Nhiều ngân hàng tăng mạnh lãi suất huy động
Với mong muốn bổ sung thêm nguồn vốn trung, dài hạn để phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh cuối năm, đồng thời giảm...
Bùng nổ nhượng quyền thương hiệu vào Việt Nam
Hoạt động nhượng quyền đang được giới kinh doanh vận dụng để đưa các thương hiệu nước ngoài vào thị trường Việt Nam. Ngoài lĩnh...
6 ngành kinh tế phát triển mũi nhọn khu vực miền Trung
Có 6 lĩnh vực kinh tế biển, ven biển đang được các tỉnh miền Trung tập trung phát triển và đã đạt được những kết...
91.9% doanh nghiệp lạc quan về hoạt động sản xuất 6 tháng cuối năm
Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có tỷ lệ doanh nghiệp dự báo về khối lượng sản xuất khả...
Việt Nam chuyển dần từ nhập siêu sang xuất siêu với CPTPP
Với hầu hết các hiệp định thương mại (FTA) đã ký, Việt Nam thường nhập siêu, thì nay, khi thực hiện CPTTP, trong 7 tháng...
Giải đáp pháp luật
Hậu kiểm sau khi cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện an ninh, trật tự
Trả lời

Ngày 20 tháng 10 năm 2017, Bộ Công an đã ban hành Thông tư số 42/2017/TT-BCA quy định một số điều của Nghị định số 96/2016/NĐ-CP về điều kiện an ninh, trật tự (ANTT) đối với một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện.

Theo đó, trong thời hạn không quá 60 ngày, kể từ ngày được cấp mới, cấp đổi, cấp lại Giấy chứng nhận đủ điều kiện về ANTT, Cơ quan công an có thẩm quyền phải thực hiện hậu kiểm đối với cơ sở kinh doanh được cấp mới, cấp đổi, cấp lại Giấy chứng nhận đủ điều kiện về ANTT.

Cơ sở kinh doanh bao gồm: doanh nghiệp; Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; Chi nhánh, cơ sở trực thuộc doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; Đơn vị sự nghiệp có thu hoạt động trong lĩnh vực ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự của các cơ quan, tổ chức; Hộ kinh doanh.

Trước khi hậu kiểm, cơ sở kinh doanh được thông báo bằng văn bản nêu rõ nội dung hậu kiểm và thời gian thực hiện công tác hậu kiểm. Nội dung hậu kiểm bao gồm:

– Kiểm tra về điều kiện đối với người chịu trách nhiệm về an ninh, trật tự của cơ sở kinh doanh (chỉ áp dụng đối với trường hợp có nghi vấn) bằng hình thức xác minh lý lịch;

– Kiểm tra trực tiếp các điều kiện về an ninh, trật tự tại cơ sở kinh doanh.

Việc hậu kiểm phải lập biên bản. Trường hợp phát hiện cơ sở kinh doanh không đáp ứng một trong các điều kiện về an ninh, trật tự thì xử lý như sau:

a) Thông báo bằng văn bản yêu cầu cơ sở kinh doanh tạm ngừng hoạt động kinh doanh ngành, nghề hoặc công đoạn của quá trình đầu tư. Đồng thời, yêu cầu cơ sở kinh doanh khắc phục vi phạm về điều kiện an ninh, trật tự trong thời hạn 40 ngày;

b) Trường hợp cơ sở kinh doanh có văn bản báo cáo đã khắc phục xong vi phạm điều kiện về an ninh, trật tự thì cơ quan Công an có thẩm quyền có trách nhiệm kiểm tra, nếu đủ điều kiện thì ghi cụ thể vào biên bản để cơ sở kinh doanh tiếp tục hoạt động ngành, nghề hoặc công đoạn của quá trình đầu tư đã phải tạm ngừng kinh doanh trước đó;

c) Trường hợp trong thời hạn quy định mà cơ sở kinh doanh không khắc phục được vi phạm điều kiện về an ninh, trật tự thì cơ quan Công an có thẩm quyền ra quyết định thu hồi không có thời hạn Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự đối với ngành, nghề hoặc công đoạn của quá trình đầu tư mà cơ sở kinh doanh đã phải tạm ngừng hoạt động trước đó.

