Nhiều ngân hàng tăng mạnh lãi suất huy động
Với mong muốn bổ sung thêm nguồn vốn trung, dài hạn để phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh cuối năm, đồng thời giảm...
Bùng nổ nhượng quyền thương hiệu vào Việt Nam
Hoạt động nhượng quyền đang được giới kinh doanh vận dụng để đưa các thương hiệu nước ngoài vào thị trường Việt Nam. Ngoài lĩnh...
6 ngành kinh tế phát triển mũi nhọn khu vực miền Trung
Có 6 lĩnh vực kinh tế biển, ven biển đang được các tỉnh miền Trung tập trung phát triển và đã đạt được những kết...
91.9% doanh nghiệp lạc quan về hoạt động sản xuất 6 tháng cuối năm
Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có tỷ lệ doanh nghiệp dự báo về khối lượng sản xuất khả...
Việt Nam chuyển dần từ nhập siêu sang xuất siêu với CPTPP
Với hầu hết các hiệp định thương mại (FTA) đã ký, Việt Nam thường nhập siêu, thì nay, khi thực hiện CPTTP, trong 7 tháng...
Giải đáp pháp luật
Công văn số 10365/BCT-TTTN ngày 04/11/2017 của Bộ Công thương về việc điều hành kinh doanh xăng dầu
Trả lời

Ngày 04 tháng 11 năm 2017, Bộ Công Thương ban hành Công văn 10365/BCT-TTTN về việc điều hành kinh doanh xăng dầu áp dụng với các thương nhân đầu mối kinh doanh xăng dầu. Theo Công văn này, việc kinh doanh xăng dầu có một số điều chỉnh như sau:

1. Giữ nguyên mức trích lập Quỹ Bình ổn giá xăng dầu đối với các mặt hàng xăng dầu như hiện hành.

2. Chi sử dụng Quỹ Bình ổn giá xăng dầu đối với các mặt hàng xăng dầu

– Xăng khoáng: 300 đồng/lít;

– Xăng E5: 300 đồng/lít;

– Dầu điêzen: 250 đồng/lít;

– Dầu hỏa: 200 đồng/lít;

– Dầu madút: 270 đồng/kg.

Sau khi thực hiện việc trích lập và chi sử dụng Quỹ Bình ổn giá xăng dầu, giá bán các mặt hàng xăng dầu tiêu dùng phổ biến trên thị trường không cao hơn mức giá:

– Xăng RON 92: không cao hơn 18.146 đồng/lít;

– Xăng E5: không cao hơn 17.858 đồng/lít;

– Dầu điêzen 0.05S: không cao hơn 14.611 đồng/lít;

– Dầu hỏa: không cao hơn 13.198 đồng/lít;

– Dầu madút 180CST 3.5S: không cao hơn 11.909 đồng/kg.

Việc điều chỉnh trên áp dụng từ 15 giờ 00 ngày 04 tháng 11 năm 2017.

Công văn được ban hành thể hiện sự nâng cao của năng lực quản lý Nhà nước trong lĩnh vực xăng dầu, thể hiện điều hành giá xăng dầu một cách công khai, minh bạch và duy trì mức bình ổn giá xăng dầu ổn định trên thị trường đáp ứng nhu cầu tiêu thụ loại mặt hàng này.

Chủ trương thoái vốn nhà nước trong các doanh nghiệp giai đoạn 2017-2020
Trả lời
Ngày 17 tháng 8 năm 2017, Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Quyết định số 1232/QĐ-TTg phê duyệt Danh mục doanh nghiệp (DN) mà Nhà nước sẽ thực hiện thoái vốn và tỉ lệthoái vốn tối thiểu theo từng năm của DN có vốn Nhà nước giai đoạn 2017-2020.
 
Thực trạng của quá trình thoái vốn hiện nay:
Tháng 5 năm 2017, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 707/QĐ-TTg về phê duyệt đề án “Cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là Tập đoàn kinh tế, tổng công ty Nhà nước giai đoạn 2016 – 2020” thì việc cổ phần hóa và thoái vốn nhà nước phải đáp ứng tối thiểu 250.000 tỷ đồng vốn cho đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016 – 2020 theo Nghị quyết 26/2016/QH14 của Quốc hội. Tuy nhiên với thực trạng cổ phần hóa và thoái vốn hiện nay còn chậm, cũng như gặp nhiều vướng mắc, để đạt được mục tiêu trên là rất khó khăn. 
Báo cáo của Bộ Tài chính cho thấy, việc thoái vốn tại các doanh nghiệp nhà nước nửa đầu năm không mấy khả quan với con số các tập đoàn, tổng công ty đã thoái được 3.466 tỷ đồng và thu về 14.842 tỷ đồng. Tuy nhiên, con số thu về này phần lớn nhờ việc bán vốn tại Công ty cổ phần sữa Việt Nam (Vinamilk), đã thực hiện từ cuối năm ngoái với tổng vốn hơn 11.200 tỷ đồng. 
Nếu việc thoái vốn tại nhiều tập đoàn tổng công ty lớn như Tổng Công ty cổ phần Bia – Rượu – Nước giải khát Sài Gòn (Sabeco), Tổng Công Ty cổ phần Bia – Rượu – Nước giải khát Hà Nội (Habeco), Vinamilk… được thực hiện theo kế hoạch thì số tiền thu về từ thoái vốn sẽ tăng lên rất nhiều. Tuy nhiên phương án thoái vốn của các đơn vị này hiện vẫn chưa được “chốt”. 
Theo thông tin từ Phó Cục trưởng Cục Tài chính Doanh nghiệp (Bộ Tài chính) thì việc tiếp tục thoái vốn nhà nước tại Vinamilk vẫn đang chờ Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. 
Hay tại Habeco và Sabeco, mặc dù đã tiến hành cổ phần hóa nhưng hiện Nhà nước vẫn nắm lượng lớn cổ phần. Từ năm 2016, Bộ Công Thương đã xây dựng lộ trình thoái vốn của từng doanh nghiệp; trong đó Habeco sẽ thoái toàn bộ 81,79% vốn thuộc sở hữu Nhà nước trong năm 2016; Sabeco sẽ chia ra làm hai đợt bán 89,59% vốn Nhà nước trong năm 2017. 
Tuy nhiên đến nay, việc thoái vốn của Habeco và Sabeco vẫn đang gặp nhiều khó khăn, mặc dù Bộ Công Thương đã thành lập cả Ban chỉ đạo và Tổ giúp việc. Đến nay, dù hai doanh nghiệp đã lên sàn nhưng các đơn vị mới đang xây dựng đề án thoái vốn để trình Chính phủ trước ngày 31/7/2017 và dự kiến sẽ thực hiện trong năm 2017. Quá trình thoái vốn của các Doanh nghiệp lớn này gặp nhiều khó khăn một phần liên quan đến các văn bản quy phạm pháp luật; còn phần lớn còn lại là do các tập đoàn, tổng công ty trực thuộc Bộ phần lớn đều có tài sản lớn, địa bàn rộng, các dự án đầu tư dở dang, dẫn đến thời gian xác định giá trị doanh nghiệp kéo dài làm ảnh hưởng đến các tiến độ thực hiện nên yêu cầu phải có sự phối kết hợp giữa các Bộ, ngành và địa phương.
 
Mục đích của việc ban hành Danh mục doanh nghiệp mà Nhà nước sẽ thoái vốn: 
Nhằm đẩy nhanh tiến độ bán vốn Nhà nước tại các DN mà Nhà nước không cần nắm giữ gắn với việc bảo đảm nguồn thu cho phù hợp với Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020; thúc đẩy quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) để tập trung vào những khâu, công đoạn then chốt của nền kinh tế. 

