Nhiều ngân hàng tăng mạnh lãi suất huy động
Với mong muốn bổ sung thêm nguồn vốn trung, dài hạn để phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh cuối năm, đồng thời giảm...
Bùng nổ nhượng quyền thương hiệu vào Việt Nam
Hoạt động nhượng quyền đang được giới kinh doanh vận dụng để đưa các thương hiệu nước ngoài vào thị trường Việt Nam. Ngoài lĩnh...
6 ngành kinh tế phát triển mũi nhọn khu vực miền Trung
Có 6 lĩnh vực kinh tế biển, ven biển đang được các tỉnh miền Trung tập trung phát triển và đã đạt được những kết...
91.9% doanh nghiệp lạc quan về hoạt động sản xuất 6 tháng cuối năm
Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có tỷ lệ doanh nghiệp dự báo về khối lượng sản xuất khả...
Việt Nam chuyển dần từ nhập siêu sang xuất siêu với CPTPP
Với hầu hết các hiệp định thương mại (FTA) đã ký, Việt Nam thường nhập siêu, thì nay, khi thực hiện CPTTP, trong 7 tháng...
Giải đáp pháp luật
Thu hút đầu tư tại Việt Nam
Trả lời
Sau thời gian dài nhờ sự lãnh đạo dẫn dắt của đảng và nhà nước nền kinh tế nước ta từ tự cung tự cấp chuyển dần sang nền kinh tế thị trường. Nhờ đó đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng cao và khá ổn định, nền kinh tế từ nông nghiệp chuyển dần sang phi nông nghiệp. Với tốc độ phát triển như vậy thì nhu cầu về vốn của chúng ta tăng cao, nguồn vốn huy động trong nước đã không còn đáp ứng được nhu cầu của sự phát triển. Vì vậy chúng ta đang rất cần các nguồn vốn từ nhà đầu tư nước ngoài, một trong các nguồn vốn quan trọng trong việc thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế. Hiểu được điều đó đảng và nhà nước đã mở cửa nền kinh tế từ tự cung tự cấp chuyển sang nền kinh tế thị trường tạo cơ hội cạnh tranh và cọ sát hơn đối với các doanh nghiệp trong nước và nhà đầu tư nước ngoài. Thêm vào đó nhà nước còn thực hiện một công cuộc đổi mới toàn diện,  nâng cao các điều kiện ưu đãi đầu tư, tạo môi trường pháp lý cao để thu hút các nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài vào Việt Nam. Luật đầu tư năm 1987 ra đời là một bước ngoặt trong việc thu hút vốn đầu tư của nước ngoài. Đã qua rất nhiều lần thay đổi hiện nay luật đầu tư đã trở nên hoàn thiện hơn nhằm tạo một môi trường đầu tư kinh doanh môi trường pháp lý hấp dẫn cho các doanh nghiệp và nhà đầu tư nước ngoài. Mặt khác nó cũng là nhu cầu tất yếu phù hợp với quy định chung của xã hội, thực tế đã chứng minh việc ban hành luật đầu tư đã góp phần quan trọng trong việc tạo ra những chuyển biến tích cực của tình hình đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.  
 
Thủ tục xin cấp phép đầu tư đã nhanh gọn hơn về cả thời gian và thủ tục. Danh mục ngành nghề cấm đầu tư đã được quy định rõ ràng hơn dẫn đến không có sự trùng lặp với các luật chuyên ngành khác. Bãi bỏ các ngành nghề và điều kiện đầu tư kinh doanh không hợp lý, không rõ ràng gây nên gánh nặng cho nhà đầu tư. Luật cũng đã sửa đổi một số điều kiện về đầu tư theo hướng đơn giản hóa thủ tục hành chính rút ngắn thời gian thực hiện đảm bảo hiệu quả của cơ quan nhà nước về đầu tư. Cùng với việc đơn giản hóa thủ tục hành chính, luật đầu tư đã bổ sung hoàn thiện một số những quy định nhắm nâng cao hiệu quả triển khai khi thực hiện dự án đầu tư. Nổi bật lên là một số nội dung sau: Bãi bỏ thủ tục xin cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với nhà đầu tư trong nước. Đơn giản hóa giấy tờ khi xin cấp phép đầu tư, rút ngắn thời gian thực hiện cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư từ 45 ngày xuống còn 15 ngày. Tách bạch giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp để phân biệt đầu tư theo dự án với đăng ký kinh doanh. Sau khi nhà đầu tư được thành lập doanh nghiệp tại cơ quan đăng ký kinh doanh thì được phép hoạt động như doanh nghiệp trong nước. Quy trình góp vốn mua cổ phần, phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài vào doanh nghiệp việt Nam thì không phải thực hiện thủ tục đầu tư trừ trường hợp  góp vốn mua cổ phần, vốn góp vào doanh nghiệp kinh doanh nghành nghề có điều kiện.  
Luật đầu tư 2014 có thể được coi là một bước tiến quan trọng trong việc thu hút nguồn vốn đầu tư từ tổ chức nước ngoài, phương châm đa dạng hóa đa phương hóa các quan hệ kinh tế đối ngoại, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế.
Doanh nghiệp lớn và năng lực hội nhập
Trả lời

Cộng đồng doanh nghiệp đang bước sang một giai đoạn phát triển mới, khi nền kinh tế Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng. Quá trình này đã tạo ra cơ hội và cũng không ít thách thức, buộc các doanh nghiệp Việt Nam phải nỗ lực khi tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu.’’ Nhiều thách thức đang chờ đợi.

Thách thức hội nhập

Báo cáo chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu năm 2016 của Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) cho thấy, chỉ số cạnh tranh của Việt Nam chỉ ở mức 4,31, xếp hạng 60 trong số 138 quốc gia đánh giá. Chưa so sánh với các khu vực khác trên thế giới, chỉ xét trong khu vực ASEAN cho thấy Việt Nam xếp ở vị trí thấp hơn nhiều khi so với Indonesia (41), Thái Lan xếp (34), Malaysia (25) và Singapore ở vị trí thứ 2. Đáng chú ý, với chỉ số cạnh tranh năm 2016 ở mức 60, Việt Nam đã lùi 4 bậc so với năm 2015.

Việc phân tích thế mạnh và thách thức mà các doanh nghiệp lớn Việt Nam phải đối mặt, trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, rất cần thiết, giúp họ nhận thấy những cơ hội và nguy cơ đến từ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, cũng như những điểm mạnh và điểm yếu nội tại để đưa ra được những chiến lược phù hợp.

Có hàng loạt những thách thức mà các doanh nghiệp phải đương đầu. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế, mức độ cạnh tranh quyết liệt hơn, gay gắt hơn với nhiều “đối thủ” mạnh và công cụ, thủ đoạn cạnh tranh cũng đa dạng, phức tạp hơn. Tiếp đó, khi tham gia hội nhập kinh tế quốc tế, thách thức về thị trường gay gắt hơn, cùng với đó, những đòi hỏi của thị trường, nhất là ở các nước phát triển, ngày càng chặt chẽ, phải áp dụng nhiều tiêu chuẩn trong nước và quốc tế.

Tiếp đến là những thách thức về công nghệ trong nghiên cứu, phát minh và ứng dụng các công nghệ hiện đại vào quá trình sản xuất, giám sát chất lượng sản phẩm. Hoặc, thị trường biến động rất nhanh, đòi hỏi khả năng thích ứng và linh hoạt của các doanh nghiệp Việt Nam, cùng những biện pháp quản trị rủi ro và phòng ngừa thích hợp.

Chớp cơ hội để phát triển

Bên cạnh những thách thức kể trên, các doanh nghiệp lớn Việt Nam có thể tận dụng được vô số các thuận lợi từ quá trình hội nhập.

Tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế thế giới, thị trường được mở rộng, các doanh nghiệp lớn Việt Nam có thể tiếp cận những thị trường còn nhiều tiềm năng với mức thu nhập cao như Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc… Bên cạnh đó, các doanh nghiệp lớn Việt Nam có cơ hội tham gia chuỗi giá trị và mạng lưới sản xuất khu vực, chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo hướng tích cực, tập trung nhiều hơn vào các mặt hàng chế biến, chế tạo có giá trị và hàm lượng công nghệ, giá trị gia tăng cao hơn.

Hội nhập còn giúp các doanh nghiệp thu hút vốn đầu tư thông qua thị trường tài chính, qua đó có thể tiếp cận nguồn vốn dồi dào từ bên ngoài. Ngoài hình thức vay vốn nước ngoài, nhiều doanh nghiệp lớn lựa chọn phát hành trái phiếu công ty, hoặc chuyển đổi mô hình kinh doanh để tiếp cận vốn thông qua phát hành cổ phiếu.

Tiếp đó, các doanh nghiệp lớn Việt Nam có cơ hội tiếp thu kỹ năng quản lý tiên tiến trên thế giới, tiếp cận khoa học – công nghệ hiện đại, nhằm nâng cao khả năng sản xuất và chất lượng sản phẩm, qua đó nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong sân chơi lớn toàn cầu.

Để tối ưu hóa hiệu quả kinh doanh, các doanh nghiệp lớn của Việt Nam cần nhiều giải pháp, trong đó, nâng cao giá trị gia tăng trong quá trình sản xuất – kinh doanh là yếu tố quyết định để nâng cao năng lực cạnh tranh, giúp doanh nghiệp trụ vững và phát triển.

Doanh nghiệp Việt Nam thường tập trung vào khâu sản xuất, gia công, lắp ráp, ít chú trọng tới dịch vụ, dẫn tới giá trị gia tăng và lợi nhuận thấp. Vì thế, cần chuyển hướng sang khâu nghiên cứu và pháp triển sản phẩm (R&D), marketing và phân phối, phát triển dịch vụ để tạo thêm giá trị gia tăng cho doanh nghiệp.

Các doanh nghiệp lớn Việt Nam cần tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu với các sản phẩm công nghệ cao, hàm lượng chất xám lớn, tạo nên giá trị gia tăng cao. Ngoài ra, cần nỗ lực nâng cao năng lực, mở rộng sản xuất để thu hút vốn đầu tư nước ngoài, thông qua đó, cải tiến công nghệ, đào tạo nhân lực, củng cố thương hiệu.

Để hoạt động có hiệu quả, mang lại lợi ích cho nền kinh tế, các doanh nghiệp lớn cần phải tự mình khắc phục những yếu điểm nội tại, nâng cao năng lực cạnh tranh. Song song đó, cần phải khẳng định thêm vai trò của quản lý nhà nước với những chính sách hỗ trợ, đầu tư, phát triển hạ tầng… tạo động lực quan trọng giúp các doanh nghiệp lớn Việt Nam tự tin vươn ra biển lớn.

                                                                                                                                                 Theo Baodautu.vn

Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp khi hội nhập quốc tế
Trả lời

Năng lực cạnh tranh là sức mạnh của doanh nghiệp được thể hiện trên thương trường. Sự tồn tại và sức sống của một doanh nghiệp thể hiện trước hết ở năng lực cạnh tranh. Để từng bước vươn lên giành thế chủ động trong quá trình hội nhập, nâng cao năng lực cạnh tranh chính là tiêu chí phấn đấu của các doanh nghiệp Việt Nam.

