Ngày 28/11/2017, Tổng cục Hải quan đã ban hành Công văn 7767/TCHQ-GSQL về việc thực hiện nhiệm vụ theo chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, thủ tướng Chính phủ về việc triển khai một số nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới, trong đó có yêu cầu tiếp tục cải cách thủ tục hành chính tạo thuận lợi cho các hoạt động xuất nhập khẩu, tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát phòng chống buôn lậu và gian lận thương mại tại các địa bàn trọng điểm.
Theo đó, tăng cường công tác quản lý về giá, phân loại hàng hoá, thuế, công tác phòng chống buôn lậu và gian lận thương mại. Tập trung nguồn lực giải quyết thủ tục hải quan nhanh chóng cho doanh nghiệp, tránh phát sinh việc ùn tắc, ứ đọng hàng hoá tại khu vực cảng, cửa khẩu, địa điểm làm thủ tục hải quan. Thực hiện các biện pháp kiểm soát chặt chẽ hàng hoá tiểu ngạch và hàng hoá kinh doanh tạm nhập – tái xuất. Cụ thể:
– Đối với hàng hoá xuất nhập khẩu, tái xuất qua cửa khẩu phụ, lối mở biên giới thì được thực hiện qua cửa khẩu phụ, lối mở biên giới đã được cơ quan có thẩm quyền cho mở, nâng cấp, công bố theo Nghị định số 112/2014/NĐ-CP ngày 21/11/2014 của Chính phủ quy định về quản lý cửa khẩu biên giới đất liền;
– Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ việc vận chuyển trai phép mặt hàng nông sản, nhất là các mặt hàng nông sản nhập khẩu tiểu ngạch và tạm nhập – tái xuất có nguy cơ thẩm lậu vào thị trường nội địa;
– Tham mưu cho UBND tỉnh chỉ đạo các lực lượng chức năng quản lý chặt chẽ các khu vực trọng điểm, không để xảy ra tình trạng hàng hóa vận chuyển không đúng tuyến đường, khu vực hoặc thẩm lậu vào nội địa.
Ngày 05/12/2017, Ban Chỉ đạo Quốc gia chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả ban hành Quyết định 1219/QĐ-BCĐ389 về việc ban hành tiêu chí đánh giá, phân loại mức độ hoàn thành nhiệm vụ trong công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả của các bộ, ngành và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Theo Quyết định 1219/QĐ-BCĐ389, tiêu chí đánh giá, phân loại mức độ hoàn thành nhiệm vụ trong công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả được quy định như sau:
1. Việc đánh giá, phân loại mức độ hoàn thành nhiệm vụ trong công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả dựa trên các tiêu chí như: Xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch, công tác năm của các bộ, ngành, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; triển khai các chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ban Chỉ đạo 389 quốc gia về công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả; thực hiện chỉ đạo về các vụ việc bắt giữ, điều tra, xử lý vi phạm.
2. Mỗi tiêu chí đều có điểm chuẩn, điểm trừ. Tổng điểm chuẩn của các tiêu chí là 100. Xếp loại các bộ, ngành, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương theo 4 mức độ theo thang điểm:
– Loại A (hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ) đạt từ 91 – 100 điểm;
– Loại B (hoàn thành tốt nhiệm vụ); đạt từ 71 – 90 điểm;
– Loại C (hoàn thành nhiệm vụ) đạt từ 51 – 70 điểm;
– Loại D (không hoàn thành nhiệm vụ) đạt dưới 50 điểm.
3. Định kỳ 1 năm, các đơn vị đánh giá, phân loại và báo cáo kết quả công tác trước ngày 25/11 của năm.
Ngày 15/11/2017, Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành Thông tư số 32/2017/TT-BTTTT thay thế Thông tư số 29/2006/TT-BTTTT quy định việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến (DVCTT) và bảo đảm khả năng truy cập thuận tiện đối với trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử. Thông tư số 32/2017/TT-BTTTT có hiệu từ ngày 01/6/2018.