 
Số lượng, lộ trình và phương án thoái vốn:
Tổng số lượt DN mà Nhà nước sẽ thoái vốn là 406 lượt DN, được chia ra theo từng năm để các bộ, địa phương thực hiện thoái vốn. Cụ thể, năm 2017 phải thoái ở 135 DN, năm 2018 thoái ở 181 DN, năm 2019 thoái ở 62 DN và năm 2020 thoái ở 28 DN. Trong danh sách này, có một số DN sẽ thoái vốn vài đợt trong khoảng thời gian này.
Điểm qua một số DNNN lớn trong danh sách này cho thấy, Tổng Công ty Máy động lực và Máy nông nghiệp Việt Nam (thuộc Bộ Công Thương) phải thoái 52,47% tỉ lệ vốn tối thiểu (so với vốn điều lệ) trong năm 2017 và tới năm 2020 DN này sẽ phải thoái tiếp 36% nữa.
Ở Bộ Giao thông vận tải, Tổng Công ty Cảng hàng không Việt Nam cũng phải thoái vốn hai lần. Lần đầu tiên sẽ thoái 20% tỉ lệ vốn tối thiểu vào năm 2018 và tới năm 2020 sẽ thoái tiếp 10,40%. Còn Tổng Công ty Hàng không Việt Nam sẽ thoái một lần, tối thiểu 35,16% vào năm 2019…

 
Nhiệm vụ đặt ra cho các bộ, ban, ngành và các cơ quan liên quan:
Để thực hiện thành công Quyết định, yêu cầu các Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết liệt tổ chức thực hiện thoái vốn theo tiến độ và tỉ lệ đã được phê duyệt tại Danh mục kèm theo Quyết định này theo đúng quy định của pháp luật và chịu trách nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về kết quả thực hiện nhiệm vụ thoái vốn Nhà nước theo Quyết định này; rà soát, báo cáo Thủ tướng Chính phủ bổ sung kịp thời việc thoái vốn Nhà nước tại các DN chưa có trong Danh sách.
Quyết định số 1232/QĐ-TTg cũng yêu cầu người đứng đầu bộ, ngành, địa phương chủ động căn cứ tình hình thị trường và thực tế tại DN để đẩy nhanh tiến độ và tăng tỉ lệ thoái vốn so với tỉ lệ tối thiểu hằng năm đã được phê duyệt; bổ sung thêm DN thực hiện thoái vốn sớm hơn nhưng cần bảo đảm hiệu quả, công khai, minh bạch. Đồng thời yêu cầu người đứng đầu bộ, địa phương nghiêm túc thực hiện chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu vốn Nhà nước về Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) đối với các DN thuộc diện chuyển giao theo quy định của pháp luật. Sau khi tiếp nhận, SCIC có trách nhiệm thực hiện thoái vốn theo Quyết định này.
Trước ngày 25 tháng cuối của quý và trước ngày 25/12 hằng năm, gửi báo cáo về tình hình triển khai thực hiện đến Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển DN, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư để tổng hợp, theo dõi.
Đối với một số DN đặc thù hoặc có quy mô lớn sẽ thực hiện theo Quyết định riêng của cấp có thẩm quyền. Đó là các công ty nông, lâm nghiệp và các công ty con và công ty liên kết của tập đoàn kinh tế, tổng công ty Nhà nước chưa thực hiện cổ phần hóa; DN thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, UBND TPHCM, Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước; Tổng Công ty Bia-Rượu-Nước giải khát Hà Nội; Tổng Công ty Bia-Rượu-Nước giải khát Sài Gòn; Bệnh viện Giao thông vận tải; Công ty TNHH Truyền hình số vệ tinh Việt Nam; Công ty Đầu tư Tháp truyền hình Việt Nam.
Ý nghĩa của việc công bố Danh mục này:
Với 406 lượt DNNN phải thoái vốn từ nay tới năm 2020, tổng số vốn dự kiến thoái theo mệnh giá là khoảng 65.000 tỷ đồng, đây là một con số không hề nhỏ mà Ngân sách Nhà nước sẽ được thu về. 
Việc công bố Danh mục này là giải pháp quan trọng để các nhà đầu tư ngắm tới. Trước đây, Chính phủ chưa công bố nên các nhà đầu tư phải chờ đợi nhỏ giọt trong từng trường hợp cổ phần hoá, bán vốn tại DN cụ thể nên không hiệu quả cho cả hai bên. Giờ công bố rõ ràng ra thì nhà đầu tư nhìn thấy tổng thể các DNNN cần cổ phần hoá, bán vốn nên có nhiều lựa chọn để người ta tiếp cận ngay. Có thể nhận định rằng đây là giải pháp căn cơ để đẩy nhanh và đạt được hiệu quả cao trong quản trị DN của quá trình cổ phần hoá, bán vốn.

 
04 thay đổi lớn về chính sách BHXH bắt buộc từ ngày 01/01/2018
Trả lời

Mặc dù, Luật bảo hiểm xã hội 2014 có hiệu lực từ ngày 01/01/2016; Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 124 về Hiệu lực thi hành thì các quy định tại điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 2 của Luật này thì có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2018; Điều này kéo theo nhiều quy định của các Văn bản dưới Luật liên quan cũng sẽ được áp dụng từ ngày 01/01/2018, cụ thể như sau:

Thứ nhất, căn cứ Khoản 1 Điều 124 Luật BHXH 2014 thì ngoài các đối tượng phải tham gia BHXH bắt buộc theo quy định hiện hành thì kể từ ngày 01/01/2018 các đối tượng sau đây cũng phải tham gia BHXH bắt buộc, cụ thể:
Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 2 Luật BHXH 2014 thì Người lao động là công dân Việt Nam làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng sẽ thuộc đối tượng phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc. 
Theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Luật BHXH 2014 thì “Người lao động là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam có giấy phép lao động hoặc chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành nghề do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp được tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định của Chính phủ”.

Thứ hai, căn cứ vào khoản 2 Điều 30 Thông tư 59/2015/TT-BLĐTB-XH thì kể từ ngày 01/01/2018 tiền lương đóng BHXH bắt buộc sẽ thay đổi, cụ thể: 
Hiện nay, phương pháp tính tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Thông tư 59/2015/TT-BLĐTB-XH. Theo đó, tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội sẽ là tổng mức lương và phụ cấp lương. 
Phương pháp tính này sẽ được thay đổi kể từ ngày 01/01/2018. Theo quy định tại khoản 2 Điều 30 Thông tư 59/2015/TT-BLĐTB-XH thì tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội là tổng mức lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác. Trong đó: Khoản bổ sung phải xác định được mức tiền cụ thể cùng với mức lương thỏa thuận trong hợp đồng lao động và trả thường xuyên trong mỗi kỳ trả lương.
Điều 30. Tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc
Tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội đối với người lao động đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định được quy định như sau:


2. Từ ngày 01 tháng 01 năm 2018 trở đi, tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội là mức lương, phụ cấp lương theo quy định tại khoản 1 Điều này và các khoản bổ sung khác theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 4 của Thông tư số 47/2015/TT-BLĐTBXH.”

Thứ ba, phạt đến 07 năm tù với người có nghĩa vụ nhưng không đóng BHXH cho người lao động 
Nhằm hạn chế tình trạng nợ đọng, trốn đóng BHXH bắt buộc cho người lao động, Bộ luật hình sự 2015 đã bổ sung tội phạm quy định liên quan đến hành vi nêu trên, cụ thể như sau:
“Điều 216. Tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động
1. Người nào có nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động mà gian dối hoặc bằng thủ đoạn khác để không đóng hoặc không đóng đầy đủ theo quy định từ 06 tháng trở lên thuộc một trong những trường hợp sau đây, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:
a) Trốn đóng bảo hiểm từ 50.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng;
b) Trốn đóng bảo hiểm cho từ 10 người đến dưới 50 người lao động.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng năm đến 03 năm:
a) Phạm tội 02 lần trở lên;
b) Trốn đóng bảo hiểm từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;
c) Trốn đóng bảo hiểm cho từ 50 người đến dưới 200 người;
d) Không đóng số tiền bảo hiểm đã thu hoặc đã khấu trừ của người lao động quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản 1 Điều này.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Trốn đóng bảo hiểm 1.000.000.000 đồng trở lên;
b) Trốn đóng bảo hiểm cho 200 người trở lên;
c) Không đóng số tiền bảo hiểm đã thu hoặc đã khấu trừ của người lao động quy định tại điểm b hoặc điểm c khoản 2 Điều này.”