Báo cáo:

Cơ sở kinh doanh có trách nhiệm báo cáo định kỳ hàng quý (hoàn thành trong tuần cuối cùng của quý) tình hình, kết quả thực hiện các quy định về an ninh, trật tự của cơ sở kinh doanh theo mẫu ĐK13 ban hành kèm theo Thông tư này gửi cơ quan Công an trực tiếp quản lý;

b) Cơ sở kinh doanh có trách nhiệm báo cáo đột xuất các vụ việc hoặc thông tin liên quan đến lĩnh vực an ninh, trật tự tại cơ sở kinh doanh gửi cơ quan Công an nơi gần nhất và cơ quan Công an trực tiếp quản lý.

Kiểm tra:
Cơ quan Công an có thẩm quyền thực hiện kiểm tra định kỳ cơ sở kinh doanh không quá một lần trong một năm và phải kết hợp kiểm tra các nội dung khác liên quan đến an ninh, trật tự (nếu có).

Trước khi thực hiện kiểm tra, cơ quan Công an có thẩm quyền phải có văn bản thông báo trước 05 ngày làm việc cho cơ sở kinh doanh về thời gian, địa điểm, nội dung kiểm tra, thành phần đoàn kiểm tra.

Nội dung kiểm tra thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 50 Nghị định số 96/2016/NĐ-CP và kế hoạch kiểm tra đã được phê duyệt. Cụ thể:

a) Kiểm tra, thanh tra các giấy tờ trong hồ sơ pháp lý; nội dung kinh doanh ghi trong Giấy phép, Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự do cơ quan Công an có thẩm quyền cấp cho cơ sở kinh doanh với thực tế của cơ sở đang hoạt động;

b) Kiểm tra việc chấp hành các quy định tại Nghị định này và các quy định tại văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan;

c) Kiểm tra người và phương tiện, sản phẩm kinh doanh, dịch vụ liên quan đến hoạt động của cơ sở kinh doanh theo quy định của pháp luật;

Kết thúc kiểm tra, thanh tra phải lập biên bản, ghi rõ kết quả và tồn tại hoặc vi phạm (nếu có). Trường hợp phát hiện cơ sở kinh doanh có hành vi vi phạm quy định của pháp luật trong hoạt động ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự thì ngoài việc lập biên bản kiểm tra còn phải lập biên bản vi phạm hành chính để xử lý theo quy định của pháp luật. Trường hợp phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật liên quan tới các lĩnh vực khác nếu không thuộc thẩm quyền xử lý thì trưởng đoàn kiểm tra phải kịp thời báo cáo lãnh đạo quản lý trực tiếp để xin ý kiến chỉ đạo; không được tự ý giải quyết công việc không thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao.

Trường hợp kiểm tra đột xuất, cán bộ phụ trách đoàn kiểm tra phải xuất trình Giấy chứng minh Công an nhân dân cho người đại diện của cơ sở kinh doanh (đối với đoàn kiểm tra hoặc cán bộ kiểm tra thuộc các lực lượng nghiệp vụ khác không trực tiếp quản lý cơ sở kinh doanh).

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 06 tháng 12 năm 2017 và thay thế các Thông tư số 45/2009/TT-BCA(C11) ngày 14/7/2009 của Bộ trưởng Bộ Công an hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 52/2008/NĐ-CP ngày 22/4/2008 về quản lý kinh doanh dịch vụ bảo vệ và Thông tư số 33/2010/TT-BCA ngày 05/10/2010 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định cụ thể điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề kinh doanh có điều kiện.