Trước thời kỳ đổi mới, các khái niệm doanh nghiệp, doanh nhân hầu như không được sử dụng ở nước ta. Trong thời kỳ đổi mới, nhất là khi đất nước thực hiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế, các khái niệm doanh nghiệp, doanh nhân ngày càng được sử dụng phổ biến trong lĩnh vực khoa học, kinh tế… và trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Trong bối cảnh của toàn cầu hóa, khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới, các doanh nghiệp Việt Nam phải đối mặt với các đối thủ mới (các công ty xuyên quốc gia, đa quốc gia có tiềm lực tài chính, công nghệ, kinh nghiệm và năng lực cạnh tranh cao), phải cạnh tranh quyết liệt trong điều kiện mới (thị trường toàn cầu với những nguyên tắc nghiêm ngặt của định chế thương mại và luật pháp quốc tế). Nói cách khác, các doanh nghiệp Việt Nam đang phải đối mặt với những thách thức thật sự to lớn.

Thứ nhất, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam hiện còn rất hạn chế. Bởi lẽ, đa số các doanh nghiệp đều có quy mô nhỏ và ít vốn. Theo điều tra mới nhất hiện có 51,3% doanh nghiệp có dưới 10 người lao động, 44% doanh nghiệp có từ 10 đến 200 lao động, chỉ có 1,43% doanh nghiệp có từ 200 đến 300 lao động, 42% doanh nghiệp có vốn dưới 1 tỉ đồng, 37% doanh nghiệp có vốn từ 1 tỉ đến 5 tỉ đồng và chỉ có 8,18% doanh nghiệp có vốn từ 5 tỉ đến 10 tỉ đồng.

Trong điều kiện quy mô doanh nghiệp nhỏ, vốn ít các doanh nghiệp Việt Nam lại gặp một thách thức rất lớn đó là chất lượng nhân lực của doanh nghiệp thấp. Đội ngũ chủ doanh nghiệp, cán bộ quản lý doanh nghiệp còn rất thiếu kiến thức quản trị và kỹ năng kinh nghiệm quản lý. Kết quả điều tra hơn 63.000 doanh nghiệp trên cả nước cho thấy: 43,3% lãnh đạo doanh nghiệp có trình độ học vấn dưới trung học phổ thông, số chủ doanh nghiệp có trình độ thạc sỹ trở lên chỉ có 2,99%. Có thể nói, đa số các chủ doanh nghiệp và giám đốc doanh nghiệp tư nhân chưa được đào tạo một cách bài bản về kiến thức kinh doanh, quản lý, kinh tế – xã hội, văn hóa, luật pháp… và kỹ năng quản trị kinh doanh, đặc biệt là kỹ năng kinh doanh trong điều kiện hội nhập quốc tế. Điều đó được thể hiện rõ trong việc nhiều doanh nghiệp chưa chấp hành tốt các quy định về thuế, quản lý nhân sự, quản lý tài chính, chất lượng hàng hóa, sở hữu công nghiệp…

Thứ hai, sự lạc hậu về khoa học – công nghệ của các doanh nghiệp Việt Nam. Hiện nay, đa số các doanh nghiệp nước ta đang sử dụng công nghệ lạc hậu so với mức trung bình của thế giới từ 2 đến 3 thế hệ, 76% máy móc, dây chuyền công nghệ được sản xuất từ những năm 1950 – 1960, 75% số thiết bị đã hết khấu hao, 50% số thiết bị là đồ tân trang… Tóm lại, máy móc, thiết bị đang được sử dụng ở các doanh nghiệp Việt Nam chỉ có 10% hiện đại, 38% trung bình và 52% là lạc hậu và rất lạc hậu; tỷ lệ sử dụng công nghệ cao mới chỉ có 2% (tỷ lệ này ở Thái Lan là 31%, Ma-lai-xi-a là 51% và Xin-ga-po là 73%). Trong khi đó, các doanh nghiệp nước ta đầu tư cho đổi mới công nghệ rất thấp, chi phí khoảng 0,2% – 0,3% tổng doanh thu.

Thứ ba, hạn chế về khâu nguyên vật liệu và sự yếu kém về thương hiệu các doanh nghiệp. Đa số các doanh nghiệp Việt Nam phải nhập khẩu nguyên vật liệu cho sản xuất kinh doanh. Trong những năm qua, nhiều sản phẩm xuất khẩu và sản phẩm có sự tăng trưởng cao (hàng da giày, dệt may, chế biến thực phẩm, đồ uống, sản phẩm thép và kim loại màu, sản phẩm nhựa, hàng điện tử, ô tô, xe máy…) đều phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu bán thành phẩm nhập khẩu từ nước ngoài. Trong khi đó, giá cả các loại nguyên vật liệu này trên thế giới có xu hướng gia tăng, làm cho nhiều nhóm sản phẩm có tỷ trọng chi phí nguyên vật liệu khá cao, chiếm hơn 60% giá thành sản phẩm.

Mặt khác, rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam chưa xây dựng được thương hiệu mạnh, chưa khẳng định được uy tín chất lượng và năng lực cạnh tranh trên thị trường khu vực và quốc tế. Trên thực tế, trong nhiều sản phẩm của Việt Nam yếu tố cấu thành của tri thức, công nghệ thấp, trong khi yếu tố sức lao động và nguyên vật liệu cao… Điều đó làm cho sức cạnh tranh thấp, chất lượng sản phẩm không có ưu thế rõ rệt trên thị trường.

Thứ tư, chiến lược phân phối, chiến lược truyền thông và xúc tiến thương mại của các doanh nghiệp Việt Nam còn nhiều hạn chế. Đa số các doanh nghiệp Việt Nam có quy mô vừa và nhỏ nên hạn chế tầm hoạt động và mạng lưới phân phối sản phẩm. Trong khi đó, hoạt động xúc tiến thương mại còn giản đơn, sơ lược và không có hiệu quả thiết thực. Có rất ít doanh nghiệp xây dựng được chương trình xúc tiến, giới thiệu một cách bài bản về sản phẩm cho khách hàng. Hầu hết các doanh nghiệp chưa nhận thức đúng được giá trị và ý nghĩa của xúc tiến thương mại, quảng cáo…Vì vậy, chi phí cho quảng cáo rất thấp, chỉ dưới 1% doanh thu (tỷ lệ này của các doanh nghiệp nước ngoài chiếm khoảng 10% đến 20% doanh thu).

Những giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam.

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, khi Việt Nam là thành viên của WTO thì việc nâng cao năng lực cạnh tranh trở thành vấn đề sống còn của các doanh nghiệp.

Một là, nâng cao trình độ học vấn, hiểu biết về kinh tế – xã hội, văn hóa, luật pháp… cho các chủ doanh nghiệp, các bộ quản lý và người lao động trong doanh nghiệp. Như đã nhận xét ở phần trên, hiện còn tới 43,3% chủ doanh nghiệp có trình độ học vấn dưới trung học phổ thông, số có trình độ thạc sỹ trở lên chỉ chiếm 2,99%. Vì vậy, giáo dục – đào tạo cần trang bị học vấn ở trình độ cử nhân và những tri thức cơ bản về kinh tế – xã hội, văn hóa, pháp luật… cho các chủ doanh nghiệp, giám đốc, cán bộ quản lý doanh nghiệp và những người lao động.

Hai là, tăng cường năng lực của chủ doanh nghiệp, giám đốc và cán bộ quản lý trong các doanh nghiệp về quản trị kinh doanh, quản trị chiến lược. Trong mọi điều kiện, doanh nhân cần thường xuyên cập nhật tri thức mới, những kỹ năng cần thiết (kỹ năng quản trị trong cạnh tranh, kỹ năng lãnh đạo doanh nghiệp, kỹ năng quản lý sự biến đổi, kỹ năng thuyết trình, kỹ năng đàm phán và giao tiếp v.v…) để có đủ sức cạnh tranh trên thị trường và tiếp cận nền kinh tế tri thức.

Để có đủ sức cạnh tranh lâu dài và có thể tự tin bước vào kinh tế tri thức, các doanh nghiệp cần phải xây dựng chiến lược phát triển bền vững. Trong đó, đặc biệt chú trọng đến chiến lược cạnh tranh và những kỹ năng mang tính chiến lược như: Quản trị chiến lược, quản trị rủi ro, và tính nhạy cảm trong quản lý, phân tích kinh doanh, dự báo và định hướng chiến lược phát triển…

Ba là, hiện nay đa số các doanh nghiệp Việt Nam đều có quy mô nhỏ, vốn ít, trình độ học vấn, kiến thức kinh doanh, hiểu biết luật pháp (mà chú trọng là luật pháp quốc tế) không cao, trình độ tay nghề của người lao động thấp… Trong điều kiện này, để thực hiện chiến lược cạnh tranh cần phải và nhất thiết phải thực hiện phương châm liên kết và hợp tác để nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường. Sự liên kết và hợp tác không phải là phép tính cộng tổng số các doanh nghiệp, mà chính là tạo ra sức mạnh bội phần của các nhóm, các tập đoàn kinh tế cùng sản xuất kinh doanh một (hoặc một số) sản phẩm nhất định và cùng thực hiện chiến lược thương hiệu, xúc tiến thương mại và quảng bá sản phẩm trên thị trường.

Bốn là, tăng cường sự hỗ trợ của chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước về vốn, cơ chế, chính sách, luật pháp, xúc tiến thương mại, giáo dục – đào tạo, tư vấn về thiết bị, công nghệ hiện đại… cho các doanh nghiệp. Đồng thời, tăng cường hơn nữa vai trò của các hiệp hội, các hội, các câu lạc bộ giám đốc và các tổ chức chuyên môn, nghiệp vụ đối với sự phát triển của các doanh nghiệp.

Năm là, xây dựng văn hóa doanh nghiệp. Văn hóa có vai trò quan trọng trong sự phát triển, vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển kinh tế – xã hội. Từ xưa, cha ông ta đã đúc kết: “Phi trí bất hưng, phi thương bất phú, phi công bất hoạt”. Ngày nay, trong xã hội hiện đại, quan niệm về giá trị, về lao động sáng tạo, ý thức cạnh tranh, ý chí làm giàu, sự tín nhiệm xã hội… có ý nghĩa to lớn đối với việc nâng cao năng lực cạnh tranh và xây dựng văn hóa doanh nghiệp.

Văn hóa doanh nghiệp, nói một cách khái quát là “đạo làm giàu”, tức là làm giàu một cách có văn hóa: Làm giàu cho bản thân, làm giàu cho doanh nghiệp, làm giàu cho xã hội và cho đất nước. Sự giàu có về trí tuệ, về của cải và tính năng động sáng tạo là những giá trị xã hội mà mỗi doanh nhân, mỗi doanh nghiệp phải có. Vì vậy, xây dựng văn hóa doanh nghiệp tạo ra môi trường văn hóa lành mạnh, tích cực luôn là động lực thúc đẩy sức sáng tạo và sức cạnh tranh của các doanh nghiệp./.

                                                                                                                                                                       Sưu tầm.

Hội nhập quốc tế nước ta giai đoạn mới –  Một số vấn đề then chốt
Trả lời

Chủ trương của Đại hội Đảng lần thứ XI đánh dấu giai đoạn mới của hội nhập quốc tế nước ta nhằm phục vụ phát triển và nâng cao vị thế đất nước, triển khai đường lối đối ngoại. Xuất phát từ xu thế khách quan và nhằm đáp ứng nhu cầu mới của đất nước, hội nhập quốc tế trong giai đoạn mới đặt ra những yêu cầu hoàn toàn mới đối với các cơ quan, hiệp hội, địa phương và doanh nghiệp nước ta. Do đó, vấn đề cần thiết là nhận thức đầy đủ hơn tính tất yếu của hội nhập, liên kết quốc tế, nội dung hội nhập trong thời kỳ mới, cũng như thời cơ và thách thức. Từ đó, xác định các giải pháp để tham gia, đóng góp đối với tiến trình hội nhập quốc tế của đất nước.

