Nhiều ngân hàng tăng mạnh lãi suất huy động
Với mong muốn bổ sung thêm nguồn vốn trung, dài hạn để phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh cuối năm, đồng thời giảm...
Bùng nổ nhượng quyền thương hiệu vào Việt Nam
Hoạt động nhượng quyền đang được giới kinh doanh vận dụng để đưa các thương hiệu nước ngoài vào thị trường Việt Nam. Ngoài lĩnh...
6 ngành kinh tế phát triển mũi nhọn khu vực miền Trung
Có 6 lĩnh vực kinh tế biển, ven biển đang được các tỉnh miền Trung tập trung phát triển và đã đạt được những kết...
91.9% doanh nghiệp lạc quan về hoạt động sản xuất 6 tháng cuối năm
Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có tỷ lệ doanh nghiệp dự báo về khối lượng sản xuất khả...
Việt Nam chuyển dần từ nhập siêu sang xuất siêu với CPTPP
Với hầu hết các hiệp định thương mại (FTA) đã ký, Việt Nam thường nhập siêu, thì nay, khi thực hiện CPTTP, trong 7 tháng...
Giải đáp pháp luật
Thông tư số 105/2017/TT-BTC ngày 05/11/2017 của Bộ Tài chính hướng dẫn cơ chế quản lý tài chính thực hiện Quyết định số 2085/QĐ-TTG ngày 31/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ
Trả lời

Thông tư này hướng dẫn việc lập dự toán ngân sách, phân bổ, quản lý, cấp phát, thanh toán, báo cáo kế toán, quyết toán ngân sách thực hiện Chính sách đặc thù hỗ trợ phát triển kinh tế – xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2017 – 2020 theo Quyết định số 2085/QĐ-TTg có những điểm nổi bật sau:

1. Lập dự toán, phân bổ ngân sách giao dự toán;
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo các cơ quan có liên quan tổ chức rà soát, xác định đối tượng thụ hưởng, nhu cầu kinh phí thực hiện đối với từng chính sách (chia theo vốn đầu tư, vốn sự nghiệp, phần ngân sách trung ương, ngân sách địa phương và phần vốn lồng ghép), lập và phê duyệt Đề án để thực hiện theo quy định của Quyết định số 2085/QĐ-TTg cho giai đoạn 2017 – 2020, kế hoạch thực hiện từng năm gửi Ủy ban Dân tộc để tổng hợp nhu cầu kinh phí thực hiện gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và các Bộ chủ chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình mục tiêu có liên quan để lồng ghép bố trí vốn.

2. Quản lý, cấp phát, thanh toán;
Việc quản lý, cấp phát, thanh toán ngân sách thực hiện các chính sách quy định tại Quyết định số 2085/QĐ-TTg được thực hiện theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước, Luật Đầu tư công, các văn bản hướng dẫn thực hiện và các văn bản khác có liên quan; đảm bảo chặt chẽ, đúng mục tiêu, đúng đối tượng, nhất là những khoản thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt (hoặc hiện vật) cho các đối tượng, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm lập danh sách cho từng hộ ký nhận và thực hiện đầy đủ thủ tục, chứng từ theo quy định.

Thông tư số 19/2017/TT-BCT ngày 29/09/2017 của Bộ Công thương quy định nội dung phương pháp và trình tự thực hiện nghiên cứu phụ tải điện
Trả lời

Thông tư số 19/2017/TT-BCT do Bộ Công Thương ban hành ngày 29/09/2017 có hiệu lực từ ngày 16/11/2017. Quy định nội dung phương pháp và trình tự nghiên cứu phụ tải điện của hệ thống điện nhằm thay thế Thông tư số 33/2011/TT-BCT ngày 06 tháng 9 năm 2011.