Thí điểm cho người Việt Nam vào chơi casino từ ngày 01/12/2017
Trả lời

Ngày 05/10/2017, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 102/2017/TT-BTC quy định hướng dẫn một số điều quy định tại Nghị định số 03/2017/NĐ-CP ngày 16 tháng 01 năm 2017 của Chính phủ về kinh doanh Casino. Theo Thông tư 102/2017/TT-BTC, quy định về hồ sơ để người Việt Nam có đủ năng lực về tài chính để tham gia chơi tại điểm kinh doanh casino. Cụ thể như sau:

–  Các chứng từ chứng minh có thu nhập chịu thuế từ bậc 3 trở lên theo quy định tại Luật thuế thu nhập cá nhân: Bản sao có chứng thực tờ khai thuế thu nhập cá nhân đã được cơ quan thuế quyết toán hoặc bản xác nhận việc thực hiện nghĩa vụ thuế của cơ quan thuế chứng minh người chơi có thu nhập chịu thuế từ bậc 3 trở lên theo quy định tại Luật thuế thu nhập cá nhân trong vòng 01 năm trước khi vào chơi casino.

–  Các chứng từ chứng minh người Việt Nam có thu nhập thường xuyên từ 10 triệu đồng/tháng trở lên gồm có:

Bản sao có chứng thực xác nhận thu nhập hàng tháng, bảng lương hàng tháng hoặc quyết định trả lương của cơ quan nơi người chơi đang công tác xác nhận trong 03 tháng gần nhất kể từ ngày vào chơi casino, trong đó thể hiện mức thu nhập hàng tháng từ 10 triệu đồng trở lên.

Bản sao có chứng thực hợp đồng cho thuê nhà, cho thuê tài sản của người chơi còn hiệu lực theo quy định của pháp luật, trong đó thể hiện tổng số tiền cho thuê hàng tháng từ 10 triệu đồng trở lên.

Bản sao có chứng thực sổ tiết kiệm ngân hàng, sao kê tài khoản tiền gửi ngân hàng của người chơi có thời hạn từ 01 năm trở lên và có phát sinh lãi hàng tháng từ 10 triệu đồng trở lên.

Các giấy tờ khác chứng minh được người chơi có thu nhập thường xuyên từ 10 triệu đồng/tháng trở lên.

Trường hợp các hồ sơ nêu trên không chứng minh được thu nhập của người chơi đạt mức 10 triệu đồng/tháng, người chơi có thể xuất trình đồng thời nhiều hồ sơ để chứng minh có tổng thu nhập thường xuyên từ 10 triệu đồng/tháng trở lên.

–  Người chơi chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực của các tài liệu được chứng thực quy định tại hai phần nêu trên khi xuất trình cho doanh nghiệp kinh doanh casino để vào chơi casino.

–  Doanh nghiệp kinh doanh casino được phép thí điểm cho người Việt Nam vào chơi casino có trách nhiệm lưu giữ các hồ sơ theo quy định nêu trên trong thời hạn tối thiểu là 05 năm kể từ ngày cho phép người Việt Nam vào chơi casino để phục vụ công tác quản lý, giám sát, kiểm tra, thanh tra của các cơ quan quản lý nhà nước.

Thông tư có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/12/2017.

Quy định mới về điều kiện kinh doanh đặt cược, đua ngựa, đua chó và bóng đá quốc tế
Trả lời

Ngày 04/10/2017 Bộ Tài chính quy định Thông tư 101/2017/TT-BTC hướng dẫn một số điều quy định tại Nghị định số 06/2017/NĐ-CP ngày 24 tháng 01 năm 2017 của Chính phủ về kinh doanh đặt cược đua ngựa, đua chó và bóng đá quốc tế.

Thông tư này quy định chi tiết đối tượng áp dụng dành cho các doanh nghiệp kinh doanh đặt cược đua chó và đặt cược bóng đá quốc tế, các đối tượng được phép tham gia đặt cược, thành phần giám sát cuộc đua.

Ngoài ra việc quản lý tài chính và chế độ báo cáo của các Doanh nghiệp này cũng được quy định chi tiết , cụ thể hơn như:

–  Doanh nghiệp kinh doanh đặt cược phải thực hiện hạch toán riêng các khoản doanh thu, chi phí và lợi nhuận liên quan đến hoạt động kinh doanh đặt cược và phải theo dõi riêng các khoản mục này trên hệ thống sổ sách kế toán và báo cáo tài chính (Điều 9- Nguyên tắc hạch toán và quản lý doanh thu, chi phí).