Như vậy, kể từ ngày 01/01/2018 (ngày Bộ luật hình sự 2015) có hiệu lực, người nào có nghĩa vụ mà không thực hiện đóng BHXH cho người lao động sẽ có thể bị phạt tù đến 07 năm.

Thứ tư, tăng số năm đóng BHXH để được hưởng mức lương hưu tối đa
Theo quy định tại Luật BHXH 2014 thì mức hưởng lương hưu tối đa là 75% mức tiền lương bình quân tháng đóng BHXH.
Dưới đây là bảng so sánh quy định về số năm người lao động phải đóng BHXH để được hưởng mức lương hưu tối đa nêu trên dựa trên quy định tại Khoản 1, 2 Điều 56 Luật BHXH 2014:

                                          Hiện nay                                          Từ 01/01/2018
Lao động nữ       Từ đủ 25 năm đóng BHXH         Từ đủ 30 năm đóng BHXH
Lao động nam     Từ đủ 30 năm BHXH trở lên     Từ đủ 31 năm đóng BHXH (nếu nghỉ hưu vào năm 2018)
                                                                                          Từ đủ 32 năm đóng BHXH (nếu nghỉ hưu vào năm 2019)
                                                                                          Từ đủ 33 năm đóng BHXH (nếu nghỉ hưu vào năm 2020)
                                                                                          Từ đủ 34 năm đóng BHXH (nếu nghỉ hưu vào năm 2021)
                                                                                          Từ đủ 35 năm đóng BHXH (nếu nghỉ hưu từ năm 2022 trở đi)

 

Nên hiểu thế nào về “Hội nhập kinh tế quốc tế”?
Trả lời
Song song với công cuộc đổi mới bên trong, nước ta đã hội nhập ngày càng sâu rộng với nền kinh tế quốc tế theo các thang bậc: Từ hẹp đến rộng về đối tác và lĩnh vực cam kết, từ thấp tới cao về mức độ cam kết. Trên thực tế, nước ta trước hết đã hội nhập vào Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA), tiếp đến là các diễn đàn Á – Âu (ASEM), châu Á – Thái Bình Dương (APEC) rồi Tổ chức thương mại thế giới (WTO) là tổ chức toàn cầu. Ngày nay nước ta tham gia đàm phán, ký kết các thỏa thuận về FTA rộng hơn, theo tiêu chuẩn cao hơn với EU, Liên minh Á – Âu, Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), Khu vực thương mại tự do châu Âu (EFTA)…
Như vậy là nước ta đã hội nhập kinh tế quốc tế tròn hai mươi năm. Ấy vậy mà trong dư luận xã hội vẫn tồn tại nhiều tâm tư lạc quan quá mức, tưởng như nhờ hội nhập nước ta sẽ sớm hóa rồng – Hoặc băn khoăn, lo lắng thái quá, coi như nước ta lụn bại tới nơi. Bên cạnh đó, những công việc chuẩn bị cụ thể để đón lấy cơ hội và ứng phó với thách thức lại khá thiếu vắng.
Vì vậy, nên chăng trở lại vài khái niệm gốc?
Một là, nên hiểu hội nhập kinh tế quốc tế là gì?
Phải chăng đó là gắn kết nước mình vào các thể chế kinh tế khu vực và quốc tế trên cơ sở các luật chơi chung? Về đại thể, đó là các quy định nhằm tự do hóa thương mại, dịch vụ, đầu tư như: Giảm thiểu rồi đi tới bãi bỏ các quy định hành chính phi quan thuế; giảm thiểu và đi tới xóa bỏ hàng rào quan thuế; mở cửa thị trường với mức độ và lộ trình khác nhau; hình thành sân chơi bình đẳng cho mọi loại hình doanh nghiệp; xóa bỏ bao cấp đối với hoạt động kinh doanh có liên quan tới thị trường bên ngoài; áp dụng những quy định chung về mua sắm chính phủ, hải quan, bảo vệ tài sản trí tuệ, vệ sinh an toàn thực phẩm, các tiêu chuẩn về môi trường sinh thái, lao động, các quy định về tự vệ, chống bán phá giá…
Hai là, tại sao phải hội nhập?
Lịch sử toàn thế giới cho thấy nước nào đóng cửa thì không phát triển được vì không có “cầu” thì “cung” sẽ teo tóp; không tiếp thu được các nguồn lực bên ngoài như vốn, công nghệ…thì sẽ chìm trong tình trạng lạc hậu. Chẳng thế mà các nước mạnh hay áp dụng thủ đoạn bao vây, cấm vận để bóp nghẹt các nền kinh tế mà họ không ưa. Dưới tác động của nhu cầu phát triển, xu thế quốc tế hóa rồi toàn cầu hóa nẩy sinh, lan tỏa, lôi cuốn các quốc gia vào dòng chảy toàn cầu, nhờ vậy dòng hàng hóa, vốn đầu tư, dịch vụ, thông tin, lao động, phương tiện vận tải lan tỏa ra toàn thế giới. Xuất phát từ nhu cầu phát triển và nhận thức được những xu thế, quy luật khách quan đó nên nước ta đã chủ trương hội nhập.
Ba là, vị trí của hội nhập trong sự phát triển của đất nước ra sao?
Như trên đã nói, hội nhập là đòi hỏi khách quan nên nó là điều kiện cần nhưng chưa đủ; tiền đề có ý nghĩa quyết định là nội lực. Nói cho cùng, thắng bại tùy thuộc vào huấn luyện viên (Nhà nước) và cầu thủ (người sản xuất kinh doanh) giỏi hay kém. Chữ “giỏi” ở đây nên hiểu theo nghĩa rộng: Cả phần cứng (cơ cấu kinh tế) lẫn phần mềm (thể chế và tài điều hành, kinh doanh).
Có người nói: “Khả năng cạnh tranh của đất nước và những người sản xuất kinh doanh còn kém thì hội nhập thua là cái chắc”. Để giải đáp cho câu hỏi này có lẽ nên đặt câu hỏi ngược lại: Nếu cứ bảo hộ thật chặt, không chấp nhận cạnh tranh thông qua hội nhập thì liệu mình có lớn lên được không? Trên đời, nhất là trên thương trường, không có cái gì chỉ đem lại mối lợi mà không đặt ra thách thức cả; trong hội nhập có thể ngành hàng này được lợi nhiều, ngành hàng khác chịu thua thiệt và phải tự đổi mới mình; mọi cam kết đều là có đi có lại, mình được mối lợi này thì phải chia sẻ mối lợi kia.
Bốn là, vậy điều kiện cần có khi hội nhập là gì?
Điều trước tiên là sự hiểu biết: Hiểu biết nội dung các thỏa thuận, tức luật chơi (mức độ, điều kiện, lộ trình…), hiểu biết nhu cầu của thế giới, hiểu biết đối tác, hiểu biết tình hình và xu thế kinh tế thế giới, hiểu biết luật lệ của nước mình… Điều thứ hai là dựa trên các kiến thức ấy để hoạch định chiến lược kinh doanh của mình, phát huy thế mạnh, hóa giải những mặt yếu. Điều thứ ba là Nhà nước và các hiệp hội ngành hàng cung cấp thông tin, hướng dẫn cho các doanh nghiệp cung cách làm ăn và đặc biệt là Nhà nước cần tạo ra những điều kiện thuận lợi nhất có thể để họ làm ăn, áp dụng nhưng biện pháp thích hợp, không trái với cam kết quốc tế để bảo vệ họ.
                                                                                                                                                         Theo: Vũ Khoan
Đăng ký phương pháp tính thuế GTGT theo quy định mới của Thông tư 93/2017/TT-BTC có hiệu lực từ ngày 05/11/2017
Trả lời
Ngày 19/9/2017, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 93/2017/TT-BTC sửa đổi, bổ sung Khoản 3, Khoản 4 Điều 12 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 (đã được sửa đổi, bổ sung tại Thông tư số 119/2014/TT-BTC ngày 25/8/2014) và bãi bỏ Khoản 7 Điều 11 Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ Tài chính để cải cách thủ tục hành chính trong việc đăng ký và chuyển đổi phương pháp tính thuế GTGT nhằm tạo thuận lợi cho doanh nghiệp. Thông tư số 93/2017/TT-BTC có hiệu lực ngày 05/11/2017.
Các Doanh nghiệp cần lưu ý thực hiện những nội dung mới của Thông tư số 93/2017/TT-BTC ngày 19/9/2017 của Bộ Tài chính, cụ thể như sau:
 