I. Đặc điểm của hội nhập quốc tế nước ta giai đoạn mới

1.1. Hội nhập quốc tế của nước ta trong giai đoạn mới diễn ra trong bối cảnh tình hình quốc tế và nước ta hiện nay hoàn toàn khác trước, kể cả giai đoạn từ khi nước ta gia nhập WTO năm 2007 đến nay.

Cuộc khủng hoảng tài chính – kinh tế toàn cầu 2008 – 2009 đã thúc đẩy nhanh những chuyển dịch trên phạm vi toàn cầu cũng như ở từng nước, từng khu vực tạo nên tương quan sức mạnh kinh tế giữa các trung tâm. Xu hướng đa trung tâm, đa tầng nấc đang ngày càng được khẳng định. Nền tảng kinh tế thế giới có những chuyển dịch căn bản, toàn cầu hóa và công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ.

Xu hướng hội nhập, liên kết kinh tế đa tầng nấc, đặc biệt là các hiệp định thương mại tự do (FTA), gia tăng mạnh. Nổi bật là các hiệp định FTA thế hệ mới phát triển nhanh hơn, ngày càng sâu rộng, gắn kết với phát triển bền vững và ứng phó với các thách thức toàn cầu. Châu Á – Thái Bình Dương đóng vai trò đầu tàu trong tăng trưởng và liên kết toàn cầu. Hàng loạt các đàm phán FTA thế hệ mới tạo ra những bước ngoặt trong liên kết kinh tế ở hầu khắp các khu vực, tiêu biểu là Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) kết thúc đàm phán 10/2015, Hiệp định đối tác thương mại – đầu tư xuyên Đại Tây Dương Hoa Kỳ – EU (TTIP), Khuôn khổ đối tác kinh tế khu vực toàn diện (RCEP) đều dự kiến kết thúc vào năm 2016.

1.2. Với những thành tựu của 30 năm đổi mới và chủ trương hội nhập quốc tế toàn diện, trong đó hội nhập kinh tế quốc tế là trọng tâm, hội nhập quốc tế trở thành nhân tố quan trọng hơn bao giờ hết để tạo thế và lực của đất nước trong cục diện đang định hình. Do đó, hội nhập quốc tế đang đặt ra những yêu cầu hoàn toàn mới.

Trước hết, khác với các giai đoạn trước, hội nhập quốc tế giai đoạn hiện nay đòi hỏi đổi mới tư duy, chuyển từ “mở rộng quan hệ, gia nhập và tham gia hợp tác quốc tế” sang “chủ động đóng góp, tích cực khởi xướng và tham gia định hình các cơ chế hợp tác”. Với tầm và quy mô hội nhập hiện nay, các mối quan hệ kinh tế quốc tế của nước ta không đơn thuần là “hội nhập” mà ở tầm “liên kết”.

Đoàn Việt Nam tháp tùng Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tham dự HNCC ASEM 10, Milan, Italy, ngày 16 – 17/10/2014

Thứ hai, cần tăng cường cách tiếp cận đa ngành, liên ngành và đa phương. Đây là xu thế khách quan trong bối cảnh toàn cầu hóa phát triển mạnh mẽ, các nội hàm liên kết trở nên sâu rộng hơn, với nhiều đối tác hơn, mang tính liên ngành, đa lĩnh vực, đa tầng nấc, ở mọi cấp độ tiểu vùng, khu vực, liên khu vực và toàn cầu.

Thứ ba, phát triển bền vững, sáng tạo và ứng phó với các thách thức toàn cầu là nội hàm quan trọng của hội nhập quốc tế. Điều này là phù hợp với xu thế chuyển đổi sang mô hình bền vững và sáng tạo, tăng trưởng xanh, từ tư duy kinh tế, tư duy phát triển, cách tiếp cận đến cách thức quản trị kinh tế, chính trị, xã hội và an ninh trên mọi tầng nấc.

Thứ tư, để có thể tận dụng cơ hội, tiềm năng của liên kết quốc tế về công nghệ, quản lý, nguồn lực và tham gia vào tầng nấc cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu, cần có sự đột phá trong cải cách, đổi mới trong nước, nhất là về thể chế, khuôn khổ pháp lý, năng lực thực thi hội nhập quốc tế, trình độ, kỹ năng, ngoại ngữ của nguồn nhân lực. Cùng với đó là việc hình thành các chính sách tham gia hội nhập, liên kết quốc tế trong từng lĩnh vực và thiết lập các cơ chế chỉ đạo, phối hợp phù hợp với tình hình mới.

1.3. Theo đó, hội nhập quốc tế nước ta trong 5 – 10 năm tới sẽ tập trung vào các trọng tâm sau, trong đó 2015 và 2018 là những giai đoạn quan trọng:

Nỗ lực hoàn tất các cam kết quốc tế lớn có thời hạn vào 2015 – 2020 nhằm nâng tầm hội nhập quốc tế, trong đó ưu tiên: (i) Cam kết xây dựng Cộng đồng ASEAN, Tầm nhìn ASEAN đến năm 2025; (ii) Cam kết gia nhập WTO (thời hạn 31/12/2018), các Mục tiêu Bô-go của APEC về tự do hóa thương mại và đầu tư vào năm 2020…

Hoàn tất đàm phán và thực thi các Hiệp định FTA, trong đó thúc đẩy sớm ký kết, phê chuẩn và thực thi TPP, các FTA với Liên minh Kinh tế Á – Âu, EU và Hàn Quốc; hoàn tất đàm phán RCEP và FTA với Khối thương mại tự do châu Âu (EFTA); các cam kết trong 8 FTA đã ký… Các FTA của ASEAN (AFTA), ASEAN với Trung Quốc, Hàn Quốc có thời hạn cắt giảm thuế năm 2018.

Nâng tầm hội nhập quốc tế trên các tầng nấc, cơ chế liên kết theo hướng đẩy mạnh chủ động đóng góp, tiếp cận đa ngành, đa phương, đề cao nội hàm phát triển, nhất là trong các khuôn khổ đa phương và trong các vấn đề mà ta quan tâm, có lợi ích như đối tác phát triển, giảm nghèo, an ninh nguồn nước, an ninh lương thực, biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường, an ninh hàng hải…

Nỗ lực tạo đột phá trong vận động các đối tác, nhất là các đối tác lớn, sớm công nhận quy chế kinh tế thị trường của ta trước thời hạn 2018 (là thời điểm kinh tế nước ta được công nhận là nền kinh tế thị trường theo thỏa thuận gia nhập WTO). Xử lý hiệu quả tranh chấp, vướng mắc kinh tế, thương mại nhằm bảo đảm lợi ích của người lao động và doanh nghiệp.

Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trịnh Đình Dũng chủ trì buổi làm việc với Bộ trưởng Hợp tác phát triển quốc tế Phần Lan Heidi Hautala ngày 24/01/2013

II. Thời cơ và thách thức của hội nhập quốc tế giai đoạn mới

2.1. Thời cơ và thuận lợi

Với triển vọng hoàn tất đàm phán và triển khai Hiệp định FTA trong giai đoạn đến năm 2020, lần đầu tiên nước ta sẽ trở thành một mắt xích quan trọng của mạng lưới liên kết kinh tế rất rộng lớn với tất cả các trung tâm và các nền kinh tế hàng đầu thế giới. Các địa phương, hiệp hội và doanh nghiệp Việt Nam đứng trước những thuận lợi lớn chưa từng có để mở rộng thị trường xuất khẩu, với tư cách là một đối tác bình đẳng, không bị phân biệt đối xử, theo mức thuế ưu đãi, thậm chí là 0%, với 56 đối tác mà ta có hiệp định FTA. Ðây là những yếu tố quan trọng để thúc đẩy phát triển sản xuất hàng hóa, dịch vụ của nước ta, tạo thêm việc làm, góp phần tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô, tái cơ cấu nền kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng.

Hội nhập quốc tế sâu rộng, tạo động lực mới để thúc đẩy đổi mới, hoàn thiện môi trường pháp lý, thể chế kinh tế thị trường, cải cách hành chính, chính sách kinh tế, cơ chế quản lý trong nước ngày càng minh bạch hơn, làm thông thoáng môi trường đầu tư, kinh doanh trong nước, thúc đẩy mạnh mẽ đầu tư của các thành phần kinh tế, các nhà đầu tư trong và ngoài nước, đặc biệt là các công ty xuyên quốc gia có tiềm lực tài chính lớn, công nghệ cao, trình độ quản lý tiên tiến.

Hội nhập quốc tế sâu rộng tạo thời cơ, thuận lợi mới để triển khai chủ trương hội nhập quốc tế toàn diện, làm sâu sắc và nâng tầm các quan hệ đối tác, tạo thế đan xen lợi ích dài hạn với tất cả các trung tâm kinh tế – chính trị hàng đầu thế giới, đem lại thế và lực mới cho đất nước, củng cố môi trường hòa bình, ổn định.

Với chủ trương “chủ động đóng góp, tích cực khởi xướng và tham gia định hình các cơ chế hợp tác”, nước ta có điều kiện cùng các nước hoạch định các chính sách toàn cầu, nhất là về kinh tế, thương mại, thúc đẩy hình thành một trật tự kinh tế mới công bằng hơn, trong đó có điều kiện thuận lợi để đấu tranh bảo vệ quyền lợi của địa phương, hiệp hội và doanh nghiệp Việt Nam trong tranh chấp thương mại quốc tế.

Các hiệp hội và doanh nghiệp trong nước có điều kiện thuận lợi hơn để tiếp cận nguồn nguyên liệu đầu vào với giá cạnh tranh hơn, dịch vụ hỗ trợ tiện lợi hơn, chất lượng cao hơn, tiết kiệm chi phí sản xuất…, nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh. Người dân trong nước có thêm nhiều sự lựa chọn phong phú về hàng hóa, dịch vụ với chất lượng cao và giá cả cạnh tranh.