–  Báo cáo tài chính hàng năm của doanh nghiệp kinh doanh đặt cược phải được kiểm toán bởi một tổ chức kiểm toán độc lập được phép hoạt động hợp pháp tại Việt Nam. (Điều 12- Chế độ kế toán và công khai báo cáo tài chính).

Thông tư 101/2017/TT-BTC có hiệu lực từ 01/12/2017

Thông tư số 42/2017/TT-BGTVT quy định điều kiện của người điều khiển phương tiện, nhân viên phục vụ, trang thiết bị, chất lượng dịch vụ trên phương tiện vận tải khách du lịch
Trả lời

Thông tư này ban hành ngày 15/11/2017 quy định điều kiện của người điều khiển phương tiện, nhân viên phục vụ, trang thiết bị, chất lượng dịch vụ trên phương tiện vận tải khách du lịch. Thông tư này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động kinh doanh vận tải khách du lịch.

Những nội dung chính của Thông tư này bao gồm:

1. Điều kiện của nhân viên phục vụ trên phương tiện vận tải:

– Nhân viên phục vụ trên xe ô tô vận tải khách du lịch phải được tập huấn về nghiệp vụ và các quy định của pháp luật đối với hoạt động kinh doanh vận tải theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải;

– Nhân viên phục vụ trên xe ô tô vận tải khách du lịch phải được đơn vị kinh doanh vận tải tập huấn nghiệp vụ du lịch.

– Đối với lái xe đồng thời là nhân viên phục vụ khi vận chuyển khách du lịch, đơn vị kinh doanh vận tải phải tập huấn nghiệp vụ du lịch cho người lái xe như nội dung tập huấn đối với nhân viên phục vụ.

2. Quy định về trang thiết bị, chất lượng dịch vụ trên phương tiện vận tải:

–  Xe ô tô phải bảo đảm các quy định về chất lượng, an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật;

– Xe ô tô phải được gắn thiết bị giám sát hành trình theo quy định;

– Xe ô tô phải được niêm yết đầy đủ các thông tin theo quy định, bên cạnh giường nằm phải có bảng hướng dẫn cho hành khách về an toàn giao thông và thoát hiểm khi xảy ra sự cố theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải.

Thông tư này có hiệu lực ngày 01/01/2018 bãi bỏ Điều 4, Điều 5 của Thông tư Liên tịch số 19/2015/TTLT-BGTVT-BVHTTDL ngày 25 tháng 5 năm 2015.

Thông tư 13/2017/TT-NHNN ngày 29/9/2017 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc sửa đổi, bổ sung một số điều quy định về bảo lãnh ngân hàng
Trả lời

Ngày 29/9/2017, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã ký ban hành Thông tư số 13/2017/TT – NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 07/2015/TT-NHNN ngày 25/6/2015 của Thống đốc NHNN quy định về bảo lãnh ngân hàng nhằm tạo điều kiện thuận lợi, phù hợp với các quy định pháp luật mới có liên quan trong hoạt động bảo lãnh nói chung và hoạt động bảo lãnh trong bán, cho thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai nói riêng của các Tổ chức tín dụng (TCTD), chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

Nội dung Thông tư 13/2017/TT-NHNN có một số các nội dung sửa đổi, bổ sung mới so với Thông tư 07/2015/TT-NHNN như sau:

Nội dung sửa đổi, bổ sung liên quan đến bảo lãnh nhà ở hình thành trong tương lai:

a) Về công bố danh sách ngân hàng thương mại (NHTM) đủ năng lực bảo lãnh:

Quy định Thống đốc NHNN sẽ ban hành quyết định công bố danh sách NHTM đủ năng lực. Cơ quan TTGSNH sẽ là đơn vị đầu mối tự rà soát các NHTM theo các tiêu chí để trình Thống đốc công bố danh sách và khi có sự thay đổi sẽ cập nhật và điều chỉnh lại danh sách; NHTM đủ năng lực phải đáp ứng 2 tiêu chí: (i) Trong Giấy phép thành lập và hoạt động hoặc tại văn bản sửa đổi, bổ sung Giấy phép thành lập và hoạt động có quy định nội dung hoạt động bảo lãnh ngân hàng; (ii) Không bị cấm thực hiện bảo lãnh nhà ở hình thành trong tương lai trong giai đoạn bị kiểm soát đặc biệt.

b) Về trình tự thực hiện bảo lãnh:

Bước 1: NHTM thẩm định các điều kiện đối với chủ đầu tư để xem xét, quyết định cấp bảo lãnh.

Bước 2: NHTM và chủ đầu tư ký hợp đồng bảo lãnh nhà ở hình thành trong tương lai theo quy định tại Điều 56 Luật kinh doanh bất động sản.

Hợp đồng bảo lãnh được lập dưới hình thức thỏa thuận cấp bảo lãnh quy định tại Thông tư 07 và nội dung phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật kinh doanh bất động sản; Số tiền bảo lãnh cho một dự án tối đa bằng tổng số tiền chủ đầu tư được phép nhận ứng trước của bên mua theo quy định tại Điều 57 Luật kinh doanh bất động sản và các khoản tiền khác chủ đầu tư có nghĩa vụ phải hoàn lại cho bên mua theo hợp đồng mua, thuê mua nhà ở đã ký kết khi đến thời hạn giao, nhận nhà đã cam kết nhưng chủ đầu tư không bàn giao nhà ở cho bên mua; Hiệu lực của hợp đồng bảo lãnh chỉ hết khi toàn bộ các cam kết bảo lãnh cho bên mua hết hiệu lực.

Bước 3: NHTM phát hành cam kết bảo lãnh dưới hình thức thư bảo lãnh cho từng bên mua trong vòng 5 ngày làm việc kể từ khi nhận được hợp đồng mua, thuê mua nhà do chủ đầu tư gửi đến. Thông tư cũng quy định trách nhiệm của chủ đầu tư phải gửi cho NHTM hợp đồng mua, thuê mua nhà ở trong vòng 10 ngày làm việc kể từ ngày ký.

c) Về số dư bảo lãnh đối với chủ đầu tư: Số dư bảo lãnh được xác định theo tiến độ nộp tiền cho chủ đầu tư và giảm dần khi nghĩa vụ bảo lãnh đối với bên mua chấm dứt theo quy định tại Điều 23 Thông tư 07; Thông tư quy định có độ trễ trong việc cập nhật số tiền đã nhận của chủ đầu tư nhằm tạo thuận lợi trong tác nghiệp của các NHTM và chủ đầu tư nhưng tối thiểu phải thông báo một lần vào ngày cuối cùng hàng tháng để làm cơ sở xác định số dư bảo lãnh. Chủ đầu tư tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thông báo chính xác số tiền đã nhận ứng trước của các bên mua theo đúng thời gian thỏa thuận cho ngân hàng thương mại.

Các nội dung khác:

a) Về chủ thể tham gia giao dịch bảo lãnh: Chủ thể tham gia giao dịch bảo lãnh (bao gồm cả khách hàng được bảo lãnh và các bên có liên quan) là cá nhân, pháp nhân (cả trong nước và nước ngoài). Các tổ chức không có tư cách pháp nhân khi tham gia quan hệ bảo lãnh thì chủ thể tham gia xác lập, thực hiện các giao dịch bảo lãnh thực hiện theo quy định tại Điều 101 Bộ Luật dân sự.

b) Về phạm vi nghĩa vụ được bảo lãnh: Bổ sung nội dung quy định không cho phép bảo lãnh thanh toán trái phiếu đối với các doanh nghiệp phát hành với mục đích cơ cấu lại nợ và trái phiếu phát hành bởi công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng khác. Nội dung bổ sung này nhằm đảm bảo đồng bộ các quy định của NHNN về việc kiểm soát hoạt động cấp tín dụng của TCTD đối với công ty con, công ty liên kết và hạn chế việc TCTD mua trái phiếu doanh nghiệp phát hành với mục đích cơ cấu lại các khoản nợ.

c) Về quy định quan hệ giữa cam kết bảo lãnh và hợp đồng có nghĩa vụ được bảo lãnh: Bổ sung quy định bãi bỏ Điều 22 Thông tư 07 quy định về quan hệ giữa cam kết bảo lãnh và hợp đồng có nghĩa vụ được bảo lãnh theo đề nghị của các TCTD để phù hợp với tính độc lập của bảo lãnh với nghĩa vụ được bảo lãnh.