Thông tư này đã sửa đổi bổ sung chi tiết tiền trình thực hiện nghiên cứu cũng như chỉ rõ trách nhiệm của từng đơn vị trong xây dựng, phân tích biểu đồ phụ tải điện. Chi tiết hóa việc xây dựng biểu đồ phụ tải điện trung bình chuẩn hóa đơn vị tại Điều 19. Nổi bật lên đó là vấn đề  “Báo cáo kết quả phân tích biểu đồ phụ tải điện” quy định tại Điều 28:

Tập đoàn Điện lực Việt Nam và Tổng công ty Điện lực có trách nhiệm:
1. Định kỳ trước ngày 01 tháng 02 hàng năm, báo cáo Cục Điều tiết điện lực kết quả phân tích biểu đồ phụ tải điện năm trước liền kề với các nội dung chính sau:
a) Đánh giá kết quả thu thập, hiệu chỉnh số liệu đo đếm của mẫu phụ tải điện trong phạm vi quản lý và toàn quốc;
b) Kết quả xây dựng và phân tích biểu đồ phụ tải điện của phân nhóm phụ tải điện, nhóm phụ tải điện, thành phần phụ tải điện, hệ thống điện thuộc phạm vi quản lý, hệ thống điện ba miền và quốc gia với các nội dung quy định tại Điều 22 Thông tư này.

2. Định kỳ trước ngày 15 tháng 7 hàng năm, báo cáo Cục Điều tiết điện lực kết quả phân tích biểu đồ phụ tải điện 06 tháng đầu năm với các nội dung chính sau:
a) Đánh giá kết quả thu thập, hiệu chỉnh số liệu đo đếm của mẫu phụ tải điện trong phạm vi quản lý và toàn quốc;
b) Kết quả xây dựng và phân tích biểu đồ phụ tải điện từng tháng và tổng hợp phân tích biểu đồ phụ tải điện 06 tháng đầu năm của phân nhóm phụ tải điện, nhóm phụ tải điện, thành phần phụ tải điện, hệ thống điện thuộc phạm vi quản lý, hệ thống điện ba miền và quốc gia với các nội dung quy định tại Điều 22 Thông tư này.
Thời gian báo cáo kèo dài hơn 10 ngày so với quy định cũ.

Thông tư số 93/2017/TT-BTC ngày 19/9/2017 của Bộ Tài chính quy định mới về việc đăng ký phương pháp tính Thuế Giá trị gia tăng
Trả lời
Ngày 19/9/2017, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 93/2017/TT-BTC sửa đổi, bổ sung Khoản 3, Khoản 4 Điều 12 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 (đã được sửa đổi, bổ sung tại Thông tư số 119/2014/TT-BTC ngày 25/8/2014) và bãi bỏ Khoản 7 Điều 11 Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ Tài chính để cải cách thủ tục hành chính trong việc đăng ký và chuyển đổi phương pháp tính thuế GTGT nhằm tạo thuận lợi cho doanh nghiệp. Thông tư số 93/2017/TT-BTC có hiệu lực ngày 05/11/2017.

Các Doanh nghiệp cần lưu ý thực hiện những nội dung mới của Thông tư số 93/2017/TT-BTC ngày 19/9/2017 của Bộ Tài chính, cụ thể như sau:

1. Kể từ ngày 05/11/2017 thực hiện theo hướng dẫn tại Điều 1 Thông tư số 93/2017/TT-BTC thì các doanh nghiệp, hợp tác xã khi thực hiện đăng ký phương pháp tính thuế GTGT với cơ quan thuế sẽ không cần phải nộp Mẫu 06/GTGT để đăng ký áp dụng thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ đối với “cơ sở kinh doanh mới thành lập và cơ sở kinh doanh đang hoạt động có doanh thu chịu thuế GTGT dưới một tỷ đồng” như trước đây.

2. Bỏ hướng dẫn nộp Mẫu 06/GTGT khi chuyển đổi phương pháp tính thuế GTGT.

3. Trước khi Thông tư 93/2017/TT-BTC có hiệu lực, Người nộp thuế phải gửi Thông báo về việc áp dụng phương pháp tính thuế tới cơ quan thuế quản lý trực tiếp trước ngày 20 tháng 12 của năm trước liền kề năm người nộp thuế thực hiện phương pháp tính thuế mới hoặc năm người nộp thuế tự nguyện áp dụng theo phương pháp khấu trừ. Tuy nhiên, từ ngày 05/11/2017 quy định nêu trên đã được bãi bỏ.