2.2. Thách thức và khó khăn

Thách thức lớn và trực diện nhất là sức ép cạnh tranh gay gắt hơn trên cả ba cấp độ sản phẩm, doanh nghiệp và quốc gia. Các sản phẩm và doanh nghiệp của ta sẽ phải cạnh tranh với sản phẩm và doanh nghiệp nước ngoài không chỉ trên thị trường quốc tế mà ngay trên thị trường nội địa. Chính phủ ta phải cạnh tranh với chính phủ các nước trong cải thiện môi trường thu hút đầu tư, nguồn nhân lực… Các lĩnh vực kinh tế vốn được bảo hộ bị thách thức gay gắt do việc cắt giảm thuế quan, như ngành sản xuất ô-tô, mía đường, gạo, xăng dầu…

Các Bộ, ngành, hiệp hội và doanh nghiệp đứng trước đòi hỏi phải hiểu biết nhiều và vận dụng hiệu quả các luật lệ, quy định kinh tế, thương mại cũng như văn hóa kinh doanh của nhiều nước và nhiều thị trường hơn trước, đặc biệt trong trường hợp xảy ra tranh chấp thương mại. Các FTA mới đòi hỏi phải điều chỉnh luật lệ, chính sách không chỉ về kinh tế, thương mại mà cả các vấn đề phi thương mại, như quyền của người lao động, tiêu chuẩn lao động, tự do hiệp hội – công đoàn, môi trường, doanh nghiệp nhà nước, mua sắm chính phủ…

Lễ kỷ niệm 20 năm Việt Nam tham gia ASEAN, Hà Nội , ngày 28/7/2015

Với xu thế chuyển dịch lao động giữa các nước tham gia FTA, thách thức đối với các cơ quan, doanh nghiệp, hiệp hội, người lao động trong nước là sức ép về trình độ, tri thức và tay nghề, nguy cơ tranh chấp quốc tế (các FTA mới có quy định cao về giải quyết tranh chấp)… Trong khi lực lượng lao động nước ta chưa qua đào tạo còn chiếm tỉ trọng lớn, số lao động có trình độ chuyên môn và tay nghề cao còn thiếu; Đội ngũ cán bộ, công chức nước ta thiếu và hạn chế về năng lực hội nhập; thiếu đội ngũ luật sư giỏi để giải quyết các tranh chấp thương mại và tư vấn cho các doanh nghiệp.

Hội nhập quốc tế sâu rộng hơn, những biến động trên thị trường tài chính, tiền tệ, thị trường hàng hóa quốc tế, xung đột, tranh chấp sẽ tác động nhanh hơn, mạnh hơn đến nền kinh tế nước ta, ảnh hưởng tiêu cực đến sự ổn định và phát triển bền vững của ta; thách thức về bảo đảm an ninh, giữ gìn bản sắc dân tộc, sự phát triển không đều…

Những yếu kém, bất cập trong nước bộc lộ rõ hơn và nếu không được xử lý kịp thời và thỏa đáng thì sẽ làm gia tăng nguy cơ tụt hậu của nước ta. Chuyển biến trong tư duy trong nước chưa kịp với tình hình quốc tế và tốc độ hội nhập quốc tế của nước ta. Khu vực tư nhân còn manh mún, quy mô nhỏ, thiếu nguồn vốn, công nghệ, kỹ năng quản trị… Các hiệp hội, địa phương và doanh nghiệp hiểu và tham gia hội nhập rất hạn chế, thụ động. Cơ chế điều phối còn bất cập.

III. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế và tham gia các FTA

Đổi mới cách nghĩ, cách làm trong tham gia các hoạt động hội nhập, liên kết quốc tế theo hướng “chủ động tham gia, tích cực đề xuất và đóng góp”. Tư duy mới là nâng lên tầm khu vực và toàn cầu – đó là tư duy của một Cộng đồng ASEAN 600 triệu dân, một thị trường, không gian kinh tế rộng lớn của 56 đối tác FTA đại diện 65% dân số, 95% GDP và 84% thương mại thế giới. Cách làm mới là liên kết, hợp tác liên ngành, đa ngành và đa phương, bền vững, nhằm phát huy lợi thế cạnh tranh của địa phương, doanh nghiệp trong quá trình cạnh tranh gay gắt với các đối tác lớn, mạnh hơn.

Đẩy mạnh phổ biến nội dung các cam kết hội nhập của ta, nhất là các hiệp định FTA, chính sách, biện pháp cụ thể để tận dụng thời cơ, xử lý thách thức của hội nhập.

Hoàn thiện thể chế pháp lý hướng tới hài hòa hóa chính sách với các cam kết quốc tế; hình thành các chiến lược lớn về hội nhập quốc tế, tham gia FTA; rà soát và đẩy mạnh triển khai lộ trình thực hiện các cam kết quốc tế… Hiện nay rất cần hiệp hội và doanh nghiệp đóng góp ý kiến, đề xuất để hình thành các yêu cầu, cam kết của ta trong tham gia các thỏa thuận quốc tế, các đàm phán FTA.

Đẩy mạnh nâng cao năng lực thực thi hội nhập quốc tế; tăng cường xây dựng nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao, có tri thức, kiến thức, kỹ năng hội nhập và kỹ năng nghề, đồng thời các cơ quan, hiệp hội cần đẩy mạnh đổi mới quản lý phù hợp tình hình, nhất là trong tình hình có nhiều yếu tố bất ổn, bất định. Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn cán bộ, đội ngũ luật sư, đào tạo nghề, gắn với nhu cầu xã hội và yêu cầu của hội nhập quốc tế nước ta.

Đổi mới cách thức, kiện toàn cơ chế phối hợp liên ngành, phù hợp với những chuyển biến nhanh của tình hình và hội nhập quốc tế nước ta. Công tác chuẩn bị trong nước để hội nhập quốc tế đang có những bước chuyển quan trọng, nổi bật là việc ban hành Nghị quyết 22-NQ/TW của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế và thành lập Ban Chỉ đạo quốc gia về hội nhập quốc tế do Thủ tướng Chính phủ đứng đầu, trong đó đề ra các định hướng lớn về hội nhập và xác định hội nhập kinh tế là trọng tâm.

                                                                                                                 Bài đăng trên Tạp chí kiến trúc số 11/2015 

Doanh nghiệp nhà nước trong thời kì hội nhập kinh tế thế giới
Trả lời

Doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò quan trọng trong quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế. Hiện nay, nước ta đã tham gia Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) và Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC), đế DNNN tận dụng tốt các cơ hội phát triển, tiếp tục khẳng định vị thế, cần có những nghiên cứu, đánh giá hiệu quả hoạt động, đưa ra giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước trong bối cảnh phát triển mới.

Đóng góp cho nền kinh tế

Nhằm mục tiêu thúc đẩy doanh nghiệp nhà nước (DNNN) hoạt động hiệu quả, đóng góp nhiều hơn cho nền kinh tế, chủ trương đổi mới DNNN của Đảng được đề ra từ Hội nghị Trung ương 3, khóa VI và liên tục được nhấn mạnh tại các kỳ đại hội. Hội nghị Trung ương 3, khóa IX đã ra Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 24/9/2001 về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả DNNN; Hội nghị Trung ương 9, khóa IX chủ trương tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, nâng cao rõ rệt hiệu quả và sức cạnh tranh của DNNN với mục tiêu “Đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa (CPH) và mở rộng diện các DNNN cần CPH kể cả những DN lớn và một số tổng công ty kinh doanh có hiệu quả…”. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng ngày 28/1/2016 tiếp tục khẳng định chủ trương tái cơ cấu DNNN trong giai đoạn 2016-2020.   

 

Thực hiện các chủ trương của Đảng, Chính phủ cũng đã ban hành nhiều văn bản quan trọng nhằm đổi mới DNNN nói chung và nâng cao hiệu quả hoạt động của khối DN này nói riêng. Theo đó, ngày 21/4/1998, Chính phủ ban hành Chỉ thị số 20/CT-TTg về đẩy mạnh sắp xếp và đổi mới DNNN; Nghị định 64/2002/NĐ-CP về việc chuyển DNNN thành công ty cổ phần, thay thế Nghị định 44/1998/NĐ-CP; Quyết định số 50/2002/QĐ-CP về ban hành tiêu chí, danh mục phân loại DNNN… Đặc biệt, ngày 17/07/2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 929/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án “Tái cơ cấu DNNN, trọng tâm là tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước giai đoạn 2011 – 2015”.   

 

Về phía Bộ Tài chính, cũng đã ban hành các cơ chế, chính sách quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất – kinh doanh tại DN, tổ chức và hoạt động của DN, quản lý vốn và tài sản nhà nước đầu tư tại DN… đã góp phần hoàn thiện thể chế quản lý của Nhà nước cũng như hoạt động của các DNNN trong quá trình tái cơ cấu, trong đó phải kể đến các văn bản như: Nghị định số 87/2015/NĐ-CP ngày 6/10/2015 quy định về giám sát đầu tư vốn nhà nước vào DN, Nghị định số 91/2015/NĐ-CP ngày 13/10/2015 về quản lý, sử dụng vốn, tài sản tại DNNN và DN có vốn nhà nước, Nghị định số 106/2015/NĐ-CP ngày 23/10/2015 quy định về quản lý người đại diện phần vốn nhà nước. Có thể nói, việc nỗ lực hoàn thiện cơ sở pháp lý đã giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN trong thời gian qua. Theo đó, hoạt động theo Luật DN đã xác định rõ hơn địa vị pháp lý, mở rộng quyền tự chủ, tăng quyền hạn và trách nhiệm của bộ máy quản lý, điều hành. Quyền tự chủ của DNNN đã thay đổi đáng kể so với trước. Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của bộ máy quản lý, điều hành đã mở rộng, bao gồm toàn bộ quyền điều hành kinh doanh và hầu hết quyền quản lý kinh doanh, định hướng chiến lược, kế hoạch dài hạn, trung hạn, hàng năm… và một phần quyền của sở hữu Nhà nước.

 

Việc chuyển DNNN sang hoạt động theo hình thức công ty mẹ – công ty con và hình thành tập đoàn kinh tế đã tạo ra bước phát triển quan trọng cho nền kinh tế, tạo ra mối liên kết hợp tác kinh doanh giữa các DN thành viên với nhau và với công ty mẹ – công ty con trên quan hệ bình đẳng, vừa chịu trách nhiệm vừa chia sẻ thành quả hoạt động, tạo nên hiệu quả kinh doanh cao hơn. Bên cạnh đó, chủ trương CPH đã góp phần thu hút một lượng vốn tương đối lớn từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để mở rộng quy mô sản xuất, đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao sức cạnh tranh của DN.

 

Về cơ bản, vốn nhà nước đầu tư vào các DNNN được bảo toàn và phát triển; tỷ lệ nợ phải trả/vốn chủ sở hữu tại đại đa số tập đoàn, tổng công ty vẫn nằm trong giới hạn cho phép. Quy mô của các DNNN về vốn, lao động, tài sản cố định, cơ sở vật chất kỹ thuật… đều cao hơn khu vực DN ngoài nhà nước. Hiệu quả hoạt động, năng lực cạnh tranh của DNNN được nâng lên; cơ bản đáp ứng được nhu cầu thiết yếu cho quốc phòng, an ninh; trở thành một trong những công cụ quan trọng để Nhà nước điều tiết vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội.      

 

Thực tế, trong những năm qua, DNNN đã có những đóng góp quan trọng đắc lực cho nền kinh tế. Theo Tổng cục Thống kê, tuy chỉ chiếm chưa đến 1% về số lượng DN nhưng DNNN chiếm 30% vốn kinh doanh trong nền kinh tế và là thành phần kinh tế chủ đạo với vốn đầu tư tăng gấp 5 lần giai đoạn 2001-2011. Năm 2005, DNNN chỉ chiếm 3,6% về số lượng DN, tỷ lệ vốn nắm giữ 54,43%, đến năm 2010 tỷ lệ DN còn 1,2% với vốn nắm giữ 34,13%. Đến năm 2012, DNNN còn 0,93% với tỷ lệ vốn nắm giữ 32,31%. Tính bình quân giai đoạn 2008-2012, DNNN chiếm 36,68% tổng vốn, đóng góp 33,3% cho GDP, tạo việc làm cho 18,61% lực lượng lao động.

 

Những bất cập trong hoạt động.