Nghị định 124/2017/NĐ-CP ngày 15/11/2017 quy định về đầu tư ra nước ngoài trong hoạt động dầu khí
Trả lời

Ngày 15/11/2017, Chính phủ đã ban hành Nghị định 124/2017/NĐ-CP quy định về đầu tư nước ngoài trong hoạt động dầu khí. Theo đó, Nghị định 124/2017/NĐ-CP về đầu tư ra nước ngoài trong hoạt động dầu khí thay thế Nghị định 121/2007/NĐ-CP của Chính phủ vể nội dung này. Theo quy định tại Điều 5 Nghị định 124/2017/NĐ-CP, nhà đầu tư được chuyển ngoại tệ, máy móc, thiết bị ra nước ngoài để nghiên cứu thị trường, tìm kiếm cơ hội và chuẩn bị đầu tư, trước khi giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài được cấp.

Cũng theo Nghị định, nhà đầu tư được thực hiện các giao dịch trước khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài để tham gia đấu thầu quốc tế hoặc các hình thức bảo đảm khác trước khi tiến hành đàm phán chính thức với đối tác, như đặt cọc, ký quỹ hoặc các hình thức bảo lãnh khác…

Nghị định mới cũng quy định rõ nhà đầu tư được chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài để thực hiện hoạt động đầu tư sau khi đáp ứng các điều kiện sau:

– Nhà đầu tư được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 4 Điều 5 Nghị định này.

– Dự án dầu khí đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nước tiếp nhận đầu tư chấp thuận theo quy định của pháp luật nước tiếp nhận đầu tư.

Trường hợp pháp luật của nước tiếp nhận đầu tư không quy định về việc cấp phép đầu tư, hoặc chấp thuận đầu tư, nhà đầu tư phải có tài liệu chứng minh quyền hoạt động đầu tư tại nước tiếp nhận đầu tư.

Các quy định về thủ tục, trình tự việc chuyển ngoại tệ ra nước ngoài cũng đã được quy định rất cụ thể tại Nghị định 124/2017/NĐ-CP.

Với việc quy định rút ngắn thủ tục đầu tư ra nước ngoài đối với lĩnh vực dầu khí, kể cả đối với các dự án thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư ra nước ngoài của Quốc hội, của Chính phủ, Nghị định số 124/2017/NĐ-CP đã gỡ bỏ được những hạn chế của Nghị định 121/2017/NĐ-CP trong thời gian qua. Nghị định này có hiệu lực vào ngày 01/01/2018.

Quyết định số 2362/2017/QĐ-BTC ngày 15/11/2017 về việc công bố thủ tục hành chính sửa đổi, thay thế trong lĩnh vực quản lý thuộc thẩm quyền giải quyết của Bộ Tài Chính
Trả lời

Ngày 15/11/2017, Bộ Tài chính ban hành Quyết định số 2362/QĐ-BTC về việc công bố thủ tục hành chính sửa đổi, thay thế trong lĩnh vực quản lý thuộc thẩm quyền giải quyết của Bộ Tài chính. Theo đó, hai thủ tục hành chính thuế, bao gồm: Đăng ký cấp chứng chỉ hành nghề dịch vụ làm thủ tục về thuế; đăng ký hoạt động kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế đối với đại lý thuế đã được sửa đổi, thay thế bởi Bộ Tài chính qua việc ban hành Quyết định số 2362/QĐ-BTC.