Bổ sung hướng dẫn phương pháp tính thuế GTGT của cơ sở kinh doanh xác định theo Hồ sơ khai thuế GTGT hướng dẫn tại Điều 11 Thông tư 156/2013/TT-BTC (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 và năm 2015).

Như vậy, kể từ ngày 05/11/2017, việc xác định phương pháp tính thuế GTGT căn cứ theo Hồ sơ khai thuế do cơ sở kinh doanh gửi đến cơ quan thuế. Cụ thể:

– Nếu đăng ký áp dụng thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thì gửi tờ khai thuế GTGT mẫu 01/GTGT, mẫu 02/GTGT đến cơ quan thuế.

– Nếu đăng ký áp dụng thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp thì gửi tờ khai thuế GTGT mẫu 03/GTGT, mẫu 04/GTGT đến cơ quan thuế.

Quy định mới này mang tính cải cách, giảm bớt các thủ tục hành chính về thuế mà người nộp thuế phải thực hiện.

Công văn số 7392/TCHQ-CNTT ngày 10/11/2017 của Tổng cục Hải quan về việc áp dụng chữ ký số cơ chế một cửa quốc gia tại cảng biểu
Trả lời

Ngày 10/11/2017, Tổng cục Hải quan ban hành Công văn số 7392/TCHQ-CNTT gửi đến các hãng tàu, đại lý hãng tàu và đại lý giao nhận, thực hiện lộ trình và kế hoạch triển khai Cơ chế một cửa quốc gia tại cảng biển theo Quyết định số 2185/QĐ-TTg ngày 14/11/2016.

Theo Công văn 7392, Tổng cục Hải quan thông báo đến các hãng tàu, đại lý tàu và đại lý giao nhận như sau:

1. Cổng thông tin một cửa quốc gia chính thức yêu cầu các hãng tàu, đại lý tàu và đại lý giao nhận sử dụng chữ ký số khi khai báo thông tin thực hiện thủ tục hành chính liên quan đến tàu thuyền xuất cảnh, nhập cảnh và quá cảnh thông qua Cơ chế một cửa quốc gia từ ngày 01/01/2018.

2. Đề nghị các hãng tàu, đại lý tàu và đại lý giao nhận chuẩn bị các điều kiện sẵn sàng để đáp ứng thực hiện các yêu cầu nêu trên, gồm:

– Đăng ký để được cấp chữ ký số từ các nhà cung cấp chữ ký số công cộng;

– Cập nhật chữ ký số gắn với thông tin tài khoản dùng để khai báo trên Cổng thông tin một cửa quốc gia.

3. Các nội dung chuẩn bị nêu trên cần hoàn thành muộn nhất trước ngày 15/12/2017.

Quy định mới này nhằm đảm bảo tính pháp lý của hồ sơ khai báo và đơn giản hóa việc thực hiện thủ tục hành chính liên quan đến tàu thuyền xuất cảnh, nhập cảnh và quá cảnh thông qua Cơ chế một cửa quốc gia.

Nghị định số 105/2017/NĐ-CP ngày 14/9/2017 của Chính phủ có nhiều quy định mới về kinh doanh rượu
Trả lời

Ngày 14/9/2017, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 105/2017/NĐ-CP  quy định chi tiết về kinh doanh rượu, bao gồm: Hoạt động sản xuất, nhập khẩu, phân phối, bán buôn, bán lẻ rượu; hoạt động bán rượu tiêu dùng tại chỗ. Nghị định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/11/2017 và thay thế Nghị định số 94/2012/NĐ-CP ngày 12/11/2012 của Chính phủ về sản xuất, kinh doanh rượu.

Kinh doanh rượu thuộc danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện.Tổ chức, cá nhân sản xuất rượu công nghiệp, sản xuất rượu thủ công nhằm mục đích kinh doanh, phân phối rượu, bán buôn rượu, bán lẻ rượu, bán rượu tiêu dùng tại chỗ phải có giấy phép theo quy định tại Nghị định. Tổ chức, cá nhân sản xuất rượu thủ công để bán cho doanh nghiệp có Giấy phép sản xuất rượu công nghiệp để chế biến lại phải đăng ký với Ủy ban nhân dân cấp xã. Trường hợp không bán rượu cho doanh nghiệp có Giấy phép sản xuất rượu công nghiệp, tổ chức, cá nhân sản xuất rượu thủ công phải làm thủ tục cấp Giấy phép sản xuất rượu thủ công nhằm mục đích kinh doanh.