Theo đó, nguyên tắc chung khi xây dựng cổng thông tin điện tử và dịch vụ công trực tuyến là phải lấy người sử dụng làm trung tâm. Nguyên tắc này được thể hiện như sau:
Thứ nhất, đối với những giấy tờ, thông tin liên quan đến người sử dụng đã cung cấp một lần thành công cho một cơ quan nhà nước khi thực hiện dịch vụ công trực tuyến, thì vẫn chính những giấy tờ, thông tin đó, nếu còn giá trị sử dụng theo quy định, không phải cung cấp lại khi thực hiện dịch vụ công trực tuyến lần sau cho chính cơ quan nhà nước đó. Đối với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan thuộc, trực thuộc thì các giấy tờ, thông tin này không phải cung cấp lại khi thực hiện dịch vụ công trực tuyến lần sau cho cơ quan thuộc, trực thuộc khác của bộ, tỉnh đó;
Thứ hai, phải đảm bảo rằng việc thực hiện các thủ tục hành chính được nhanh gọn hơn, giảm thiểu số lần người sử dụng phải đến cơ quan Nhà nước;
Thứ ba, cần phải đảm bảo thuận tiện cho người sử dụng.
Nguyên tắc lấy người sử dụng làm trung tâm trong xây dựng cổng thông tin điện tử và dịch vụ công trực tuyến là một điểm tiến bộ và có ý nghĩa quan trọng trongcải cách, giảm thiểu thủ tục hành chính; tạo điều kiện cho người dân thực hiện các dịch vụ công được nhanh chóng, thuận tiện, tiết kiệm thời gian và chi phí.
Ngày 16 tháng 11 năm 2017 Bộ Giao thông vận tải ban hành Thông tư số 44/2017/TT-BGTVT quy định về mẫu hồ sơ yêu cầu và mẫu hồ sơ mời thầu cho thuê khai thác kết cấu hạ tầng bến cảng, cầu cảng, cảng cạn được đầu tư bằng vốn Nhà nước, thay thế cho Thông tư số 01/2014/TT-BGTVT được ban hành trước đó. Thông tư 44/2017/TT-BGTVT sẽ chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2018, trong đó có một số nội dung đáng chú ý sau:
Về mẫu hồ sơ thầu: Mẫu hồ sơ yêu cầu (quy định tại phụ lục I) áp dụng trong trường hợp lựa chọn nhà thầu theo hình thức chỉ định thầu; Mẫu hồ sơ mời thầu (quy định tại phụ lục II) áp dụng trong trường hợp lựa chọn nhà thầu theo hình thức đấu thầu rộng rãi và đấu thầu hạn chế; Mẫu hợp đồng cho thuê (quy định tại phụ lục III) áp dụng đối với tất cả các trường hợp chỉ định thầu, đấu thầu rộng rãi và đấu thầu hạn chế.
Thông tư cũng nêu rõ, đối với hợp đồng đã ký thuê khai thác kết cấu hạ tầng bến cảng, cầu cảng trước ngày Thông tư 44/2017/TT-BGTVT có hiệu lực sẽ tiếp tục được thực hiện cho đến khi hết hiệu lực của hợp đồng. Đồng thời, việc tổ chức lựa chọn nhà thầu cho thuê khai thác kết cấu hạ tầng bến cảng, cầu cảng, cảng cạn được đầu tư bằng các nguồn vốn khác sẽ do chủ đầu tư quyết định theo các quy định có liên quan.
Ngày 21/11/2017, Tổng Kiểm toán nhà nước đã ký ban hành Quyết định số 10/2017/QĐ-KTNN thay thế Quyết định 04/2012/QĐ-KTNN ngày 06/4/2012 quy định về quy trình kiểm toán doanh nghiệp.Theo đó, từ ngày 05/01/2018, Báo cáo kiểm toán sẽ được thực hiện thông qua việc Lập Dự thảo Báo cáo kiểm toán, để có được Báo cáo kiểm toán sẽ phải thực hiện theo quy trình sau đây:
Bước 1: Lập Dự thảo Báo cáo kiểm toán (BCKT).
Bước 2: Xét duyệt Dự thảo Báo cáo kiểm toán.