Thời gian qua, dù được triển khai quyết liệt song tiến độ CPH vẫn chưa đạt như kế hoạch đề ra. Theo báo cáo của Bộ Tài chính, kế hoạch giai đoạn 2011 – 2015, cả nước dự kiến CPH 538 DN, riêng giai đoạn 2014 – 2015 CPH 432 DN. Về kết quả thực hiện cho thấy, từ năm 2011 đến 2013 CPH 106 DN, năm 2014 đã CPH 143 DN, năm 2015 CPH được trên 240 DN. Như vậy, lũy kế giai đoạn 2011 – 2015 đã CPH được 422/538 DN. Riêng 2 năm 2014 – 2015 CPH được trên 380 DN.

Về tình hình thoái vốn đầu tư ngoài ngành, giai đoạn 2014- 2015, các tập đoàn, tổng công ty nhà nước phải thực hiện thoái vốn vào 5 lĩnh vực nhạy cảm trong giai đoạn 2014 – 2015 là 25.218.995 triệu đồng (trong đó: lĩnh vực chứng khoán là 584.514 triệu đồng, lĩnh vực ngân hàng tài chính là 15.018.472 triệu đồng, lĩnh vực bảo hiểm là 843.294 triệu đồng, lĩnh vực bất động sản là 8.056.131 triệu đồng, quỹ đầu tư là 716.584 triệu đồng). Lũy kế đến tháng 25/12/2015, các đơn vị đã thoái được 9.924 tỷ đồng, thu về 15.004 tỷ đồng, tăng 1,5 lần so với giá trị sổ sách.       

 

Trong đó: Lĩnh vực chứng khoán thoái được 156.416 triệu đồng, thu về 144.573 triệu đồng; Lĩnh vực ngân hàng tài chính là 1.603.013 triệu đồng, thu về 852.247 triệu đồng; Lĩnh vực bảo hiểm thoái được 111.711 triệu đồng, thu về 135.130 triệu đồng; Lĩnh vực bất động sản thoái được 2.930.039 triệu đồng, thu về 3.330.191 triệu đồng; Các quỹ đầu tư thoái được 173.929 triệu đồng, thu về 173.929 triệu đồng… Như vậy, số vốn đầu tư vào 5 lĩnh vực nhạy cảm cần phải thoái tiếp còn rất lớn. Đây đang là bài toán khó trong bối cảnh kinh tế – tài chính toàn cầu đang đối mặt với không ít thách thức, thị trường chứng khoán trong nước vẫn gặp nhiều khó khăn trong khi việc thoái vốn vẫn phải đảm bảo được hiệu quả, tránh tình trạng thất thoát nguồn lực nhà nước.       

 

Theo số liệu công bố tại Diễn đàn Đối tác phát triển Việt Nam (VDPF) 2015 vừa diễn ra tại Hà Nội, hiện nay, tổng vốn nhà nước ở trong các DNNN có giá trị khoảng 55 tỷ USD và tổng giá trị tài sản của các DNNN nắm giữ là khoảng 130 tỷ USD. Ngoài hơn 800 DNNN chưa CPH, Chính phủ đang giữ phần vốn chi phối tại nhiều DN đã CPH, nên những DN này chưa thay đổi thực chất về quản trị.       

 

Theo nhận định của VDPF, vấn đề quản trị, giám sát và cơ chế khuyến khích yếu đã khiến cho các DNNN tiếp tục có những quyết định kinh doanh kém, khiến năng suất trung bình của nền kinh tế giảm đi. Bên cạnh đó, theo các chuyên gia tài chính, nhìn lại thời gian qua, không khó để chỉ ra những tồn tại và bất cập trong hoạt động của các DNNN: Tốc độ CPH chậm và lượng vốn nhà nước nắm giữ trong các DNNN còn khá cao; Mặc dù được hưởng nhiều ưu đãi về cơ chế, chính sách, đặc biệt về vốn; được hưởng sự độc quyền trên một số lĩnh vực, nhưng đóng góp của các DNNN cho nền kinh tế còn hạn chế. Nhiều tập đoàn, tổng công ty đầu tư ngoài ngành lỗ nặng làm cho hiệu quả đầu tư toàn nền kinh tế hiệu quả thấp. Việc chuyển sang mô hình tổng công ty mẹ-con và tập đoàn kinh tế còn nhiều bất cập về quản trị công ty dẫn đến những rủi ro, tác động xấu đến nền kinh tế.

 

Bên cạnh đó, các DNNN hiện nay vẫn còn chưa chủ động trong việc huy động vốn và quản lý tài sản, chỉ có rất ít các DN có chiến lược huy động vốn một cách cụ thể, luôn rơi vào thế bị động. Hơn nữa, khả năng tiếp cận vốn vay ngân hàng của các DN này cũng bị hạn chế, hầu hết các DNNN lại chưa đủ uy tín để huy động vốn bằng phát hành trái phiếu… Tất cả những điều trên khiến DNNN luôn rơi vào thế bị động, không phát huy được quyền tự chủ về tài chính trong kinh doanh.     

 

Đề xuất một số giải pháp

Mặc dù được hưởng nhiều ưu đãi về cơ chế, chính sách và được hưởng sự độc quyền trên một số lĩnh vực nhưng đóng góp của khu vực DNNN cho nền kinh tế vẫn chưa được như kỳ vọng. Trong khi đó, sự thay đổi nhanh chóng của nền kinh tế thế giới, những yêu cầu cấp thiết của chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu, nâng cao năng suất lao động, chất lượng tăng trưởng, DNNN đứng trước những thách thức đòi hỏi phải có những bước đi thích hợp nâng cao hiệu quả hoạt động. Hơn nữa, trong bối cảnh hội nhập sâu với nền kinh tế toàn cầu, đặc biệt với việc tham gia các Hiệp định thương mại, đang tạo nên áp lực cạnh tranh gay gắt và đòi hỏi ngày càng lớn đối với khu vực DNNN.   

 

Chẳng hạn, sau khi đàm phán với các nước, đặc biệt là với Hoa Kỳ, Việt Nam đã thông qua một số quy định của Hiệp định TPP về DNNN. Trong đó bao gồm các nội dung chủ yếu như: Các DNNN phải hoạt động theo cơ chế thị trường; DNNN không được nắm vị trí độc quyền, gây ảnh hưởng đến thương mại và đầu tư; DNNN phải minh bạch hóa một số thông tin như tỷ lệ sở hữu của Nhà nước, báo cáo tài chính…; Nhà nước không được trợ cấp quá mức cho các DNNN, gây ảnh hưởng lớn đến lợi ích của nước khác.     

 

Thực tế này đặt ra đòi hỏi cần tiếp tục đẩy mạnh cải cách DNNN theo yêu cầu loại bỏ độc quyền và những ưu đãi dành riêng cho DNNN, áp đặt kỷ luật thị trường đối với DNNN để đảm bảo “tương thích” với cam kết TPP và giúp các DNNN phát triển vững chắc trong giai đoạn tới.

 

Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XI về các văn kiện Đại hội XII của Đảng mới đây cũng xác định nhiệm vụ trọng tâm giai đoạn tới “Chú trọng giải quyết tốt vấn đề cơ cấu lại DNNN với trọng tâm là các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước”. Do vậy, nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của các DNNN trong thời kỳ hội nhập, trong thời gian tới cần chú trọng một số giải pháp sau:       

 

Một là, quán triệt sâu sắc các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động DNNN trong các Nghị quyết của Đảng, các chính sách của Nhà nước.

 

Hai là, đẩy mạnh tái cơ cấu các DNNN. Phân định rõ những ngành, những lĩnh vực Nhà nước cần nắm 100% vốn, những ngành Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối. Nhà nước chỉ cần nắm, chi phối các tập đoàn, tổng công ty ở những lĩnh vực then chốt của nền kinh tế, với vai trò can thiệp và “điều hướng” theo quỹ đạo của Nhà Nước.

 

Ba là, cần phải thiết lập sở hữu hỗn hợp và một cơ chế chế tài, giám sát hiệu quả hoạt động của DNNN. Bản thân DNNN là một thực thể đa mục đích, do đó, việc giám sát DNNN phải theo hướng đa mục đích, không thể đơn thuần chỉ chú ý đến mục đích tài chính thuần túy. Khi xác định được mục tiêu giám sát, sẽ xác định được các yếu tố còn lại như hình thức, phương pháp và cơ chế giám sát.

 

Bốn là, hoàn thiện cơ chế, chính sách tài chính và quản trị đối với DNNN. Nâng cao trách nhiệm giải trình, minh bạch, công khai về tài chính; Thực hiện nghiêm túc định kỳ chế độ kiểm toán đối với các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước; Hoàn thiện cơ chế quản lý DNNN trên cơ sở thực hiện quyền và trách nhiệm chủ sở hữu nhà nước đối với vốn, tài sản nhà nước tại DN, bảo đảm công khai, minh bạch về tài chính; Thực hiện nghiêm túc việc kiểm toán bắt buộc đối với các tập đoàn, tổng công ty, công ty nhà nước.   

 

Năm là, nâng cao sức cạnh tranh của các DNNN, xóa bỏ một số lĩnh vực độc quyền, ưu tiên; các DNNN phải được đối xử bình đẳng như các DN khác trong nền kinh tế; Tách biệt vai trò Nhà Nước với tư cách chủ sở hữu và với tư cách quản lý.   

Sáu là, đổi mới quản trị công ty, đào tạo nguồn nhân lực; thực hiện chế độ thi tuyển rộng rãi đối với giám đốc DN; Thực hiện chế độ tự chủ, phân cấp về nhân sự, chính sách tiền lương, tạo động lực cho quản lý và người lao động…                                                               

                                                                                                       

Theo Tạp chí Tài chính kỳ 2 tháng 4/2016

Doanh nghiệp cần thay đổi tư duy để hội nhập kinh tế
Trả lời

Nhiều doanh nghiệp lo lắng việc Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đang bị trì hoãn liệu có ảnh hưởng đến kinh tế Việt Nam, khi mà trước đây, có ý kiến cho rằng Việt Nam sẽ nhận nhiều thuận lợi khi tham gia TPP, đặc biệt trong xuất khẩu dệt may?

Điều đó có làm ảnh hưởng đến tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam hay không, chúng ta phải chuẩn bị gì cho hội nhập… là những vấn đề được nhiều người quan tâm hiện nay.

Doanh nghiệp cần làm gì?

Câu trả lời của các chuyên gia là sự tác động từ TPP không lớn nếu doanh nghiệp biết tạo sức mạnh nội tại. Thời gian qua, Đảng, Nhà nước quyết liệt trong tháo gỡ khó khăn về thể chế, tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư, kinh doanh, thế nhưng, đấy chỉ là yếu tố bên ngoài, cái chính là sự nỗ lực nội tại bên trong của doanh nghiệp.

Ngay trong Hội nghị lần thứ 4, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII thông qua nghị quyết, trong đó có nội dung xác định rõ nội hàm đổi mới mô hình tăng trưởng và có thể khẳng định rằng, đã đến lúc cần có tư duy đột phá mang tính chiến lược trong phát triển kinh tế. Không ai khác, chính các doanh nghiệp phải thay đổi tư duy, tập trung tìm kiếm mô hình phát triển mới, có tầm nhìn dài hạn.