Thẩm quyền cấp giấy phép như sau:
– Bộ Công Thương cấp Giấy phép sản xuất rượu công nghiệp có quy mô từ 03 triệu lít/ năm trở lên và Giấy phép phân phối rượu;
– Sở Công Thương cấp Giấy phép sản xuất rượu công nghiệp có quy mô dưới 03 triệu lít/ năm và Giấy phép bán buôn rượu trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
– Phòng Kinh tế hoặc Phòng Kinh tế và Hạ tầng thuộc Ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh cấp Giấy phép sản xuất rượu thủ công nhằm mục đích kinh doanh, Giấy phép bán lẻ rượu và Giấy phép bán rượu tiêu dùng tại chỗ trên địa bàn quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh;

Rượu đã có quy chuẩn kỹ thuật phải được công bố hợp quy và đăng ký bản công bố hợp quy với cơ quan nhà nước có thẩm quyền trước khi đưa ra lưu thông trên thị trường. Rượu chưa có quy chuẩn kỹ thuật phải được công bố phù hợp quy định an toàn thực phẩm và đăng ký bản công bố phù hợp quy định an toàn thực phẩm với cơ quan nhà nước có thẩm quyền trước khi đưa ra lưu thông trên thị trường cho đến khi quy chuẩn kỹ thuật tương ứng được ban hành và có hiệu lực.

Rượu sản xuất để tiêu thụ trong nước và rượu nhập khẩu phải được dán tem và ghi nhãn hàng hóa theo quy định, trừ trường hợp rượu được sản xuất thủ công để bán cho doanh nghiệp có Giấy phép sản xuất rượu công nghiệp để chế biến lại; rượu bán thành phẩm nhập khẩu không phải dán tem.

Ngoài ra, tại Thông tư này, một số hành vi trước đây bị coi là vi phạm pháp luật về kinh doanh rượu nay đã được loại bỏ hoặc quy định gộp thành 7 hành vi: Kinh doanh rượu không có giấy phép hoặc không đúng với nội dung ghi trong giấy phép theo quy định tại Nghị định này; sử dụng cồn thực phẩm không đáp ứng quy chuẩn, cồn công nghiệp hoặc nguyên liệu bị cấm khác để sản xuất, pha chế rượu; cho thuê, cho mượn Giấy phép kinh doanh rượu; trưng bày, mua, bán, lưu thông, tiêu thụ các loại rượu không có tem, nhãn đúng quy định của pháp luật, rượu không bảo đảm tiêu chuẩn, chất lượng, an toàn thực phẩm, rượu không có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng; bán rượu cho người dưới 18 tuổi, bán rượu có nồng độ cồn từ 15 độ trở lên qua mạng Internet, bán rượu bằng máy bán hàng tự động; quảng cáo, khuyến mại rượu trái quy định của pháp luật.
 

Thông tư số 106/2017/TT-BTC ngày 06/10/2017 của Bộ Tài chính quy định về mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí thẩm định tiêu chuẩn hành nghề đấu giá tài sản, phí thẩm định điều kiện đăng ký hoạt động của doanh nghiệp đấu giá tài sản
Trả lời

Ngày 16/10/2017, Bộ tài chính đã ban hành Thông tư số 106/2017/TT-BTC (có hiệu lực ngày 21/11/2017) có nội dung quy định về mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí thẩm định tiêu chuẩn hành nghề đấu giá tài sản, phí thẩm định điều kiện đăng ký hoạt động của doanh nghiệp đấu giá tài sản thay thế cho Thông tư số 221/2016/TT-BTC ngày 10/11/2016 và các văn bản hướng dẫn có liên quan. Căn cứ vào nội dung Thông tư số 106/2017/TT-BTC có một số thay đổi, quy định mới so với các văn bản hướng dẫn trước đây, cụ thể:           