Bước 3: Hoàn thiện dự thảo Báo cáo kiểm toán, lấy ý kiến tham gia của đơn vị được kiểm toán (ý kiến của đơn vị kiểm toán sẽ được xử lý để trình lên Tổng kiểm toán nhà nước xem xét và quyết định).
Bước 4: Thông báo kết quả kiểm toán.
Bước 5: Phát hành Báo cáo kiểm toán.
Bên cạnh đó, việc phát hành Báo cáo kiểm toán phải được đảm bảo thời gian theo đúng quy định của Luật Kiểm toán nhà nước và các quy định cụ thể khác của Kiểm toán Nhà nước.
Quá trình lập, xét duyệt và hoàn thiện dự thảo Báo cáo kiểm toán là một điểm mới nổi bật, góp phần cải tiến, hoàn thiện và tăng tính chính xác, hiệu quả trong quy trình lập BCKT.
Mục đích của việc xây dựng Quy trình Kiểm toán doanh nghiệp nhằm thống nhất trình tự, nội dung, thủ tục tiến hành các công việc của cuộc kiểm toán doanh nghiệp; phục vụ cho việc tổ chức, quản lý hoạt động kiểm toán và kiểm soát chất lượng kiểm toán của Đoàn Kiểm toán nhà nước (Đoàn kiểm toán), Kiểm toán viên nhà nước (Kiểm toán viên) và các thành viên khác của Đoàn kiểm toán.
Ngày 29/11/2017, Bộ Công Thương vừa ban hành Thông tư số 25/2017/TT-BCT quy định về việc nhập khẩu thuốc lá nguyên liệu theo hạn ngạch thuế quan năm 2018.
Theo đó, lượng thuốc lá nguyên liệu (mã HS 2401) nhập khẩu theo hạn ngạch thuế quan năm 2018 là 53.604 tấn.
Việc phân giao hạn ngạch thuế quan nhập khẩu thuốc lá nguyên liệu được thực hiện theo quy định tại Thông tư số 04/2014/TT-BCT ngày 27/01/2014 của Bộ Công Thương và các văn bản sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế.
Hạn ngạch thuế quan nhập khẩu thuốc lá nguyên liệu được phân giao cho thương nhân có giấy phép sản xuất thuốc lá điếu do Bộ Công Thương cấp và có nhu cầu sử dụng cho sản xuất thuốc lá điếu một tỷ lệ nhất định thuốc lá nguyên liệu nhập khẩu do Bộ Công Thương xác nhận.
Ngày 12/06/2017, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 3 đã thông qua Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018, trong đó có một số nội dung đáng chú ý về tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa, các nội dung hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Cụ thể như sau:
1. Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa: Doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa, có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân không quá 200 người và đáp ứng một trong hai tiêu chí: Tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng doanh thu của năm trước liền kề không quá 300 tỷ đồng.
2. Các nội dung hỗ trợ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa bao gồm: Hỗ trợ tiếp cận tín dụng; hỗ trợ thuế, kế toán; hỗ trợ mặt bằng sản xuất; hỗ trợ công nghệ; hỗ trợ cơ sở ươm tạo, cơ sở kỹ thuật, khu làm việc chung; hỗ trợ mở rộng thị trường; hỗ trợ thông tin, tư vấn và pháp lý; hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực.
3. Các hỗ trợ đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi từ hộ kinh doanh gồm: Tư vấn hướng dẫn miễn phí về hồ sơ, thủ tục thành lập doanh nghiệp; miễn lệ phí đăng ký doanh nghiệp và phí cung cấp thông tin doanh nghiệp lần đầu; miễn phí thẩm định, phí, lệ phí cấp phép kinh doanh lần đầu đối với ngành, nghề kinh doanh có điều kiện; miễn lệ phí môn bài trong thời hạn 03 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu; tư vấn, hướng dẫn miễn phí về các thủ tục hành chính thuế và chế độ kế toán trong thời hạn 03 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu; miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp có thời hạn theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp; miễn giảm tiền sử dụng đất có thời hạn theo quy định của pháp luật về đất đai.
4. Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo với các nội dung: Hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao công nghệ; hỗ trợ sử dụng trang thiết bị tại cơ sở kỹ thuật; hỗ trợ tham gia cơ sở ươm tạo, khu làm việc chung; hướng dẫn thử nghiệm, hoàn thiện sản phẩm mới, dịch vụ và mô hình kinh doanh mới; hỗ trợ đào tạo, huấn luyện chuyên sâu về xây dựng, phát triển sản phẩm; thu hút đầu tư; tư vấn về sở hữu trí tuệ; thực hiện các thủ tục về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, đo lường, chất lượng; hỗ trợ thông tin, truyền thông, xúc tiến thương mại, kết nối mạng lưới khởi nghiệp sáng tạo, thu hút đầu tư từ các quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo; hỗ trợ thực hiện thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, khai thác và phát triển tài sản trí tuệ;
5. Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị về: Đào tạo chuyên sâu về công nghệ, kỹ thuật sản xuất; tư vấn về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, đo lường, chất lượng, chiến lược phát triển sản phẩm theo cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị; cung cấp thông tin về nhu cầu kết nối, sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị; hỗ trợ phát triển thương hiệu, mở rộng thị trường sản phẩm của cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị; hỗ trợ sản xuất thử nghiệm, kiểm định, giám định, chứng nhận chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị.
Nghị định số 119/2017/NĐ-CP ngày 01/11/2017 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng sản phẩm, hàng hóa. Nghị định này quy định về hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt và mức phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền xử phạt và thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật; đo lường; chất lượng sản phẩm, hàng hóa.
Các hành vi vi phạm hành chính khác trong lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng sản phẩm, hàng hóa không được quy định tại Nghị định này thì áp dụng quy định tại các nghị định khác của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước có liên quan để xử phạt. Đối với hàng hóa nhập khẩu chưa được thông quan thì áp dụng nghị định của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan để xử phạt đối với các vi phạm về tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng sản phẩm, hàng hóa.
Một số nội dung mới về xử phạt vi phạm tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; chất lượng sản phẩm, hàng hóa được quy định cụ thể như sau:
– Phạt cảnh cáo nếu lợi dụng giải thưởng chất lượng quốc gia được trao tặng để gây hại đến uy tín của giải thưởng.
– Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng nếu vận chuyển hàng nguy hiểm là các chất ô xy hóa, các hợp chất ô xít hữu cơ, các chất ăn mòn khi chưa được cấp giấy phép.
– Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với hành vi sản xuất mũ bảo hiểm khi chưa được cấp giấy chứng nhận (GCN) đủ điều kiện sản xuất hoặc sử dụng GCN đã hết hiệu lực.
– Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng đối với hành vi sản xuất, pha chế khí, xăng dầu khi chưa được cấp GCN hoặc sử dụng GCN đã hết hiệu lực.
Nghị định 119/2017/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 15/12/2017, đồng thời thay thế Nghị định 80/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013.
Mục tiêu của Chương trình là phát triển hạ tầng du lịch đồng bộ, hiện đại bảo đảm các điều kiện kỹ thuật, góp phần tạo thuận lợi cho du khách cũng như thu hút đầu tư trong và ngoài nước đầu tư vào các khu du lịch quốc gia, đặc biệt các địa bàn trọng điểm phát triển du lịch, khu vực vùng sâu, vùng xa nhưng có tiềm năng du lịch nhằm hình thành các khu du lịch có tầm cỡ khu vực và thế giới, có sức cạnh tranh cao, góp phần đưa du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam.
Chương trình phấn đấu đến năm 2020 bảo đảm đồng bộ về cơ bản kết cấu hạ tầng cho 3-5 khu du lịch quốc gia, góp phần tạo thuận lợi cho du khách cũng như thu hút đầu tư trong và ngoài nước đầu tư; hỗ trợ đầu tư giao thông, tạo thuận lợi để tiếp cận một số hạ tầng cơ bản và hạ tầng du lịch của 30 khu, điểm du lịch quốc gia.