Với đặc thù có đến 90% doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp nhỏ và vừa, do vậy, cách quản lý cũ theo kiểu gia đình không còn phù hợp khi đất nước mở cửa hội nhập. Bởi hầu hết các doanh nghiệp muốn đầu tư kinh doanh, vay vốn ngân hàng đều “dính” do báo cáo tài chính, xây dựng dự án kinh doanh không đạt yêu cầu. Do vậy, đã đến lúc doanh nghiệp cần thay đổi cơ chế quản lý hiện đại hơn.

Ngoài ra, một vấn đề mà doanh nghiệp Việt Nam cần quan tâm, đó chính là thiếu yếu tố “vì cộng đồng”. Rất nhiều doanh nghiệp nước ngoài đến Việt Nam khảo sát, kiểm tra hoạt động của doanh nghiệp trong nước để hợp tác gia công, ký kết hợp đồng thương mại đều cho rằng, họ sẽ từ chối hợp tác với những doanh nghiệp không chú ý đến vệ sinh an toàn thực phẩm, không đảm bảo điều kiện môi trường hoặc không chú ý đến an sinh xã hội…

Đã có nhiều doanh nghiệp trong nước vì không nộp bảo hiểm cho nhân viên, không trang bị an toàn lao động cho người lao động nên bị đối tác nước ngoài từ chối hợp tác. Thậm chí, có doanh nghiệp nước ngoài cử hẳn đoàn kiểm soát đến tận xưởng sản xuất phía đối tác ở Việt Nam để hỏi từng nhân viên xem có ký hợp đồng, được nộp bảo hiểm không. Những việc này, lâu nay doanh nghiệp trong nước ít chú ý, cho đến khi bị “huốt” đối với hợp đồng lớn mới vỡ lẽ.

Tuy nhiên, ngoài yêu cầu thay đổi tư duy, quy trình sản xuất, chú ý đến phúc lợi xã hội thì một yếu tố cực kỳ quan trọng cho doanh nghiệp nhỏ bước ra biển lớn, đó là sự hợp sức, liên kết trong sản xuất kinh doanh. Đây là cách để nâng cao chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam và là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, quyết định thành công của sự nghiệp đổi mới. Không chỉ trong sản xuất công nghiệp mà ngay trong sản xuất nông nghiệp cũng rất cần những “cánh đồng lớn” sản xuất theo quy chuẩn.

Chuyển từ quản lý sang phục vụ…

Đứng ở góc độ nhà nước, người cầm lái hướng con tàu kinh tế ra biển lớn, đòi hỏi trước tiên là phải thay đổi chính sách phù hợp. Cụ thể, trước yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh hội nhập như hiện nay, cần thiết phải chuyển từ nền hành chính quản lý truyền thống sang nền hành chính tạo lập môi trường thuận lợi cho sản xuất kinh doanh.

Cụ thể là phải chuyển từ tư duy quản lý doanh nghiệp sang phục vụ doanh nghiệp. Xem doanh nghiệp như là khách hàng, mà cán bộ Nhà nước là người phục vụ, cung cấp dịch vụ, tạo điều kiện tốt nhất, tạo sự hài lòng nhất để doanh nghiệp phát huy hiệu quả nhất trong kinh doanh. Theo các chuyên gia, để làm được điều đó, Nhà nước cần đi trước một bước trong cải cách thể chế, chính sách và quy định.

Cụ thể và trước tiên là phải hoàn thiện thể chế, nhất là thể chế kinh tế, liên quan đến sản xuất, kinh doanh một cách đồng bộ, minh bạch, rõ ràng. Phải hiểu rằng, những thay đổi về chính sách, các quy định không ổn định của Việt Nam là điều rủi ro mà các doanh nghiệp lo lắng nhất.

Do vậy, cần phải cải cách các quy định về điều kiện kinh doanh, về quản lý chuyên ngành đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, nhập khẩu, phù hợp với thông lệ quốc tế. Ngoài ra, để minh bạch và tạo thuận lợi cho doanh nghiệp thì cần gấp rút cải cách hành chính, bãi bỏ các thủ tục hành chính rườm rà, khó hiểu; công khai hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước, tăng cường trách nhiệm cung cấp thông tin, trách nhiệm của từng cán bộ.

Chính phủ điện tử đã có, nay cần tiến tới cung cấp dịch vụ công trực tuyến cho doanh nghiệp, hạn chế sự tiếp xúc trực tiếp giữa doanh nghiệp với công chức, nhằm hạn chế được nhũng nhiễu. Và quan trọng nhất vẫn là thái độ cán bộ công chức và trách nhiệm người đứng đầu.

Bên cạnh việc xử lý những cán bộ thiếu năng lực, kém đạo đức, có tư duy gây khó dễ cho doanh nghiệp để trục lợi thì cũng cần quy trách nhiệm người đứng đầu nếu không kiểm soát tốt, không ứng dụng quy trình quản lý hiện đại, công khai, minh bạch, để cán bộ cấp dưới làm sai.

                                                                                                                                       Nguồn: Báo Sài Gòn đầu tư

Để doanh nghiệp nhỏ và vừa hội nhập hiệu quả
Trả lời

Từ nay đến năm 2018, nhiều cam kết quốc tế, trong đó có Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương – TPP sẽ có hiệu lực. Mốc thời gian không còn xa, với 96% trên tổng số doanh nghiệp đang hoạt động là doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, Việt Nam đang đứng trước thách thức rất lớn về khả năng cạnh tranh trong quá trình hội nhập.

Nhiều thách thức đặt ra

Ngày 4/2/2016, Hiệp định TPP đã được ký kết giữa 12 nước, gồm Australia, Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore, Hoa Kỳ và Việt Nam, có quy mô kinh tế chiếm 40% GDP và 30% thương mại toàn cầu. Đây là một Hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới – được kỳ vọng trở thành hình mẫu cho phát triển thương mại khu vực và thế giới với yêu cầu cao hơn trong bối cảnh lực lượng sản xuất phát triển rất nhanh và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

Theo các chuyên gia, TPP cùng các hiệp định thương mại tự do khác mà Việt Nam đã và đang đàm phán, ký kết trong tương lai sẽ mang lại nhiều cơ hội thuận lợi nhưng cũng đặt ra không ít khó khăn, thách thức cho các doanh nghiệp (DN) Việt Nam, nhất là các DN nhỏ và vừa (DNNVV). Các cơ hội mà TPP và các hiệp định FTA mới đem lại sẽ tạo thêm xung lực mới cho phát triển kinh tế-xã hội, đặc biệt là trong thu hút đầu tư và thúc đẩy xuất khẩu với các nền kinh tế lớn nhất thế giới. Đây là những khu vực có công nghệ nguồn, thị trường xuất khẩu và thu hút đầu tư lớn nhất của Việt Nam liên tục trong nhiều năm qua.

Nếu tính đến tác động cộng hưởng của các Hiệp định này với các FTA đã ký hoặc đang đàm phán, cơ hội còn lớn hơn nhiều vì nước ta sẽ có quan hệ thương mại tự do với 55 quốc gia, trong đó có 15 nước thuộc nhóm G20. Những cam kết trong các Hiệp định sẽ là những khung khổ, chuẩn mực để góp phần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường hiện đại và thúc đẩy tiến trình tái cơ cấu, chuyển đổi mô hình tăng trưởng…

Tuy nhiên, các Hiệp định này cũng đặt ra không ít những khó khăn thách thức. Thách thức lớn nhất là DN trong nước sẽ phải chịu sức ép cạnh tranh rất lớn từ DN nước ngoài. Trong đó, DNNVV được coi là đối tượng dễ bị tổn thương nhất khi tham gia sân chơi này. Phần lớn các DN này thiếu vốn trong khi việc huy động vốn từ thị trường lại kém hiệu quả do không đáp ứng đủ các tiêu chuẩn vay vốn từ ngân hàng, chủ yếu chỉ tiếp cận được với vốn vay ngắn hạn. Không chỉ vậy, các DN này lại thiếu nguồn lao động có trình độ, thiếu chuyên gia, thợ bậc cao và người lao động có kỹ thuật, nhất là ở khu vực nông thôn.

Ngoài ra, trình độ hiểu biết cũng như kinh nghiệm tiếp cận thị trường thế giới, với luật lệ và văn hóa kinh doanh quốc tế của DN cũng rất hạn chế.

Thách thức về thực thi cũng rất lớn, từ hoàn thiện hệ thống pháp luật đến đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao năng lực cán bộ, công chức, chuyên gia kỹ thuật và pháp lý… Sức ép cạnh tranh sẽ diễn ra quyết liệt không chỉ ở thị trường các nước tham gia hiệp định mà ngay tại thị trường trong nước trên cả ba cấp độ: Sản phẩm, DN và quốc gia – đặc biệt là cạnh tranh về chất lượng thể chế và môi trường kinh doanh. Trước sức ép cạnh tranh, một số DN nói chung và DNNVV nói riêng nếu không vươn lên được có thể phải giải thể hoặc phá sản, một bộ phận người lao động sẽ mất việc làm; khu vực nông nghiệp và nông dân dễ bị tổn thương…

Cần nhận thức sâu sắc rằng, cơ hội tự nó không thể chuyển thành sức mạnh kinh tế, lợi ích và khả năng cạnh tranh trên thị trường mà phải bắt nguồn từ nỗ lực và hiệu quả hoạt động của các DN nói chung và DNNVV nói riêng. Khó khăn thách thức sẽ là sức ép không nhỏ nhưng mức độ ảnh hưởng đến đâu phụ thuộc vào năng lực ứng phó của các DN. Phần lớn các DN này lại yếu về vốn, công nghệ, năng lực quản lý, kinh nghiệm tiếp cận thị trường.

Cạnh tranh trong nước đã khó, khi cam kết quốc tế có hiệu lực, họ lại càng phải đối mặt với sự cạnh tranh mạnh mẽ từ DN lớn bên ngoài, những điểm yếu của khối DN vừa và nhỏ theo đó sẽ càng được bộc lộ rõ nét hơn. Do đó, nếu họ biết tận dụng tốt cơ hội thuận lợi sẽ đẩy lùi được khó khăn thách thức, tạo ra cơ hội thuận lợi mới lớn hơn; ngược lại, khó khăn thách thức sẽ lấn át, nếu họ sẽ bị thua thiệt. Điều cần nhấn mạnh là, trong các hiệp định thương mại tự do, cơ hội luôn đi liền với thách thức và trong thách thức luôn ẩn chứa cơ hội – đây cũng là biện chứng của tiến trình phát triển.

Giải pháp phát triển

Mặc dù còn nhiều hạn chế nhưng không thể phủ nhận vai trò và những đóng góp của DNNVV đối với nền kinh tế là rất lớn như: Cung cấp một lượng hàng hóa đáng kể cho tiêu dùng với xuất khẩu, tạo ra việc làm và thu nhập cho người lao động, đóng góp cho ngân sách nhà nước thông qua nộp thuế. Trong bối cảnh phát triển của chuyên môn hóa và hợp tác cùng phát triển đã không cho phép một DN tự khép kín chu trình sản xuất kinh doanh, mà thay vào đó là các DNNVV là vệ tinh của DN lớn. Mô hình này đã và đang tỏ ra phù hợp với bối cảnh hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng như hiện nay. Với quy mô vốn và lao động không lớn, các DNNVV có thể nhanh chóng thành lập, chuyển đổi mặt hàng sản xuất kinh doanh.