Việc đăng ký hoạt động kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế đối với đại lý thuế được sửa đổi thay thế như sau: Sử dụng “Mẫu số 01A – Văn bản đề nghị xác nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế” tại Thông tư 51/2017/TT-BTC hướng dẫn hành nghề dịch vụ làm thủ tục về thuế thay cho “Mẫu số 01” của Thông tư 117/2012/TT-BTC hướng dẫn về hành nghề dịch vụ làm thủ tục về thuế.

Về nội dung của việc đăng ký hoạt động kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế đối với đại lý thuế, Quyết định cho bỏ yêu cầu nộp giấy chứng nhận đăng ký thuế, mẫu chữ ký của người có thẩm quyền của đại lý thuế ký tên trên các hồ sơ đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế….; giảm thời hạn giải quyết hồ sơ từ 10 ngày làm việc xuống còn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ.

Quyết định số 2362 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/7/2017 và sửa đổi, thay thế thủ tục hành chính tại Quyết định số 1500/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính.

Nghị định 122/2017/NĐ-CP ngày 13/11/2017 của Chính Phủ quy định đặc thù về cơ chế quản lý tài chính và đánh giá hiệu quả hoạt động đối với Doanh nghiệp kinh doanh xổ số; Sở Giao dịch Chứng khoán và Trung tâm Lưu ký Chứng khoán Việt Nam
Trả lời

Ngày 13/11/2017, Chính phủ đã ban hành Nghị định 122/2017/NĐ-CP quy định đặc thù về cơ chế quản lý tài chính và đánh giá hiệu quả hoạt động đối với Doanh nghiệp kinh doanh xổ số; Sở Giao dịch Chứng khoán và Trung tâm Lưu ký Chứng khoán Việt Nam. Trong đó có Công ty xổ số điện toán Việt Nam (gọi tắt là Vietlott).

Theo đó, việc xác định doanh thu thực tế của Vietlott tại từng tỉnh, thành phố trực thuộc TW được quy định như sau:

– Đối với phương thức phân phối vé xổ số tự chọn số điện toán thông qua thiết bị máy đầu cuối: Doanh thu từ hoạt động kinh doanh xổ số tự chọn số điện toán phát sinh từ các máy đầu cuối đăng ký bán vé xổ số tự chọn số điện toán trong địa giới hành chính từng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương theo hợp đồng đại lý xổ số đã ký với Vietlott hoặc các cửa hàng, điểm bán vé do doanh nghiệp thiết lập trên địa bàn.

– Đối với phương thức phân phối vé xổ số tự chọn số điện toán thông qua điện thoại và internet: Doanh thu được xác định theo địa điểm khách hàng đăng ký địa bàn tham gia dự thưởng khi mở tài khoản dự thưởng theo quy định của pháp luật về kinh doanh xổ số tự chọn số điện toán. Doanh thu thực tế phát sinh theo từng địa bàn có phát hành xổ số điện toán được báo cáo theo mẫu 06/BCXS tại Phụ lục của Nghị định.

Nghị định 122/2017/NĐ-CP cũng quy định tổng doanh thu có thuế phát sinh trong kỳ không bao gồm doanh thu từ các kỳ bán trước chưa được quay số mở thưởng.

Có thể khẳng định, việc ban hành Nghị định 122/2017/NĐ-CP (có hiệu lực từ ngày 01/01/2018) quy đinh về cơ chế hoạt động của loại hình xổ số là bước hoàn thiện hàng lang pháp lý không chỉ giúp các công ty xổ số nói chung và Vietlott nói riêng hoạt động đúng pháp luật mà còn thúc đẩy thị trường vui chơi có thưởng tại Việt Nam phát triển.