1. Kể từ ngày 05/11/2017 thực hiện theo hướng dẫn tại Điều 1 Thông tư số 93/2017/TT-BTC thì các doanh nghiệp, hợp tác xã khi thực hiện đăng ký phương pháp tính thuế GTGT với cơ quan thuế sẽ không cần phải nộp Mẫu 06/GTGT để đăng ký áp dụng thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ đối với “cơ sở kinh doanh mới thành lập và cơ sở kinh doanh đang hoạt động có doanh thu chịu thuế GTGT dưới một tỷ đồng” như trước đây.
 
2. Bỏ hướng dẫn nộp Mẫu 06/GTGT khi chuyển đổi phương pháp tính thuế GTGT.
Trước đây, theo quy định tại khoản 7 Điều 11 Thông tư 156/2013/TT-BTC hướng dẫn thi hành một số Điều của Luật Quản lý thuế; Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật Quản lý thuế và Nghị định số 83/2013/NĐ-CP ngày 22/7/2013 của Chính phủ thì: 
“Người nộp thuế đang áp dụng tính thuế giá trị gia tăng theo phương pháp trực tiếp, nếu đáp ứng điều kiện tính thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ theo quy định của pháp luật về thuế GTGT; hoặc người nộp thuế đang áp dụng tính thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ chuyển sang phương pháp trực tiếp thì gửi văn bản thông báo đến cơ quan thuế quản lý trực tiếp về việc chuyển đổi phương pháp tính thuế giá trị gia tăng theo mẫu số 06/GTGT ban hành kèm theo Thông tư này.
           Trường hợp người nộp thuế từ 01/01/2014 thuộc đối tượng được tự nguyện áp dụng phương pháp khấu trừ theo quy định của pháp luật về thuế giá trị gia tăng thì gửi văn bản thông báo đến cơ quan thuế quản lý trực tiếp về việc áp dụng phương pháp tính thuế giá trị gia tăng theo mẫu số 06/GTGT ban hành kèm theo Thông tư này.
           Người nộp thuế phải gửi Thông báo về việc áp dụng phương pháp tính thuế tới cơ quan thuế quản lý trực tiếp trước ngày 20 tháng 12 của năm trước liền kề năm người nộp thuế thực hiện phương pháp tính thuế mới hoặc năm người nộp thuế tự nguyện áp dụng theo phương pháp khấu trừ.”
Tuy nhiên, hiện nay theo hướng dẫn tại Điều 2 của Thông tư 93/2017/TT-BTC thì kể từ ngày 05/11/2017 quy định nêu trên đã được bãi bỏ.
 
3. Đồng thời Thông tư số 93/2017/TT-BTC cũng bổ sung quy định hướng dẫn Phương pháp tính thuế GTGT của cơ sở kinh doanh xác định theo Hồ sơ khai thuế giá trị gia tăng hướng dẫn tại Điều 11 Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ Tài chính (đã được sửa đổi, bổ sung tại Điều 1 Thông tư số 119/2014/TT-BTC ngày 25/8/2014 và Điều 2 Thông tư số 26/2015/TT-BTC ngày 27/2/2015 của Bộ Tài chính).
Như vậy, kể từ ngày 05/11/2017 khi Thông tư số 93/2017/TT-BTC có hiệu lực thì việc xác định phương pháp tính thuế GTGT căn cứ theo Hồ sơ khai thuế GTGT do cơ sở kinh doanh gửi đến cơ quan thuế, cụ thể:
Đối với cơ sở kinh doanh đăng ký áp dụng thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thì gửi Tờ khai thuế GTGT Mẫu số 01/GTGT, 02/GTGT đến cơ quan thuế.
Đối với cơ sở kinh doanh đăng ký áp dụng phương pháp trực tiếp thì gửi Tờ khai thuế GTGT Mẫu số 03/GTGT, 04/GTGT đến cơ quan thuế.
(Tờ khai thuế GTGT Mẫu số 01/GTGT, 02/GTGT, 03/GTGT và 04/GTGT ban hành kèm theo Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ Tài chính – đã được sửa đổi, bổ sung tại Thông tư số 119/2014/TT-BTC ngày 25/8/2014 và Thông tư số 26/2015/TT-BTC ngày 27/2/2015 của Bộ Tài chính).
 
Quyền của người lao động theo pháp luật pháp luật Việt Nam
Trả lời

Quyền của người lao động được coi là một trong những quyền cơ bản nhất trong phạm trù quyền con người mà các quốc gia trong đó có Việt Nam đã ghi nhận trong các văn bản pháp lý quốc tế nói chung và trong hệ thống pháp luật của từng nước nói riêng. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, vấn đề bảo đảm quyền lợi của người lao động ngày càng được coi trọng trên cơ sở coi người lao động là trực tiếp làm ra sản phẩm hàng hóa, dịch vụ trong thương mại quốc tế nên họ phải là người được hưởng lợi, được chia sẻ thành quả của quá trình này, họ phải được bảo đảm các quyền, lợi ích và các điều kiện lao động cơ bản.

Về cơ bản, pháp luật Việt Nam đã phù hợp với quy định của nhiều Điều ước quốc tế về quyền của người lao động. Các bản Hiến pháp của Việt Nam từ trước tới nay, Bộ luật Lao động cùng các văn bản hướng dẫn thi hành và các văn bản pháp luật liên quan đều ghi nhận, bảo đảm, bảo vệ quyền làm việc, tự do lựa chọn việc làm và các quyền cơ bản khác của người lao động, chẳng hạn như: Điều 5 Bộ luật Lao động 2012 quy định rằng: “Làm việc, tự do lựa chọn việc làm, nghề nghiệp, học nghề, nâng cao trình độ nghề nghiệp và không bị phân biệt đối xử”. Cũng theo quy định của pháp luật thì người lao động là người đủ 15 tuổi trở lên có khả năng lao động. Thời gian làm việc của người lao động không quá 8 giờ trong một ngày, 48 giờ trong một tuần. Tuy nhiên, người lao động và người sử dụng lao động có thể thỏa thuận làm thêm giờ nhưng không được quá 4 giờ trong một ngày và 200 giờ làm việc trong một năm. Để đảm bảo quyền của người lao động cũng như quyền của người sử dụng lao động, pháp luật cũng có các quy định về điều kiện lao động, chế độ tiền lương… Người lao động được trả lương theo thỏa thuận được ghi trong Hợp đồng lao động, mức lương mà người lao động được hưởng không thấp hơn mức lương tối thiểu do Chính phủ quy định trong từng thời điểm cụ thể. Ngoài ra, người lao động và người sử dụng lao động có thể thỏa thuận làm thêm giờ và lương của thời gian làm thêm giờ ít nhất bằng 150% của giờ làm việc trong ngày bình thường. Người sử dụng lao động có nghĩa vụ trang bị đầy đủ phương tiện bảo hộ lao động, bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao động và cải thiện điều kiện lao động cho người lao động.