Đây chính là yếu tố giúp thúc đẩy lưu thông hàng hóa, cung cấp hàng hóa, dịch vụ bổ sung của các DNNVV cho các DN lớn. DNNVV là vệ tinh, những xí nghiệp gia công những bộ phận đơn giản trong các sản phẩm, dịch vụ của các DN lớn, đồng thời là mạng lưới tiêu thụ hàng hóa cho các DN lớn.

Ngoài ra, DNNVV còn đóng vai trò tích cực trong phát triển kinh tế địa phương và tạo mối liên hệ chặt chẽ với các tổng công ty nhà nước và các tập đoàn xuyên quốc gia. Chẳng hạn, nhiệm vụ sản xuất ốc vít hay sạc pin cho điện thoại di động là phần việc của các DNNVV. Thực chất, đa phần công nghiệp phụ trợ tại các nước phát triển thường do các DNNVV đảm nhiệm. Vì đây là thế mạnh của loại hình DN này.

Phải thừa nhận, khi tham gia TPP, các DN Việt Nam đặc biệt là các DNNVV sẽ được tiếp cận với các thị trường rộng lớn, sẽ có nhiều cơ hội để phát triển sản xuất, nâng cao kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm có lợi thế, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, mở rộng các hoạt động dịch vụ, tạo tiền đề cho phát triển sản xuất trong nước tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Nhưng ngược lại, Việt Nam cũng phải mở cửa thị trường, nên mức độ cạnh tranh về sản xuất, tiêu thụ hàng hóa sẽ khốc liệt hơn khi các nhà đầu tư TPP tràn vào Việt Nam. Lúc đó, lượng hàng hóa nhập khẩu ngày càng nhiều, đa dạng về chủng loại, đẹp về mẫu mã, tốt về chất lượng, phù hợp về giá cả với quy trình sản xuất công nghiệp hiện đại nên có lợi thế cạnh tranh vượt trội hơn so với hàng hóa nội địa.

Nhiều nước tham gia TPP còn có xu hướng bảo hộ sản xuất nội địa, vì vậy hàng hóa của các DN Việt Nam sẽ phải đối mặt với với hàng rào phi thuế quan, hàng rào kỹ thuật trong thương mại với những yêu cầu nghiêm ngặt và tiêu chuẩn kỹ thuật, môi trường, lao động, an toàn vệ sinh thực phẩm, sở hữu trí tuệ, quy tắc xuất xứ hàng hoá, nhất là sản phẩm da giày, dệt may và thủy sản.

Với những thách thức không hề nhỏ khi tham gia TPP, các DN Việt Nam nói chung và DNNVV nói riêng cần nghiên cứu, nắm chắc nội dung của hiệp định để hạn chế rủi ro. Đo dó, DNNVV cần tự đánh giá lại mình để tìm ra những ưu, khuyết điểm đã bộc lộ trong thời gian vừa qua; soi với các điều kiện, tiêu chuẩn của TPP để tìm ra điểm chưa đáp ứng đủ. Qua đó, xác định rõ những vấn đề cần phát triển hoặc thu hẹp, nghiên cứu rõ các cơ chế, chính sách, điều kiện để tìm ra ưu khuyết điểm đối với DN để khai thác triệt để những lợi thế và khắc phục những yếu kém.

Hiện nay, các DN ở một số nước như Singapore, Malaysia đã đi tắt đón đầu và đang tận dụng rất tốt các cơ hội của hội nhập. Vì thế, để cải thiện và ứng phó với sức ép cạnh tranh sắp tới, DN Việt Nam phải luôn học hỏi và giữ tâm thế chủ động trong mọi tình huống.

Trước hết là chủ động chuẩn bị chu đáo nhằm cạnh tranh với hàng hóa nhập khẩu có mức giá ngày càng giảm bằng cách xây dựng các yêu cầu kỹ thuật tối thiểu; lưu trữ đầy đủ hồ sơ chứng từ gốc để chứng minh xuất xứ nguyên liệu đầu vào, chuẩn bị tốt các điều kiện khi có yêu cầu kiểm tra chất lượng sản phẩm tại cơ sở sản xuất; sẵn sàng ứng phó khi có tranh chấp thương mại xảy ra… Bởi chỉ riêng Hiệp định TPP, hàng hóa xuất khẩu vào thị trường này cũng đã phải đạt tỷ lệ nội địa hóa từ 55% giá trị trở lên.

Bên cạnh đó, DNNVV cũng cần chủ động nâng cao mẫu mã, chất lượng sản phẩm, dịch vụ sau bán hàng, có chiến lược kinh doanh phù hợp… để giữ vững thị phần trong nước đồng thời tìm kiếm các thị trường mới để đầu tư phát triển.

                                                 Bài đăng trên Tạp chí Tài chính kỳ 2 tháng 4/2016

Ưu đãi đầu tư tại Việt Nam
Trả lời

Trong những năm đầu của việc thi hành chính sách đổi mới kinh tế Việt Nam lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế, thiếu hụt nghiêm trọng nguồn vốn đầu tư cho phát triển xã hội, xây dựng cơ sở hạ tầng. Hiểu được điều đó, nhà nước đã ban hành rất nhiều các chính sách ưu đãi để kêu gọi các nguồn vốn từ cả trong nước và nước ngoài. Nổi bật là chính sách về thuế, về đất đai, và các ưu đãi từ địa phương.  Cụ thể một số các điều luật đã được ban hành như Luật thuế thu nhập doanh nghiệp, luật đất đai, luật tín dụng.

Các chính sách về thuế, đặc biệt là thuế thu nhập doanh nghiệp. Theo thời gian mức thuế suất thuế TNDN đã giảm từ 32%  xuống còn 28% năm 2009 và xuống đến 22% kể từ năm 2014. Các ưu đãi về thuế TNDN thường được cấp cho các dự án đầu tư trong các vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, hoặc vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn. Đến nay mức thuế suất ưu đãi  đã giảm xuống tới 10% trong 15 năm áp dụng đối với dự án mới thành lập tại địa bàn kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, hoặc đối với dự án thuộc lĩnh vực công nghệ cao, sản xuất sản phẩm phần mềm… Miễn thuế cho doanh nghiệp nước ngoài trong thời hạn dài lên tới 5 năm, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp xuống mức chỉ còn 10% trong khi doanh nghiệp trong nước là 22%. Miễn thuế nhập khẩu máy móc, thiết bị và phương tiện vận tải chuyên dùng, miễn thuế tài nguyên và giảm tới 40% phí bảo vệ môi trường đối với hoạt động hút cát, san nền. Đầu tư trong kĩnh vực công nghệ cao, trong nghiên cứu phát triển khoa học kỹ thuật, đầu tư vào cơ sở hạ tầng. Miễn thuế xuất nhập khẩu được áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu để gia công và được miễn thuế xuất khẩu cho cùng loại hàng hóa đó khi tái xuất. Các loại hàng hóa của Việt Nam xuất khẩu để phục vụ gia công được miễn thuế xuất khẩu, ngược lại khi tái nhập khẩu các linh kiện cấu thành được miễn thuế nhập khẩu căn cứ vào giá trị xuất khẩu. 
Các chính sách về đất đai, Luật Đất đai 2003 ban hành, tiếp tới luật đất đai năm 2013 đã cho phép các nhà đầu tư nước ngoài chọn hoặc trả tiền thuê đất một lần hoặc trả tiền thuê đất hằng năm trong thời gian hoạt động, việc tiếp cận và thuê đất cũng dễ dàng hơn rất nhiều. Cụ thể thể hiện ở một số nội dung như sau: Miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước kể từ ngày dự án hoàn thành và đưa vào hoạt động: 

–    Ba (03) năm đối với dự án thuộc Danh mục lĩnh vực khuyến khích đầu tư; tại cơ sở sản xuất kinh doanh mới của tổ chức kinh tế thực hiện di dời theo quy hoạch, di dời do ô nhiễm môi trường. 
–     Bảy (07) năm đối với dự án đầu tư vào địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn.
–     Mười một (11) năm đối với dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn; dự án đầu tư thuộc Danh mục lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư; dự án thuộc Danh mục lĩnh vực khuyến khích đầu tư được đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn.
–     Mười lăm (15) năm đối với dự án thuộc Danh mục lĩnh vực khuyến khích đầu tư được đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn; dự án thuộc Danh mục lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư được đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn. 
–    Danh mục lĩnh vực khuyến khích đầu tư, lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư, địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn thực hiện theo quy định của Chính phủ”.  Các nhà đầu tư được hưởng lợi từ việc miễn tiền thuê đất và mặt nước đối với các dự án cả trong (i) thời gian xây dựng dự án được các cơ quan thẩm quyền phê duyệt và trong (ii) các lĩnh vực được hưởng khuyến khích đặc biệt và đầu tư tại các vùng kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn.

Ngoài ra các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vay tiền từ các ngân hàng Việt Nam được hưởng lãi suất ưu đãi tối đa 9%/năm đối với các dự án đầu tư thực hiện trong 5 lĩnh vực cụ thể là nông nghiệp và phát triển nông thôn, xuất khẩu, các ngành công nghiệp phụ trợ, các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các ngành công nghệ cao.
Như vậy nhà nước đã thực hiện rất nhiều các chính sách mở cửa để thu hút đầu tư. Tạo mọi điều kiện để có được môi trường tốt nhất thu hút các nhà đầu tư vào việt Nam, làm tăng tính cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong nước, tăng doanh thu thuế và tạo một tiền để cho sự phát triển vươn xa hơn vào thị trường quốc tế.  

Doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam buổi đầu được công nhận tư cách pháp lý
Trả lời

Luật Doanh nghiệp 2014 được ban hành có nhiều điểm mới, đặc biệt lần đầu tiên xuất hiện khái niệm Doanh nghiệp xã hội – một khái niệm doanh nghiệp mang tính nhân văn sâu sắc. Doanh nghiệp xã hội (social enterprise) được định nghĩa là những doanh nghiệp hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận thuần túy, các doanh nghiệp này được thành lập với mục tiêu là để giải quyết một vấn đề xã hội nào đó mà doanh nghiệp đó theo đuổi, phần lớn lợi nhuận thu được dùng để phục vụ mục tiêu xã hội và môi trường.

Xã hội Việt Nam phát triển bên cạnh sự khởi sắc của nền kinh tế thị trường đổi mới tuy nhiên sự phát triển ấy của nền kinh tế thị trường tạo ra ranh giới sâu sắc trong sự phân hóa giàu nghèo, sự chênh lệch mức sống và phổ biến lối sống giữa thành thị với nông thông có sự tương phản đặc biệt. Sự phát triển kinh tế thị trường ở một nền kinh tế đang phát triển không tránh khỏi những hệ quả kéo theo về mặt xã hội. Có hàng loạt các vấn đề xã hội nảy sinh và chưa tìm ra được hướng giải quyết hiệu quả nhất đó là: an sinh xã hội đối với người nghèo, người già, đối tượng sau khi thi hành án, bạo lực xã hội, phân biệt đối xử, tệ nạn xã hội, bệnh tâm lý, giáo dục, y tế quá tải và bất hợp lý, vệ sinh an toàn thực phẩm không đảm bảo, ô nhiễm môi trường rác thải, không khí, tiếng ồn, nền văn hóa bị ảnh hưởng… Đó chính là nhu cầu hết sức cấp thiết để xuất hiện các doanh nghiệp xã hội.

