăng dầu, kho khí hóa lỏng, kho khí thiên nhiên hóa lỏng. Thông tư này có hiệu lực từ ngày 12/02/2018.
Theo Thông tư này, Bộ Công Thương đã có những điều chỉnh về mặt thủ tục cho các dự án đầu tư công trình xây mới, sửa chữa, cải tạo, nâng cấp công suất kho phải căn cứ theo quy hoạch được duyệt, tuân thủ các quy định của pháp luật về đầu tư, xây dựng tại Luật Xây dựng, Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/06/2015 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng và Nghị định số 42/2017/NĐ-CP ngày 05/04/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 59/2015/NĐ-CP.
Việc quản lý chất lượng công trình và bảo trì công trình kho xăng dầu, kho khí thiên nhiên hóa lỏng (LPG), kho khí dầu mỏ hóa lỏng (LNG) thực hiện theo quy định tại Nghị định số 46/2015/NĐ-CP ngày 12/05/2015 của Chính phủ về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng và tuân thủ các quy định của pháp luật về đảm bảo an toàn đối với công trình công nghiệp dầu khí.
Cơ quan chuyên môn về xây dựng trực thuộc Bộ Công Thương, tổ chức thực hiện thẩm định dự án, thiết kế cơ sở, thiết kế sau thiết kế cơ sở và dự toán xây dựng, quản lý chất lượng đối với dự án đầu tư xây dựng công trình và công tác nghiệm thu hoàn thành đưa vào sử dụng công trình kho xăng dầu, kho LPG, kho LNG trên địa bàn theo thẩm quyền.
Thông tư số 34/2017/TT-BCT ban hành nhằm khắc phục những bất hợp lý trong quy định về quản lý các dự án xây dựng công trình điều chỉnh quy hoạch và quản lý đầu tư đối với dự án đầu tư xây dựng công trình kho xăng dầu, kho khí hóa lỏng và để phù hợp các quy định pháp luật về đầu tư mới ban hành.
Ngày 27/12/2017, Chính phủ ban hành Nghị quyết 136/NQ-CP về việc đơn giản hóa thủ tục hành chính, giấy tờ công dân liên quan đến quản lý dân cư thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Nghị quyết này có hiệu thực kể từ ngày ban hành.
Theo Nghị quyết 136/NQ-CP, các thủ tục hành chính trong lĩnh vực Doanh nghiệp và Đầu tư sẽ có sự thay đổi trong thành phần hồ sơ và nội dung của các mẫu đơn, tờ khai trong thời gian tới. Cụ thể:
1. Trong lĩnh vực thành lập và hoạt động của Doanh nghiệp:
– Về thành phần hồ sơ: Bãi bỏ yêu cầu về thành phần hồ sơ là “Bản sao thẻ căn cước công dân, giấy chứng minh nhân dân, hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác” tại các Điều 20, 21, 22, 23 và 46 Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ngày 26/11/2014 và thành phần hồ sơ là “Bản sao hợp lệ một trong các giấy tờ chứng thực cá nhân quy định tại Điều 10 Nghị định này” tại các Điều 11, 21, 22, 23, 25, 33, 42, 43, 45, 46, 52 Nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày 14/9/2015 về đăng ký doanh nghiệp.
– Về mẫu đơn, mẫu tờ khai:
+ Thay thế quy định “địa chỉ thường trú, quốc tịch, số thẻ căn cước công dân, giấy chứng minh nhân dân, hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác” bằng “số định danh cá nhân” tại khoản 8 và khoản 9 Điều 24; khoản 3 Điều 29 Luật Doanh nghiệp.
+ Thay thế các thông tin về công dân nêu tại khoản 1 Điều 9 Luật Căn cước công dân số 59/2014/QH13 ngày 20/11/2014 (Luật Căn cước công dân số 59/2014/QH13) và thông tin “Căn cước công dân” trong các mẫu văn bản đề nghị, mẫu đơn, tờ khai,… ban hành kèm theo Thông tư số 20/2015/TT-BKHĐT ngày 01/12/2015 hướng dẫn về đăng ký doanh nghiệp bằng các thông tin: “họ, chữ đệm và tên khai sinh; số định danh cá nhân”.
2. Trong lĩnh vực thành lập và hoạt động của Hợp tác xã:
– Về thành phần hồ sơ: Bãi bỏ quy định “Yêu cầu người đến làm thủ tục nộp bản sao hợp lệ giấy chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu còn hiệu lực” tại điểm a khoản 1 Điều 6 Thông tư số 03/2014/TT-BKHĐT ngày 26/5/2014 hướng dẫn về đăng ký hợp tác xã và chế độ báo cáo tình hình hoạt động của hợp tác xã (Thông tư số 03/2014/TT-BKHĐT) và quy định “Bản sao hợp lệ” nêu tại khoản 3 Điều 2 Thông tư số 03/2014/TT-BKHĐT.