Bộ luật Hình sự năm 2015 cũng có quy định xử lý nhiều hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực lao động, chẳng hạn như tội sa thải người lao động trái pháp luật (Điều 162); Tội xâm phạm quyền bình đẳng giới ở nhiều lĩnh vực trong đó có lĩnh vực lao động (Điều 165); Tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động (Điều 216); Tội vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở những nơi đông người (Điều 295); Tội cưỡng bức lao động (Điều 297)… Những quy định này góp phần tăng cường, bảo đảm tốt hơn quyền của người lao động tại Việt Nam, phù hợp với các tiêu chuẩn của pháp luật quốc tế về quyền của người lao động.

Đối với những nội dung liên quan đến xóa bỏ lao động cưỡng bức, lao động trẻ em, xóa bỏ phân biệt đối xử trong lao động, Việt Nam đã và đang triển khai một số chương trình hành động quốc gia để thực thi các tiêu chuẩn trên trong thực tiễn. Để tương thích với các tiêu chuẩn của ILO cũng như để bảo đảm tốt hơn các quyền cơ bản của người lao động, Việt Nam khẳng định sẽ tiếp tục hoàn thiện luật pháp và các cơ chế liên quan như: áp dụng chế tài hình sự đối với hành vi sử dụng lao động cưỡng bức hoặc lao động bắt buộc; cấm phân biệt đối xử về mọi khía cạnh của việc làm và nghề nghiệp; bảo đảm quyền tiếp cận việc làm bình đẳng của phụ nữ, bãi bỏ quy định cấm phụ nữ tham gia vào một số ngành nghề, công việc cụ thể…

Tôn chỉ, mục đích hoạt động của tổ chức của người lao động phải bảo đảm theo đúng các tiêu chuẩn của pháp luật quốc tế là để đại diện, bảo vệ cho các quyền và lợi ích của người lao động tại doanh nghiệp mà họ làm việc thông qua các hình thức tương tác được quy định trong pháp luật bao gồm đối thoại, thương lượng tập thể, đình công và các hành động tập thể khác trong quan hệ lao động. Các tổ chức của người lao động không được phép tiến hành bất cứ hoạt động nào có khả năng xâm hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội cũng như không được tham gia bất cứ hoạt động nào ngoài tôn chỉ mục đích đã đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Xây dựng mô hình pháp luật về lao động phù hợp ở Việt Nam
Trả lời

Từ ngày Bộ luật Lao động (BLLĐ) có hiệu lực đến nay (01/01/1995), một môi trường pháp lý mới về lao động đã được thiết lập. Hệ thống các văn bản pháp luật lao động ngày càng được bổ sung, hoàn thiện đã góp phần quan trọng vào việc định hướng chính sách, hướng dẫn hành động và từng bước thiết lập kỷ cương trên thị trường lao động cũng như trong hoạt động quản lý nhân lực, đồng thời là những căn cứ pháp lý chủ yếu để áp dụng giải quyết các tranh chấp lao động, những phát sinh trong quá trình lao động…

Nhìn lại quá trình hình thành và phát triển hệ thống pháp luật về lao động, có thể thấy rằng, BLLĐ cũng như nhiều bộ luật khác là sản phẩm của quan niệm truyền thống coi pháp điển hóa là một hoạt động lập pháp với kết quả cuối cùng là một VBQPPL mới được ban hành có mức độ tổng hợp, khái quát cao thường được gọi là các Bộ luật. Đây đã từng trở thành một xu hướng ở nước ta trong thập niên cuối của thế kỷ trước. Việc pháp điển nhiều quy phạm riêng lẻ, lộn xộn trong nhiều văn bản quy phạm có giá trị pháp lý thấp vào một đạo luật của Quốc hội, đặc biệt lại là một Bộ luật với những phần, chương, mục đồ sộ nhằm mục đích xây dựng được một hệ thống pháp luật thống nhất, khoa học và ổn định. Về phương án lựa chọn ban hành bộ luật hay đạo luật chuyên ngành, qua nghiên cứu thấy rằng, chúng ta không thể phủ nhận giá trị lớn mà BLLĐ đem lại trong việc tạo ra một hệ thống các khái niệm, thuật ngữ, những nguyên tắc chung trong QHLĐ mang tính thống nhất, ổn định và là tiêu chuẩn cho tất cả các đạo luật chuyên ngành về QHLĐ. Đồng thời, cũng thấy rõ việc ban hành các luật chuyên ngành về từng lĩnh vực của QHLĐ lại đáp ứng được yêu cầu về tính chuyên sâu, điều chỉnh cụ thể, chi tiết, tránh tình trạng luật khung, luật ống, tốn kém thời gian cho việc xây dựng, dự thảo như Bộ luật đồ sộ. Nghĩa là dù tồn tại dưới hình thức Bộ luật hay luật, thì những VBQPPL này đều có giá trị nhất định đối với việc điều chỉnh các quan hệ xã hội về lao động.

Hiện nay, việc tiếp tục kết hợp Bộ luật tổng hợp với các đạo luật chuyên ngành đang là cần thiết. Bởi lẽ, với vai trò là một Bộ luật chung, BLLĐ sẽ thiết lập và duy trì một hệ thống khái niệm, thuật ngữ, những nguyên tắc chung đặt nền móng cho việc xây dựng các đạo luật chuyên ngành trong trường hợp cần thiết. Các đạo luật chuyên ngành được xây dựng đáp ứng nhu cầu quản lý Nhà nước, quản lý xã hội trên cơ sở những giá trị chung nhất mà BLLĐ đã khẳng định, nhằm bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật về lao động, đồng thời mỗi đạo luật chuyên ngành cũng có thể được xây dựng ngắn gọn, cô đọng, cụ thể, chi tiết hơn mà không phải nhắc lại, dẫn chiếu lại những nội dung đã được quy định trong BLLĐ. Để rút ngắn quá trình xây dựng văn bản luật, có thể xem xét áp dụng phương pháp một luật sửa nhiều luật đối với những nội dung có liên quan chặt chẽ đến nhau thuộc các văn bản luật khác nhau mà việc sửa đổi nội dung này sẽ dẫn đến thay đổi nội dung tương ứng ở văn bản khác. Vì vậy, chúng tôi tán thành với quan điểm trước mắt cần sửa đổi cơ bản BLLĐ hiện hành nhằm điều chỉnh các nội dung chung pháp luật về lao động và QHLĐ, đồng thời nghiên cứu xem xét khả năng ban hành một số đạo luật chuyên ngành để quy định chuyên sâu một số vấn đề như tiền lương, việc làm, vệ sinh, an toàn lao động… Tuy nhiên, việc ban hành các văn bản này phải phù hợp với xu thế chung là cần phải quy định chi tiết, cụ thể tối đa; giảm dần việc ban hành thông tư, nghị định.