Theo quy định tại Điều 10 Luật Doanh nghiệp 2014 và Nghị định 96/2015/NĐ-CP ngày 19 tháng 10 năm 2015 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp thì Doanh nghiệp xã hội là doanh nghiệp được đăng ký thành lập theo quy định của Luật Doanh nghiệp.

Doanh nghiệp xã hội sử dụng ít nhất 51% tổng lợi nhuận hằng năm của doanh nghiệp để tái đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường như đã đăng ký, chứ không nhằm mục tiêu chia lợi nhuận cho cổ đông hay thành viên trong công ty. Doanh nghiệp xã hội có quyền hoạt động kinh doanh tạo nguồn thu lợi nhuận nhằm bù đắp chi phí và phát triển các mục tiêu xã hội đã đề ra, tuy nhiên phải hoạt động kinh doanh là để tối ưu hóa lợi nhuận chứ không phải để tối đa hóa lợi nhuận. Trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ mục tiêu đã nêu và mức lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư, doanh nghiệp phải hoàn lại toàn bộ các ưu đãi, khoản viện trợ, tài trợ dành riêng cho doanh nghiệp xã hội.

Chủ sở hữu doanh nghiệp, người quản lý doanh nghiệp xã hội được xem xét, tạo thuận lợi và hỗ trợ trong việc cấp giấy phép, chứng chỉ và giấy chứng nhận có liên quan theo quy định của pháp luật; Doanh nghiệp xã hội được huy động và nhận tài trợ dưới các hình thức khác nhau từ các cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức phi chính phủ và các tổ chức khác của Việt Nam ở nước ngoài để bù đắp chi phí quản lý và chi phí hoạt động của doanh nghiệp và báo cáo định kỳ hằng năm với cơ quan của thẩm quyền về tình hình hoạt động của doanh nghiệp.

Ngoài ra trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp đang hoạt động muốn chuyển thành doanh nghiệp xã hội hoặc doanh nghiệp xã hội muốn từ bỏ mục tiêu xã hội, môi trường, không sử dụng lợi nhuận để tái đầu tư thì doanh nghiệp phải thông báo với cơ quan có thẩm quyền để tiến hành các thủ tục theo quy định của pháp luật. Có thể thấy sự linh động trong quy định này của pháp luật tạo điều kiện khuyến khích, hỗ trợ, thúc đẩy cho doanh nghiệp rất lớn trong việc thay đổi chiến lược hoạt động kinh doanh cũng như dễ dàng lựa chọn loại hình doanh nghiệp phù hợp với nhu cầu thực tiễn của mình.

Từ những nét đặc thù riêng của mình, thiết nghĩ các doanh nghiệp xã hội cần có chiến lược tổ chức và hoạt động  riêng và chiến lược phát triển tổng thể nói chung khác cơ bản so với các doanh nghiệp hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận để mang lại sự thành công cho loại hình doanh nghiệp mà mình đã lựa chọn.

Đến thời điểm hiện nay, việc các tổ chức đăng ký doanh nghiệp xã hội theo Luật Doanh nghiệp 2014 đã bắt đầu phát triển việc đăng ký, chuyển đổi mô hình hay thành lập mới được tiến hành thuận lợi vì đã có Thông tư số 04/2016/TT-BKHĐT ngày ngày 17 tháng 5 năm 2016 quy định các biểu mẫu văn bản sử dụng trong đăng ký doanh nghiệp xã hội theo quy định tại Nghị định số 96/2015/NĐ-CP ngày 19/10/2016. Tuy nhiên trong thực tế, trước khi có quy định về doanh nghiệp xã hội trong Luật Doanh nghiệp và Nghị định hướng dẫn thì tại Việt Nam đã có nhiều tổ chức xã hội và doanh nghiệp có những đặc điểm của doanh nghiệp xã hội đã hình thành và hoạt động từ nhiều năm, góp phần giải quyết vấn đề việc làm cho người khuyết tật, hỗ trợ các đối tượng là nạn nhân của các tệ nạn xã hội, bạo lực gia đình, đói nghèo, nối rộng vòng tay nhân ái, khắc phục ô nhiễm môi trường…như: Help International, Công ty TNHH đầu tư Dragon Việt Nam, Công ty TNHH Dịch vụ tư vấn và giáo dục WE Link….

Doanh nghiệp xã hội, tuy là một hình thức doanh nghiệp mới, có mô hình tổ chức theo luật doanh nghiệp như các doanh nghiệp vì mục tiêu lợi nhuận khác, có chức năng độc lập nhưng vì đặ thù riêng lại có sự phụ thuộc rất lớn vào sự ủng hộ của dư luận xã hội, điều kiện của chính phủ, cộng đồng và nguồn lực từ các đơn vị tài trợ khác để phát triển thuận lợi. Từ những đặc điểm trên, có thể thấy để quản lý doanh nghiệp xã hội rất phức tạp vì phải đồng thời thực hiện cả mục tiêu tài chính để duy trì doanh nghiệp và mục tiêu xã hội để phát triển doanh nghiệp trong đó mục tiêu xã hội là mục tiêu nền tảng và được ưu tiên nhất.

Ở buổi ban đầu, ví trí pháp lý của doanh nghiệp xã hội được công nhận, các doanh nghiệp hiện nay thường quan tâm để lồng ghép các vấn đề môi trường, xã hội thông qua các môi trường kinh doanh. Đây là dấu hiệu tích cực trong việc thay đổi nhận thức của người trẻ nói riêng, nhận thức của cộng đồng nói nói chung, hướng đến các giá trị nhân văn ngay từ khi hình thành ý tưởng kinh doanh. Như vậy có thể thấy rằng, sự chủ động của mỗi cá nhân khi khởi nghiệp góp phần giải quyết các vấn đề nhân văn, đã hình thành các cầu nối hoạt động phi lợi nhuận vươn xa trong khu vực và thế giới, nhằm chia sẻ kiến thức, liên kết các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp có cùng tâm huyết hướng tới xây dựng doanh nghiệp xã hội theo xu hướng chung của quốc tế, gia tăng khả năng tiếp cận các nguồn lực hỗ trợ từ trong và ngoài nước, nhằm khai thác tối đa nguồn lực của khối tư nhân, đầu tư để giải quyết các vấn đề của xã hội và môi trường. Cùng với sự công nhận tư cách pháp lý, sự ủng hộ của Chính phủ và các nguồn lực xã hội và việc cam kết những mục tiêu mà doanh nghiệp xã hội hướng đến chúng ta hoàn toàn có thể hi vọng vào tương lại xây dựng một nền kinh tế bền vững mà toàn cầu đang hướng đến tại Việt Nam./.

Thực trạng pháp luật đầu tư tại Việt Nam 
Trả lời

Sau 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Việt Nam đã và đang đạt được nhiều những thành tựu quan trọng như nền kinh tế Việt Nam từ một nước nghèo chậm phát triển nay đã tiến lên thành thoát nghèo và là một trong những nước đang phát triển, ngoài ra thành tự trong lĩnh vực nông nghiệp, kinh tế cũng như đầu tư trực tiếp nước ngoài. Việc mở cửa thị trường dẫn đến tự do hóa thương mại và đưa Việt Nam hội nhập vào thị trường quốc tế một cách nhanh chóng. Vì vậy nhu cầu về nguồn vốn để phát triển kinh tế thị trường ngày càng cần thiết hơn bao giờ hết. Theo thống kê về ngồn vốn FDI cho thấy dòng vốn FDI luôn là động lực quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của nước ta trong suốt hơn 26 năm qua. Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) luôn phát triển mạnh và là một thị trường năng động cho các doanh nghiệp phát triển. Cùng với sự tác động tích cực tới sự phát triển bền vững của nền kinh tế, FDI còn đóng góp vào nguồn thu thuế của nhà nước, thúc đẩy các nhà sản xuất trong nước nâng cao năng lực trình độ tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh. Sơ qua những số liệu về nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam trong những năm qua.  Trong 26 năm từ 1988-2016,  tổng vốn FDI đăng ký vào Việt Nam đến gần cuối năm 2016 đã đạt khoảng hơn  290 tỷ USD, tổng vốn thực hiện đạt 150 tỷ USD, lĩnh vực công nghiệp chiếm tới gần 60%. Theo thống kê của Cục Đầu tư Nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), đã có 116 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam và nhà đầu tư đã có mặt tại 63 tỉnh thành trên cả nước. Đầu tư nước ngoài đã tạo ra một phương thức thu hút đầu tư mới, góp phàn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, khơi dậy hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong nước. 

Nguồn vốn FDI vào Việt Nam đồng thời sẽ tạo ra các tác động tích cực đối với việc huy động các nguồn vốn khác như ODA, NGO, đồng thời kích thích thu hút vốn đầu tư trong nước. Cùng với  vấn đề tạo cho các doanh nghiệp trong nước được cơ hội tiếp cận khoa học – công nghệ, tiếp thu kỹ thuật hiện đại từ các nước công nghiệp phát triển. Kích thích doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ đa dạng hóa sản phẩm với giá cả cạnh tranh. Kích thích chuyển dịch cơ cấu tỷ trọng trong các nền kinh tế định hướng công nghiệp hóa. Theo thống kê hiện nay gần 60% vốn đầu tư tập trung vào lĩnh vực công nghiệp chế biến chế tạo, tạo ra trên 50% giá trị sản xuất công nghiệp, góp phần hình thành một số ngành công nghiệp chủ lực của nền kinh tế như viến thông, dầu khí, điện tử, thép… 

Mặt khác việc thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài còn đang gặp nhiều khó khăn và thách thức như, việc chuyển đổi cơ cấu tổ chức kinh tế, đầu tư diễn ra khó khăn. Các chính sách ưu tiên đầu tư vào công nghệ cao, thân thiện với môi trường không đạt được hiệu quả như dự kiến. Các khu công nghiệp khu công nghệ cao còn chưa có được sự đồng nhất, chuyển dịch cơ cấu vùng lãnh thổ diễn ra chậm chạp. Nguồn vốn đầu tư  cho các dự án còn khiêm tốn so với các nước phát triển lân cận như Thái lan, Malaixia, Inđônexia…Nhiều máy móc thiết bị còn lạc hậu gây ô nhiễm môi trường mất an toàn lao động. Ngoài ra tình trạng các doanh nghiệp kê khai nguồn thu lỗ, trốn thuế, gian lận thương mại trong nhiều năm gây thất thu nguồn ngân sách nhà nước. Các tranh chấp lao động, đình công diễn ra ngày càng nhiều, gây mất an ninh trật tự. Các vi phạm quy định về môi trường ngày càng nhiều.

Để thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài cho phát triển bền vững chúng ta phải có những định hướng đầu tư, chính sách phát triển nhất quán, tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư và có tính cạnh tranh so với các nước trong khu vực. Đầu tư có chọn lọc và đi vào chiều sâu có tính lan tỏa. Tăng cường khung pháp lý bảo hộ cho nhà đầu tư, hoàn thiện cơ chế chính sách khuyến khích đầu tư thu hút các dự án công nghệ cao , có nguồn vốn đầu tư lớn. Nói không với những dự án tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm môi trường và công nghệ lạc hậu. Ngoài ra hoàn thiện các quy định pháp luật về đầu tư, tăng cường công tác quản lý của địa phương, cải cách thủ tục hành chính lấy người dân, doanh nghiệp làm đối tượng phục vụ. Thường xuyên theo dõi giám sát kiểm tra việc thực thi pháp luật của các cơ quan quản lý địa phương.