Phí thẩm định tiêu chuẩn hành nghề đấu giá tài sản được điều chỉnh mới cụ thể như sau: Mức phí tham dự kiểm tra kết quả tập sự là 2.700.000VNĐ; mức phí cấp Chứng chỉ hành nghề đấu giá là 800.000VNĐ. Bên cạnh đó, mức phí thẩm định điều kiện đăng ký hoạt động của doanh nghiệp đấu giá tài sản cũng được điều chỉnh như sau: Mức phí Cấp mới Giấy đăng ký hoạt động của doanh nghiệp đấu giá tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 25 Luật đấu giá tài sản là 1.000.000VNĐ; cấp mới Giấy đăng ký hoạt động của doanh nghiệp đấu giá tài sản theo quy định tại Điều 6, Điều 7 Nghị định số 62/2017/NĐ-CP là 500.000VNĐ; mức phí thay đổi nội dung đăng ký hoạt động, cấp lại Giấy đăng ký hoạt động của doanh nghiệp đấu giá tài sản là 500.000VNĐ.

Biểu phí mới được xây dựng xuất cơ sở thực tiễn, có tính toán tới những giá trị chi phí cần thiết để thực hiện nhiệm vụ của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Việc nắm bắt kịp thời các thông tin mới liên quan tới biểu phí sẽ là cơ sở giúp các cá nhân, tổ chức có thể nhanh chóng cân đối tài chính để thực hiện thủ tục một cách chủ động và hiệu quả nhất.

Thông tư số 110/2017/TT-BTC ngày 20/10/2017 do Bộ Tài chính ban hành quy định mới về việc bổ sung biểu mức thu phí thẩm định điều kiện kinh doanh trong hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động, huấn luyện an toàn vệ sinh lao động
Trả lời

Ngày 20/10/2017, Bộ tài chính đã ban hành Thông tư số 110/2017/TT-BTC (có hiệu lực từ ngày 11/12/2017) có nội dung quy định bổ sung về biểu mức thu phí thẩm định điều kiện kinh doanh trong hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động; huấn luyện an toàn vệ sinh lao động, thay cho biểu mức phí đang được áp dụng tại Thông tư số 245/2016/TT-BTC ngày 11/11/2016. Đáng lưu ý, có nhiều mức phí được điều chỉnh giảm xuống, cụ thể: Mức phí đối với cấp mới, cấp gia hạn giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động giảm từ 16.000.000VNĐ xuống thành 15.000.000VNĐ; mức phí đối với cấp lại khi bổ sung lĩnh vực hoạt động giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động giảm từ 5.500.000VNĐ xuống 5.000.000VNĐ; mức phí đối với cấp mới, cấp gia hạn giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động giảm từ 21.500.000VNĐ xuống 20.500.000VNĐ; mức phí đối với cấp lại khi bổ sung lĩnh vực hoạt động giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động tăng từ 6.500.000VNĐ lên 7.000.000VNĐ; mức phí đối với cấp, cấp gia hạn giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động giảm từ 1.300.000VNĐ xuống 1.200.000VNĐ; mức phí đối với cấp lại khi bổ sung lĩnh vực hoạt động giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động giảm từ 550.000VNĐ xuống 500.000VNĐ.

Việc tăng, giảm biểu mức thu phí thẩm định cho mỗi trường hợp cụ thể dựa trên sự tính toán chi phí cần thiết thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị triển khai kinh doanh hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động; huấn luyện an toàn vệ sinh lao động.