Về dài hạn, cần nghiên cứu xây dựng mô hình Bộ pháp điển về từng lĩnh vực như đã được xác định tại Luật Ban hành VBQPPL năm 2015. Khác với quan niệm truyền thống coi pháp điển hóa là một hoạt động lập pháp với kết quả cuối cùng là một VBQPPL mới được ban hành có mức độ tổng hợp, khái quát cao thường được gọi là các Bộ luật, luật như đã nêu ở trên, Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 đã đặt nền móng cho một quan niệm pháp điển hóa tiếp cận hoàn toàn dưới góc độ kỹ thuật, coi pháp điển hóa không phải là việc xây dựng những bộ luật lớn mà chính là việc thu thập, tổ chức, công bố, cập nhật liên tục toàn bộ các QPPL đang có hiệu lực thi hành trong một Bộ pháp điển được sắp xếp theo chủ đề. Trên cơ sở đó, các cơ quan có trách nhiệm ở nước ta đã tiến hành thí điểm Bộ pháp điển về tổ chức, hoạt động của Quốc hội và Bộ pháp điển về quyền sở hữu trí tuệ. Theo một số chuyên gia, phương pháp tiếp cận pháp điển hóa dưới góc độ kỹ thuật sẽ giúp giải quyết một số vấn đề như: Ít tốn kém cả về thời gian, công sức và tiền của so với việc xây dựng các bộ luật lớn; Có tính khả thi so với mặt bằng trình độ làm luật chung ở thời điểm hiện nay vì ít đòi hỏi sự can thiệp, chỉ đạo của các cơ quan làm chính sách; Bảo đảm tính linh hoạt, dễ cập nhập và nhanh chóng thích nghi, phù hợp với điều kiện hạ tầng xã hội vẫn đang biến chuyển liên tục như hiện nay.

 

Quy định về mua bán nhà đất chỉ có giấy viết tay được cấp sổ đỏ
Trả lời
Từ ngày 03/03/2017, những trường hợp mua bán nhà đất chỉ có giấy viết tay trước đây cũng có thể được giải quyết cấp sổ đỏ. Đây là một trong những điểm mới của Nghị định số 01/2017/NĐ – CP sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật đất đai, có hiệu lực từ ngày 03/03/2017.
 
Một trong những điểm mới trong nghị định 01 là những quy định tháo gỡ cho các trường hợp mua bán nhà đất chỉ có giấy tờ viết tay trước đây cũng được xem xét cấp sổ đỏ. Cụ thể, nghị định quy định người dân đang sử dụng đất do nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho từ ngày 01/01/2008 đến trước ngày 01/07/2014 (ngày Luật đất đai 2013 có hiệu lực), có giấy tờ về quyền sử dụng đất, được cấp sổ đỏ lần đầu mà không phải làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất.  
 