Thông tư số 46/2017/TT-BTNMT ngày 23/10/2017 do Bộ Tài Nguyên và Môi trường ban hành quy định xây dựng cơ sở dữ liệu địa giới hành chính
Trả lời

Ngày 23/10/2017, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Thông tư số 46/2017/TT-BTNMT quy định về xây dựng cơ sở dữ liệu địa giới hành chính. Theo đó, cơ sở dữ liệu địa giới hành chính được xây dựng từ hồ sơ địa giới hành chính các cấp đã được cơ quan có thẩm quyền thẩm định, được phép đưa vào lưu trữ và sử dụng. Việc cập nhật cơ sở dữ liệu địa giới hành chính được thực hiện khi có những thay đổi về địa giới hành chính do thành lập, chia tách, sáp nhập, giải thể đơn vị hành chính theo các Nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội. Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam có trách nhiệm cập nhật cơ sở dữ liệu địa giới hành chính trong thời hạn không quá 30 ngày kể từ khi nhận được bộ hồ sơ địa giới hành chính điều chỉnh.

 Toàn bộ quy trình xây dựng cơ sở dữ liệu địa giới hành chính được thực hiện thông qua 06 bước. Cụ thể:

– Bước 1: Công tác chuẩn bị các công việc cần thiết;

– Bước 2: Biên tập kỹ thuật;

– Bước 3: Xây dựng dữ liệu địa giới hành chính;

– Bước 4: Đối soát, hoàn thiện dữ liệu;

– Bước 5: Xây dựng siêu dữ liệu địa giới hành chính;

– Bước 6: Đóng gói và giao nộp sản phẩm.

Tiếp theo quá trình xây dựng cơ sở dữ liệu địa giới hành chính là việc kiểm tra nghiệm thu theo quy định tại Thông tư 63/2015/TT-BTNMT và nội dung kiểm tra chất lượng dữ liệu địa giới hành chính tuân thủ theo Phụ lục 03 ban hành kèm theo Thông tư này.

Việc xây dựng cơ sở dữ liệu địa giới hành chính có ý nghĩa rất lớn trong việc xác định trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong công tác quản lý dân cư, đất đai, kinh tế, văn hóa xã hội và tạo điều kiện thuận lợi để các cơ quan thực hiện chức năng, nhiệm vụ trên thực tế.

Nghị định số 113/2017/NĐ-CP ngày 09/10/2017 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Hóa chất
Trả lời

Ngày 9/10/2017, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định ban hành Nghị định 113/2017/NĐ-CP hướng dẫn Luật hóa chất, thay thế cho Nghị định 108/2008/NĐ-CP và Nghị định số 26/2011/NĐ-CP. Các quy định tại Nghị định 113/2017/NĐ-CP có nhiều điểm thay đổi so với văn bản trước đó theo hướng tăng cường công tác quản lý và  giúp doanh nghiệp thuận lợi hơn khi sản xuất, kinh doanh hóa chất.

Trong đó nêu rõ một số trường hợp nhập khẩu hóa chất được miễn trừ khai báo, cụ thể như sau:

1. Hóa chất được sản xuất, nhập khẩu phục vụ an ninh, quốc phòng, ứng phó các sự cố thiên tai, dịch bệnh khẩn cấp.

2. Hóa chất là tiền chất ma túy, tiền chất thuốc nổ, vật liệu nổ công nghiệp và hóa chất bảng đã được cấp phép sản xuất, nhập khẩu.

3. Hóa chất nhập khẩu dưới 10 kg/một lần nhập khẩu. Trường hợp miễn trừ nêu tại điểm này không áp dụng đối với các hóa chất hạn chế sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực công nghiệp.

4. Hóa chất là nguyên liệu sản xuất thuốc đã có Giấy chứng nhận đăng ký lưu hành thuốc tại Việt Nam, nguyên liệu sản xuất thuốc là dược chất để sản xuất theo hồ sơ đăng ký thuốc đã có Giấy chứng nhận đăng ký lưu hành thuốc tại Việt Nam.

5. Hóa chất là nguyên liệu sản xuất thuốc bảo vệ thực vật đã có Giấy chứng nhận đăng ký thuốc bảo vệ thực vật tại Việt Nam.

Quy định này giúp doanh nghiệp rút ngắn thời gian thực hiện các thủ tục với cơ quan nhà nước, đẩy nhanh hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Nghị định 113/2017/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 25 tháng 11 năm 2017