Công văn số 7228/TCHQ-TXNK ngày 06/11/2017 của Tổng cục Hải quan quy định về hoàn trả tiền thuế tự vệ đã nộp do Tổng cục Hải quan ban hành
Trả lời

Ngày 06/11/2017, trả lời công văn của doanh nghiệp – Công ty Cổ phần Que hàn điện Việt Đức, Tổng cục Hải quan ban hành Công văn số 7728/TCHQ- TXNK trả lời doanh nghiệp về vướng mắc việc nộp C/O,  hoàn trả tiền thuế tự vệ đã nộp do Tổng cục Hải quan ban hành. Theo đó Cơ quan này trả lời:
Ngày 07/7/2017, Bộ Công Thương có công văn số 6046/BCT-QLCT trả lời kiến nghị của Công ty, theo đó, Bộ Công Thương khẳng định: theo văn bản số 3410/TCHQ-TXNK ngày 23/5/2017 của Tổng cục Hải quan, với trường hợp được Công ty trình bày trong kiến nghị ngày 03/6/2017 do Công ty không phải là người nộp thuế theo quy định tại Điều 49 và Điều 132 Thông tư số 38/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 của Bộ Tài chính nên Tổng cục Hải quan không có cơ sở pháp lý để hoàn trả lại thuế tự vệ đã nộp cho Công ty. Ý kiến của Tổng cục Hải quan là hoàn toàn phù hợp với pháp luật hiện hành.

Ngày 19/9/2017, Bộ Công Thương có công văn số 8676/BCT-PVTM gửi Bộ Tài chính, theo đó Bộ Công Thương tiếp tục khẳng định: ý kiến của Tổng cục Hải quan là đúng theo quy định của pháp luật hiện hành.
Như vậy, vướng mắc tại công văn 6356/VPCP-ĐMDN của Công ty liên quan đến việc hoàn trả tiền thuế tự vệ đã nộp đã được hướng dẫn tại công văn số 3410/TCHQ-TXNK của Tổng cục Hải quan và công văn số 6046/BCT-QLCT của Bộ Công Thương. Tổng cục Hải quan đề nghị Công ty căn cứ hướng dẫn tại các văn bản nêu trên để thực hiện.
Ngoài ra, đề nghị Công ty liên hệ với Bộ Công Thương để xem xét việc sửa đổi, bổ sung Điều 1 Quyết định 3914/QĐ-BCT về việc miễn trừ áp dụng biện pháp tự vệ đối với các công ty nhập khẩu thép dây có mã HS 7227.90.00 để sản xuất vật liệu hàn được áp dụng đối với cả trường hợp doanh nghiệp sản xuất có tên tại Quyết định 3914/QĐ-BCT nhưng không nhập khẩu mà mua thép từ các công ty thương mại nhập khẩu (Quyết định 3914/QĐ-BCT thuộc thẩm quyền ban hành của Bộ Công Thương).

Việc ban hành công văn trả lời doanh nghiệp về việc hoàn trả tiền thuế tự về đã nộp của Tổng cục Hải quan tạo thêm niềm tin của các cá nhân, tổ chức khi kinh doanh hàng nhập khẩu tiếp tục phát triển cùng với nền kinh tế đất nước. Công văn này cũng có giá trị tham khảo đối với các doanh nghiệp rơi vào trường hợp tương tự.
 

Công văn số 7725/TCHQ/GSQL ngày 06/11/2017 của Tổng cục Hải quan về việc tăng cường công tác kiểm tra, xuất xứ, nhãn hàng hóa
Trả lời

Ngày 06/11/2017, Tổng cục Hải quan ban hành Công văn số 7725/TCHQ-GSQL về việc tăng cường công tác kiểm tra xuất xứ, nhãn hàng hóa, Theo Công văn số 7725/TCHQ-GSQL việc tăng cường công tác kiểm tra xuất xứ nhãn hàng hóa sẽ được các Cục Hải quan các tỉnh thực hiện như sau:

1. Tổng cục Hải quan yêu cầu Cục Hải quan các tỉnh, thành phố chỉ đạo các Chi cục Hải quan trực thuộc tăng cường công tác kiểm tra xuất xứ, nhãn hàng hóa theo đúng quy định tại Nghị định số 19/2006/NĐ-CP ngày 20/2/2006 về xuất xứ hàng hóa, Thông tư số 38/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 của Bộ Tài chính quy định về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quy trình kiểm tra xác định xuất xứ ban hành kèm theo Quyết định số 4286/QĐ-TCHQ ngày 31/12/2015, Nghị định 43/2017/NĐ-CP ngày 14/4/2017 của Chính Phủ về ghi nhãn hàng hóa và các công văn hướng dẫn của Bộ Tài chính.