Tương tự, trường hợp người dân đang sử dụng đất do nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho từ trước ngày 01/01/2008, sử dụng đất do nhận thừa kế trước ngày 01/07/2014 (không có các giấy tờ về quyền sử dụng đất) cũng được cấp sổ đỏ mà không bị buộc phải làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất. Các cơ quan tiếp nhận hồ sơ không được yêu cầu người nhận chuyển nhượng phải nộp các hợp đồng, văn bản chuyển quyền sử dụng đất theo quy định.
Về thời hạn thực hiện thủ tục đăng ký, cấp sổ đỏ, Nghị định 01 cũng có những thay đổi tích cực theo hướng rút ngắn thời gian thực hiện cấp sổ đỏ. Cụ thể, thời gian thực hiện thủ tục đăng ký, cấp sổ đỏ cho cá nhân, tổ chức được quy định tối đa là 15 ngày, quy định cũ 30 ngày.
Trường hợp thực hiện đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền trên đất; xử lý hợp đồng thế chấp, góp vốn; kê biên bán đấu giá tài sản được quy định không quá 10 ngày, quy định cũ không quá 15 ngày. Việc cấp lại sổ đỏ cho các trường hợp bị mất không quá 10 ngày, quy định cũ không quá 30 ngày.
Thời gian thực hiện thủ tục đăng ký biến động do đổi tên người sử dụng đất hoặc thay đổi về hình dạng, kích thước, diện tích, số hiệu, địa chỉ thửa đất hoặc thay đổi về nghĩa vụ tài chính được rút ngắn còn 10 ngày, quy định cũ 15 ngày.
Được biết, với quy định tại Nghị định này, các trường hợp mua bán nhà đất chỉ có giấy tờ viết tay sẽ được làm thủ tục đăng ký, đề nghị cấp sổ đỏ luôn mà không cần phải làm thủ tục chuyển nhượng như trước đây.
Theo Luật đất đai 2013, người đang sử dụng đất đều có quyền đăng ký, đề nghị được cấp sổ đỏ. Tuy nhiên, theo quy định cũ, các trường hợp đã chuyển nhượng, cho tặng chỉ có giấy tờ viết tay, khi xem xét cấp sổ đỏ phải làm thêm thủ tục về chuyển nhượng.
Quy định cũ như vậy cũng phát sinh một số vướng mắc. Với những trường hợp mua bán nhà đất trước đây chỉ có giấy tờ viết tay, đôi khi có một số trường hợp không thể tìm được người đã chuyển nhượng cho mình để làm các thủ tục chuyển nhượng. Mặt khác những trường hợp khi mua bán nhà đất chỉ có giấy tờ viết tay, khi làm thủ tục đề nghị cấp sổ đỏ, dù tìm được bên chuyển nhượng cho mình nhưng cũng có trường hợp bên chuyển nhượng không hợp tác để làm thủ tục chuyển nhượng.
Có thể thấy một trong những điểm mới mấu chốt được tháo gỡ của Nghị định số 01/2017/NĐ-CP là những trường hợp đó không phải làm thủ tục chuyển nhượng nữa. Chỉ cần có những giấy tờ mua bán viết tay trước đây để làm thủ tục đăng ký và đề nghị cấp sổ đỏ luôn chứ không phải làm thêm thủ tục chuyển nhượng. Còn trình tự thủ tục vẫn thực hiện như quy định trước đây. Điều này thể hiện ưu điểm rõ rệt so với các quy định cứng nhắc trước đây gây khó khăn cho một số bộ phận không nhỏ người sở hữu nhà đất ở viết tay trong quá trình chuyển nhượng cho người khác.
                                                                                                                       (Theo Xuân Long – Tuổi trẻ Online)
Thị trường bất động sản dưới tác động của nhiều chính sách lớn
Trả lời
Luật kinh doanh bất động sản 2014 chính thức có hiệu lực vào 01/07/2015 và hàng loạt các tác động của các chính sách lớn của Chính phủ như việc hạn chế tín dụng bất động sản được thực hiện theo lộ trình đến năm 2018, hay kết thúc gói vay ưu đãi 30.000 tỉ đồng cho người thu nhập thấp, công bố thông tin các dự án đang thế chấp ngân hàng biến động của xu hướng bất động sản trên thế giới đã đã có nhiều tác động mạnh tới thị trường bất động sản trong thời gian tới.
1. Siết tín dụng vào bất động sản
Giữa tháng 06/2016, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) ban hành Thông tư 06 nhằm sửa đổi Thông tư 36 quy định về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng. Theo đó, hệ số rủi ro trong kinh doanh bất động sản được nâng từ 150% lên mức 200%; tỷ lệ sử dụng vốn huy động ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn được giảm từ 60% xuống còn 50% từ ngày 01/01/2017, và từ ngày 01/01/2018 sẽ xuống 40%.
Thông tư 06 được đánh giá là sự điều chỉnh kịp thời của NHNN khi tín dụng ngân hàng đang rót mạnh vào các dự án bất động sản, đặc biệt là hiện tượng tập trung vốn cho một số dự án lớn. Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng, đây đồng thời là một cú sốc lớn cho thị trường. Nó sẽ làm chi phí vốn trong kinh doanh bất động sản tăng cao hơn, các doanh nghiệp phải cân nhắc việc đầu tư. Còn người mua thì khi khó tiếp cận tín dụng hơn, họ sẽ giảm nhu cầu mua đầu tư hay có thể là cả mua để ở.
2. Kết thúc gói tín dụng ưu đãi 30.000 tỉ đồng
Gói tín dụng ưu đãi 30.000 tỉ đồng ra đời năm 2013 dành 70% hỗ trợ cho người mua nhà ở xã hội, nhà ở thương mại có giá dưới 1,05 tỉ đồng/căn và dành 30% hỗ trợ cho các dự án nhà ở xã hội đã chính thức kết thúc vào 31/12/2016. Chính sách này đã giúp giải quyết hàng tồn kho, nợ xấu, hỗ trợ người có thu nhập trung bình, có thu nhập thấp đô thị có nhà ở, và đã góp phần giúp thị trường bất động sản phục hồi và tăng trưởng trở lại kể từ cuối năm 2013 cho đến nay
Theo Hiệp hội bất động sản TPHCM (HoREA), sau 3 năm triển khai, đến hết tháng 11/2016, đã giúp khoảng 56.000 người trên cả nước tạo lập được nhà ở, và đã giải ngân được gần 30.000 tỉ đồng. Tuy nhiên, việc chấm dứt gói tín dụng ưu đãi này cũng đã có tác động tiêu cực làm cho người có thu nhập thấp đô thị khó tiếp cận nhà ở, và cũng tác động đến phân khúc thị trường nhà ở vừa túi tiền. Thị trường đang mong chờ nguồn vốn tín dụng mới, trong khi đó, theo Nghị định 100 về chính sách nhà ở xã hội, Chính phủ đã quyết định mức lãi suất cho vay mua nhà ở xã hội tại Ngân hàng Chính sách xã hội là 4,8%/năm được thực hiện đến ngày 31-12-2016, thì đến nay vẫn chưa có nguồn vốn vay ưu đãi nào được bố trí.
3. Công bố các dự án thế chấp ngân hàng
Khởi đầu từ vụ việc chung cư Harmona (quận Tân Bình, TPHCM) chậm trả nợ vay và bị ngân hàng siết nợ khiến hàng trăm cư dân rơi vào tình trạng mất nhà, dư luận từ đó đã yêu cầu cơ quan chức năng phải công bố thông tin về các dự án thế chấp ngân hàng. Giữa tháng 07/2016, Sở Tài nguyên Môi trường TPHCM đã công bố danh sách 77 dự án bất động sản đang thế chấp ngân hàng. Đây là lần đầu tiên cơ quan quản lý công khai tình trạng của các dự án để người dân nắm rõ, tránh bị lừa khi mua nhà. Ngay sau đó, Hà Nội cũng cũng tiến hành công bố danh sách dự án thế chấp tương tự TPHCM.
Việc công bố thông tin này được xem là một cú sốc lớn cho thị trường địa ốc khi nhiều dự án lớn cũng có tên trong danh sách. Các doanh nghiệp lo ngại thị trường nhà chung cư sẽ bị sụt giảm nghiêm trọng khi danh sách này được công bố. Nhiều chủ đầu tư đã phải lên tiếng giải thích cho người mua nhà vì hầu hết khách hàng ngộ nhận rằng dự án đang thế chấp tức là năng lực chủ đầu tư có vấn đề, tài sản của họ đang bị đe dọa. Một số doanh nghiệp khác phản ánh việc đã rút tài sản thế chấp nhưng vẫn có tên trong danh sách. Các chuyên gia cho rằng cần có sự phối hợp giữa các sở, ngành liên quan, nhằm công bố các dự án thế chấp đầy đủ, cập nhật và khách quan.
4. Nghiên cứu việc đánh thuế ngôi nhà thứ 2
Cuối tháng 10, Bộ Tài chính đưa ra đề xuất đánh thuế ngôi nhà nhà thứ hai trở đi đối với những người sở hữu nhiều bất động sản nhằm ngăn ngừa đầu cơ, giảm thiểu rủi ro cho thị trường bất động sản. Theo đó, từ năm 2016-2020 Bộ Tài chính sẽ xây dựng luật thuế đánh trên người sở hữu nhiều nhà ở nhằm mục đích ngăn ngừa đầu cơ nhằm giảm thiểu rủi ro trên thị trường bất động sản.
Giới chuyên gia địa ốc cho rằng, sắc thuế này sẽ phòng chống đầu cơ, giúp thị trường phát triển bền vững, tránh bong bóng, và tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Trong khi một số khác nhận định việc áp thuế tại thời điểm này là không phù hợp khi thị trường đang rất cần sự hỗ trợ của chính sách sau nhiều năm trầm lắng. Tuy nhiên, việc áp dụng sắc thuế này tại khá phức tạp và cần phải xem xét nhiều khía cạnh, trong đó có cập nhật hạ tầng thông tin, giám sát, quản lý thông tin… Các chuyên gia đánh giá, nhiều khả năng năm 2017 sẽ chưa áp dụng sắc thuế này.
5. Biến động của Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương
Việc Mỹ có thể rút khỏi Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) được xem là một trong những nhân tố bất định có thể ảnh hưởng sâu rộng đến thị trường bất động sản Việt Nam. Suốt năm 2016, lệch pha cung cầu trên thị trường địa ốc tại các thành phố lớn trên cả nước nghiêng hẳn về phân khúc hàng hóa cao cấp được xem là hệ quả của làn sóng đi tắt đón đầu cơ hội TPP.
Chính vì vậy, ngay khi tiếp nhận chuyển giao quyền lực từ Tổng thống Obama, Donald Trump không loại trừ khả năng Mỹ có thể rút khỏi Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đã để ngỏ ẩn số tác động đến nhiều phân khúc thị trường bất động sản Việt Nam.
Các chuyên gia dự báo, sự vắng mặt của Mỹ trong hiệp định thương mại này sẽ ảnh hưởng tới sự chuyển dịch dòng vốn đầu tư, chuyển dịch sản xuất vào Việt Nam. Kế đến sẽ tác động trực tiếp đến thị trường bất động sản trong trung hạn và dài hạn. Trước mắt, TPP có thể làm thay đổi nguồn cầu bất động sản nhà ở cao cấp, nghỉ dưỡng, khu công nghiệp, văn phòng tại các đô thị lớn./.
                                                                                                           Theo Cao Ban – Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online
 
Thị trường Bất động sản – Bức tường thành nào ngăn cản làn gió mát lan tỏa?
Trả lời

Thị trường địa ốc đón nhận làn gió mới nhờ những tiến bộ của Luật Nhà ở 2014 về việc mở rộng hành lang pháp lý cho người nước ngoài và Việt kiều mua nhà tại Việt Nam. Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn còn những “bức tường thành” ngăn làn gió ấy lan tỏa ra mọi ngõ ngách của thị trường.

Luật Nhà ở 2014 đã mở rộng cho người nước ngoài, Việt kiều không những được sở hữu căn hộ chung cư, mà còn có thể là nhà ở riêng lẻ thay vì trước đây, họ chỉ có thể mua chung cư. Đây là bước chuyển quan trọng để thu hút nguồn vốn ngoại cho thị trường bất động sản. Quy định này còn giải quyết các bài toán về kinh tế – xã hội khi người nước ngoài, kiều bào có cơ hội kinh doanh, đầu tư lâu dài tại Việt Nam.

Nếu người nước ngoài ở Indonesia phải có thị thực và giấy phép làm việc tại Indonesia mới được sở hữu hợp pháp nhà ở thì pháp luật Việt Nam dễ dàng hơn về điều kiện sở hữu nhà ở. Theo đó, chỉ cần nhập cảnh hợp pháp là cá nhân đã có thể mua nhà ở.

Hơn nữa, người nước ngoài có thể chuyển nhượng, bán, tặng cho, để thừa kế nhà ở của mình. Người nước ngoài, Việt kiều cũng không cần phải sinh sống tối thiểu ở Việt Nam một khoảng thời gian nhất định mới có quyền mua nhà. Luật Nhà ở 2014 không chỉ mở rộng về đối tượng, loại nhà ở được phép sở hữu, mà còn mở rộng cả về các quyền của chủ sở hữu.