– Về mẫu đơn, mẫu tờ khai:
+ Thay thế quy định “nơi đăng ký hộ khẩu thường trú, quốc tịch, số giấy chứng minh nhân dân, số hộ chiếu hoặc chứng thực hợp pháp khác” bằng “số định danh cá nhân” tại điểm e khoản 2 Điều 13, điểm đ khoản 2 Điều 15, điểm b khoản 3 Điều 18 và điểm c khoản 2 Điều 20 Nghị định số 193/2013/NĐ-CP ngày 21/11/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Hợp tác xã (Nghị định số 193/2013/NĐ-CP).
+ Thay thế các thông tin về công dân nêu tại khoản 1 Điều 9 Luật Căn cước công dân số 59/2014/QH13 và thông tin “Giấy tờ chứng thực cá nhân khác” trong các mẫu văn bản đề nghị, mẫu đơn, tờ khai,… ban hành kèm theo Thông tư số 03/2014/TT-BKHĐT bằng các thông tin: “họ, chữ đệm và tên khai sinh; số định danh cá nhân”.
3. Trong lĩnh vực Đầu tư:
– Về thành phần hồ sơ: Bãi bỏ yêu cầu về thành phần hồ sơ là “Bản sao chứng minh nhân dân, thẻ căn cước hoặc hộ chiếu đối với nhà đầu tư là cá nhân” tại điểm b khoản 1 Điều 33, điểm d khoản 2 Điều 26, b khoản 1 Điều 55 Luật Đầu tư số 67/2014/QH13; điểm a khoản 2 Điều 37 và điểm b khoản 2 Điều 39 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP ngày 12/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư.
– Về mẫu đơn, mẫu tờ khai: Thay thế các thông tin về công dân nêu tại khoản 1 Điều 9 Luật Căn cước công dân số 59/2014/QH13, thông tin “Căn cước công dân” và “Giấy tờ chứng thực cá nhân khác” trong các mẫu văn bản đề nghị, mẫu đơn, tờ khai,… ban hành kèm theo Thông tư số 16/2015/TT-BKHĐT ngày 18/11/2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định biểu mẫu thực hiện thủ tục đầu tư và báo cáo hoạt động đầu tư tại Việt Nam (Thông tư số 16/2015/TT-BKHĐT) bằng các thông tin: “họ, chữ đệm và tên khai sinh; số định danh cá nhân”.
Nghị quyết 136/NQ-CP thông qua phương án đơn giản hóa thủ tục hành chính, giấy tờ công dân liên quan đến quản lý dân cư thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Kế hoạch và Đầu tư sẽ là bước tiến quan trọng trong tiến trình cải cách thủ tục hành chính tại Việt Nam.
Ngày 27/12/2017, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 18/2017/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2015/TT-NHNN về quy định cho vay bằng ngoại tệ của Tổ chức tín dụng (TCTD), chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng vay là người cư trú. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2018 và hết hiệu lực vào ngày 31/12/2018.
Theo thông tư này, TCTD và chi nhánh ngân hàng nước ngoài được phép hoạt động xem xét quyết định cho khách hàng là người cư trú vay vốn bằng ngoại tệ để đáp ứng các nhu cầu vốn ngắn hạn ở trong nước nhằm thực hiện phương án sản xuất, kinh doanh hàng hóa xuất khẩu qua cửa khẩu biên giới Việt Nam mà khách hàng vay có đủ ngoại tệ từ nguồn thu xuất khẩu để trả nợ vay.
Khi được TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài giải ngân cho vay, khách hàng vay phải bán số ngoại tệ vay đó cho tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cho vay theo hình thức giao dịch hối đoái giao ngay (spot), trừ trường hợp nhu cầu vay vốn của khách hàng để thực hiện giao dịch thanh toán mà pháp luật quy định đồng tiền giao dịch phải bằng ngoại tệ.
Thông qua Thông tư số 18/2017/TT-NHNN, chính sách cho vay ngoại tệ tiếp tục được thực hiện đến hết ngày 31/12/2018, nhằm hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu, góp phần thực hiện mục tiêu của Chính phủ tại Nghị quyết số 35/NQ-CP về hỗ trợ và phát triển Doanh nghiệp đến năm 2020.