2. Trường hợp có nghi vấn liên quan đến khai báo xuất xứ, các thông tin thể hiện trên nhãn hàng hóa thì Chi cục hải quan nơi làm thủ tục hải quan chủ động chuyển luồng để kiểm tra thực tế hàng hóa xác minh nghi vấn.

3. Khi phát hiện có vi phạm về xuất xứ, nhãn hàng hóa, yêu cầu Cục Hải quan các tỉnh, thành phố báo cáo kèm hồ sơ liên quan về Cục Giám sát quản lý – Tổng cục Hải quan.
Công văn số 7725/TCHQ-GSQL của Tổng cục Hải quan mang tính chỉ đạo để các địa phương thắt chặt việc nhập khẩu các hàng hóa một cách ồ ạt khó xác định nguồn gốc xuất xứ, hàng nhập lậu và rà soát các loại hàng hóa đạt tiêu chuẩn trước khi đưa vào thị trường Việt Nam nhằm tạo ra một thị trường bền vững, lành mạnh.

Thông tư số 40/2017/TT-BGTVT ngày 09/11/2017 của Bộ Giao thông Vận tải hướng dẫn việc dán nhãn năng lượng đối với xe ô tô con loại trên 07 chỗ đến 09 chỗ
Trả lời

Ngày 09/11/2017, Bộ Giao thông vận tải ban hành Thông tư số 40/2017/TT-BGTVT hướng dẫn việc dán nhãn năng lượng đối với xe ô tô con loại trên 07 chỗ đến 09 chỗ. Theo đó, các tổ chức, cá nhân có liên quan đến sản xuất lắp ráp, nhập khẩu, kinh doanh xe, kiểm tra, thử nghiệm mức tiêu thụ nhiên liệu và chứng nhận dán nhãn năng lượng xe sẽ phải thực hiện việc dán nhãn năng lượng đối với xe ô tô con loại trên 07 cho đến 09 chỗ được sản xuất, lắp ráp từ linh kiện rời hoàn toàn mới hoặc nhập khẩu chưa qua sử dụng. Cụ thể như sau:
–  Từ ngày 01/01/2018, xe ôtô con loại trên 7 – 9 chỗ được sản xuất, lắp ráp từ linh kiện rời, hoàn toàn mới; xe nhập khẩu chưa qua sử dụng phải được dãn năng lượng trước khi đưa ra thị trường.
– Các trường hợp tự công bố mức tiêu thụ nhiên liệu và dán nhãn năng lượng quy định tại khoản 1 Điều 5 của Thông tư này được thực hiện đến hết ngày 31/12/2018.
Nhãn năng lượng của xe được hiểu là nhãn cung cấp các thông tin liên quan đến loại nhiên liệu sử dụng, mức tiêu thụ nhiên liệu của xe giúp người tiêu dùng nhận biết và lựa chọn xe theo nhu cầu.

Ngoài ra, Thông tư cũng quy định rõ các đối tượng sẽ không bắt buộc áp dụng việc dán nhãn năng lượng, bao gồm:
– Xe được sản xuất, lắp ráp, nhập khẩu sử dụng trực tiếp vào mục đích quốc phòng, an ninh của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an;
– Xe tạm nhập tái xuất; xe quá cảnh, chuyển khẩu; xe của ngoại giao, lãnh sự;
– Xe nhập khẩu đơn chiếc và không vì mục đích kinh doanh xe;
– Xe nhập khẩu theo quy định riêng của Thủ tướng Chính phủ;
– Xe sử dụng nhiên liệu không phải là xăng, điêzen, khí dầu mỏ hóa lỏng, khí tự nhiên.
Thông tư 40/2017/TT-BGTVT quy định về dán nhãn năng lượng cho xe ôtô con loại trên 7 – 9 chỗ có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ người tiêu dùng, tránh việc doanh nghiệp, nhà sản xuất, nhập khẩu công bố mức tiêu thụ nhiên liệu của ôtô không đúng với thực tế, đồng thời cũng góp phần bảo vệ môi trường, tiết kiệm tiêu thụ năng lượng.