Tuy nhiên, người nước ngoài bị giới hạn về số lượng nhà được phép sở hữu, thời gian sở hữu nhà và không được mua nhà ở các khu vực quốc phòng – an ninh. Nhưng nếu người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc người nước ngoài kết hôn với công dân Việt Nam thì được sở hữu nhà ở ổn định, lâu dài và có các quyền của chủ sở hữu nhà ở như công dân Việt Nam.

Một số “Nút thắt” cần gỡ

Vấn đề thứ nhất là một số quy định chưa rõ ràng và cụ thể về điều kiện như quy định người nước ngoài chỉ được sở hữu không quá 30% tổng số căn hộ để ở của một tòa nhà chung cư. Cụ thể, nếu là nhà ở riêng lẻ, gồm nhà biệt thự, nhà ở liền kề, nhà ở độc lập, tại một khu vực có số dân tương đương một đơn vị hành chính cấp phường, thì tổ chức, cá nhân nước ngoài được sở hữu số lượng nhà ở không quá 10% tổng số nhà ở riêng lẻ và không vượt quá 250 căn nhà. Nếu không thuộc đối tượng được phép thừa kế nhà ở tại Việt Nam hoặc sở hữu vượt quá giới hạn trên thì người nước ngoài chỉ được phép nhận giá trị căn nhà.

Vấn đề là tại thời điểm giao dịch, người nước ngoài, Việt kiều không dễ để biết được số lượng căn hộ có thể mua trong khu vực dự án, hay xác minh tính chính xác của thông tin này từ phía chủ đầu tư do các chủ đầu tư luôn cố gắng chạy đua, chào mời để bảo đảm doanh số. Đó là chưa kể có chủ đầu tư còn giấu thông tin, không đáp ứng các điều kiện luật định. Do rào cản ngôn ngữ và thiếu am hiểu luật pháp nên người mua nhà không có đủ công cụ để thẩm định pháp lý.

Hơn nữa, không đơn giản để xác định cụ thể các khu vực cần bảo đảm an ninh, quốc phòng tại từng địa phương. Các địa phương chưa có căn cứ xác định cụ thể các dự án đầu tư xây dựng nhà ở thương mại trên địa bàn không cho phép tổ chức, cá nhân nước ngoài được quyền sở hữu nhà ở theo quy định tại Nghị định 99/2015/NĐ-CP hướng dẫn Luật Nhà ở 2014. Đây cũng là nguyên nhân khiến các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản và người mua nhà, nhất là Việt kiều, người nước ngoài đang rất lưỡng lự tiến hành giao dịch ở một số khu vực. Về vấn đề trên, Bộ Xây dựng cũng đã có công văn đề nghị Bộ Công an, Bộ Quốc phòng sớm ban hành văn bản hướng dẫn thực thi chi tiết cho người mua nhà.

Vấn đề thứ ba là các thủ tục xác minh nguồn gốc, nhân thân Việt kiều để được hưởng các quyền và nghĩa vụ như người Việt Nam khi muốn mua nhà tại Việt Nam.

Việc chứng nhận nguồn gốc người Việt do 3 cơ quan phối hợp thực hiện là: Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài và Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cấp cho người Việt Nam ở nước ngoài.

Thực tế, nhiều người không thể thu thập đủ các hồ sơ, thủ tục theo quy định để đáp ứng các điều kiện này do các nguyên nhân chủ quan và khách quan của lịch sử. Để tạo thuận lợi và đáp ứng các nhu cầu chính đáng của nhóm đối tượng Việt kiều này, các cơ quan chức năng liên quan cần có hướng dẫn chi tiết, mở rộng hơn.

Việc chứng minh nguồn “tiền sạch” như thế nào cũng là vấn đề cơ quan chức năng cần hướng dẫn cụ thể, chứ không thể để trống như hiện tại. Về vấn đề này, pháp luật và chính sách cần có cơ chế thuận lợi về hoạt động chuyển tiền từ nước ngoài về Việt Nam.

Người nước ngoài khi mua nhà ở Việt Nam cũng có nhu cầu vay vốn, tiếp cận tín dụng bằng thế chấp một cách dễ dàng từ tài sản sở hữu đó. Do tính đặc thù của hoạt động ngân hàng và Bất động sản ở thị trường Việt Nam, một số ngân hàng có chính sách hỗ trợ cho người nước ngoài vay vốn mua nhà nhưng vẫn còn tâm lý e ngại. Chính phủ cũng nên mở rộng cơ chế để người nước ngoài có thể vay thế chấp để mua nhà ở, nhưng vẫn cần cân nhắc các điều kiện để đảm bảo khả năng tài chính tại Việt Nam.

Vấn đề thứ tư là việc thực hiện các thủ tục hành chính liên quan. Vẫn còn các quy định chưa cụ thể, rõ ràng dù Chính phủ và các cơ quan nhà nước đã có nhiều cố gắng trong công cuộc cải cách hành chính, cải thiện chất lượng dịch vụ công. Khi nào người nước ngoài, Việt kiều có thể tự mình tiếp cận thông tin, thủ tục một cách minh bạch, dễ dàng thì khi đó nhu cầu mới được đáp ứng trọn vẹn.

Hướng giải quyết ở đâu?

Hướng giải quyết đầu tiên phải là cơ chế phối hợp thực thi thống nhất. Các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, cũng như từ những người mua nhà là Việt kiều, người nước ngoài cần phải có sự phối hợp. Với các bất cập, khó khăn trong quá trình thực hiện chính sách, sự phản hồi 2 chiều đối sẽ giúp các cơ quan nhà nước hiểu rõ và nhìn ra các quy định cần sửa đổi cho phù hợp.

Ngoài ra, các cơ quan chức năng cần tăng cường chính sách bảo vệ quyền lợi của người mua nhà là người nước ngoài, Việt kiều như với công dân Việt Nam, đồng thời cần có những biện pháp hướng dẫn những điểm chưa rõ ràng trong các văn bản liên quan. Chẳng hạn, các Bộ liên quan cần ban hành thông tư liên tịch xác định rõ các khu vực cần đảm bảo an ninh quốc phòng, công bố thông tin, số lượng các căn hộ có thể được sở hữu… hướng dẫn thực thi Luật Nhà ở về vấn đề này. Theo đó, người mua nhà, nhất là Việt kiều, người nước ngoài có thể dễ dàng tìm hiểu và nắm được tại thời điểm quyết định giao dịch.

Cần thực hiện các cải cách thủ tục hành chính một cách nghiêm túc, triệt để. Đồng thời, tăng cường giám sát, kiểm tra các hoạt động của các cán bộ, cơ quan nhà nước. Hiện nay, nạn nhũng nhiễu, ngâm hồ sơ tại các cơ quan chức năng đã được giảm đáng kể nhờ thực hiện các thủ tục hành chính qua mạng. Trong tương lai, cần đẩy mạnh hơn các cải cách góp phần minh bạch và rút ngắn thời gian thực hiện các thủ tục hành chính.

Kết lại vấn đề này, đã có những chuyển biến trong hành lang pháp lý cho người nước ngoài, Việt kiều. Ở góc nhìn tích cực, cơ chế không chỉ tạo điều kiện cho người nước ngoài, Việt kiều mà còn là cả các doanh nghiệp bất động sản đầu tư vào phân khúc khách hàng này. Để thiết lập cơ chế rõ ràng để thị trường phát triển, hướng tới sự đảm bảo về cam kết với quyền sở hữu cho họ, Chính phủ cần có những bước tiến mạnh mẽ hơn. Cụ thể là cần tiến tới ban hành một Nghị định riêng hướng dẫn chi tiết Luật Nhà ở 2014 cho việc sở hữu, kinh doanh nhà của người nước ngoài và Việt kiều trong thời gian tới.

                                                                                                                           (Theo Đầu tư chứng khoán Online)