Theo lộ trình, Chương trình trên được thực hiện từ năm 2016 – 2020 với tổng kinh phí hơn 30 nghìn tỷ đồng tại các địa phương thuộc địa bàn trọng điểm phát triển du lịch vùng; các địa phương có khu, điểm, tuyến du lịch được xác định tại Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; trong đó ưu tiên hỗ trợ cho các tỉnh nghèo, không tự cân đối được ngân sách.
Dự án được hỗ trợ gồm: Đường từ trục chính đến khu du lịch, điểm du lịch, địa bàn trọng điểm phát triển du lịch vùng; đường trục chính, hệ thống xử lý chất thải trong khu, điểm du lịch; các dự án xây dựng xử lý chất thải, bảo vệ môi trường các khu, điểm du lịch quốc gia; kè hoặc nạo vét lòng hồ để bảo vệ, tôn tạo tài nguyên du lịch tại các khu, điểm du lịch, địa bàn trọng điểm phát triển du lịch vùng.
Theo quyết định, đối với dự án khởi công mới giai đoạn 2016 – 2020, Ngân sách Trung ương xem xét hỗ trợ 100% tổng mức đầu tư đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Đối với dự án chuyển tiếp đã được hỗ trợ từ nguồn ngân sách Trung ương giai đoạn 2011 – 2015 thì tiếp tục hỗ trợ theo tỷ lệ cũ đã được thẩm định, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm cân đối ngân sách địa phương và huy động các nguồn vốn hợp pháp khác để hoàn thành các dự án theo đúng các quyết định đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Đối với dự án đầu tư theo hình thức đối tác công – tư, hỗ trợ theo tỷ lệ quy định trong hợp đồng dự án theo đúng các quy định hiện hành của Nhà nước đối với đầu tư theo hình thức đối tác công – tư.
Ngày 16/11/2017 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 127/2017/NĐ-CP có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2018 quy định chi tiết về việc niêm phong, mở niêm phong vật chứng. Theo đó có nhiều điểm mới và quy định chặt chẽ, chi tiết hơn so với các văn bản hướng dẫn trước đây, cụ thể: Liên quan tới việc niêm phong, mở niêm phong vật chứng chỉ thực hiện niêm phong, mở niêm phong vật chứng khi có yêu cầu phục vụ hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. Việc mở niêm phong phải đảm đúng trình tự, thủ tục, hình thức, thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, việc mở niêm phong phải đảm bảo nhanh chóng, kịp thời, bảo đảm tôn trọng lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Bảo đảm tính nguyên vẹn của vật chứng. Ngoài ra, Nghị định cũng quy định cụ thể những loại vật chứng cần niêm phong và vật chứng không cần niêm phong. Theo đó, quy định mọi vật chứng sẽ cần phải được niêm phong trừ một số vật chứng cụ thể như vật chứng là động vật, thực vật sống, vật chứng là tài liệu được đưa vào hồ sơ vụ án, vật chứng thuộc loại mau hỏng hoặc khó bảo quản và những vật chứng khác mà cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng xét thấy không cần thiết phải niêm phong. Ngoài ra trách nhiệm của người tham gia niêm phong vật chứng cũng được quy định cụ thể như sau, người tham gia niêm phong phải có mặt tham gia niêm phong vật chứng khi có yêu cầu của người tổ chức thực hiện niêm phong vật chứng, chứng kiến quá trình niêm phong vật chứng, ký, ghi rõ họ tên hoặc điểm chỉ vào giấy niêm phong vật chứng, tham gia kiểm tra niêm phong của vật chứng, ký, ghi rõ họ tên hoặc điểm chỉ vào biên bản niêm phong vật chứng. Một điểm khá nổi bật trong lần điều chỉnh này đó là vấn đề nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của người tổ chức thực hiện mở niêm phong vật chứng được quy định một cách chi tiết hơn như chủ trì việc tổ chức thực hiện mở niêm phong vật chứng, mời, triệu tập người, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm liên quan đến vật chứng, đề nghị và thực hiện thủ tục xuất kho vật chứng, thông báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan, kiểm tra niêm phong trước khi mở niêm phong vật chứng, mở niêm phong vật chứng, kiểm tra vật chứng sau khi mở niêm phong.